CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về loài sán lá gan lớn 1. Vị trí phân loại sán lá gan lớn trong hệ thống phân loại động vật Theo Skarjabin cs. Đặc điểm hình thái học của sán lá gan lớn Fasciola sp Cũng như nhiều loài sán lá khác, sán lá gan lớn thuộc dạng sinh sản lưỡng tính có thể thụ tinh chéo hoặc tự thụ tinh.
Sán lá có giác miệng và giác bụng, giác bụng không nối với cơ quan tiêu hóa. Sán lá không có hệ hô hấp, tuần hoàn và cơ quan thị giác, ở giai đoạn mao ấu có dấu vết sắc tố mắt. Hệ sinh dục rất phát triển với cả hệ sinh dục đực và cái trong cùng một cơ thể, tử cung sán lá chứa đầy trứng (Hình 1. Có thể phân biệt 2 loài sán lá gan thuộc giống Fasciola như sau: - Loài F.gigantica (Cobbold, 1885): Có chiều dài gấp 3 lần chiều rộng, vai không có hoặc không nhìn rõ rệt, nhánh ruột chia tỏa ra nhiều nhánh ngang.gigantica (có nghĩa là sán khổng lồ), có kích thước chiều dài 25 – 75mm, chiều rộng 3 – 12mm, u lồi hình nón của đầu là phần tiếp theo của thân, vì vậy nó không c 4 có vai như loài khác của giống Fasciola, hai rìa bên thân sán lá song song với nhau, đầu cuối của thân tù.
Giác bụng tròn lồi ra. Ruột, tuyến noãn hoàng, buồng trứng và tinh trùng đều phân nhánh. Trứng hình bầu dục, màu vàng nâu, phôi bào to đều và xếp kín vỏ. Kích thước trứng 0,125 – 0,170 × 0,06 – 0,10mm (Hình 1.
Hình ảnh mô tả hình thái của sán lá gan lớn Fasciola sp A. Fasciola gigantica ; B : Fasciola hepatica [71] - Loài F. hepatica (Linnaeus, 1758): loài này thân rộng, đầu lồi và nhô ra phía trước làm cho sán có vai, nhánh ruột chia ít nhánh ngang hơn. hepatica (nghĩa là sán ở gan) dài 18 – 51mm, rộng 4 - 13mm, phần trước thân nhô ra tạo cho sán có vai bè ra hai bên.
Hai rìa thân sán không song song với nhau mà phình ra ở chỗ vai rồi thót lại ở đoạn cuối thân. Những ống dẫn tuyến noãn hoàng chạy ngang, chia vùng giữa của sán lá thành phần trước và phần sau của thân. Phần sau thân có tinh hoàn và bộ phận sinh dục đực. Tinh hoàn phân nhiều nhánh xếp chỗ sau thân.
Tử cung ở phần giữa thân trước tạo nên một mạng lưới rối như tơ vò. Buồng trứng phân nhánh nằm ở sau tử cung. hepatica có màu sắc, hình thái tương tự như trứng của loài F.gigantica, kích thước 0,13 – 0, 145 × 0,07 – 0,09mm (Hình 1. Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của sán lá.
Chu kỳ sinh học của sán lá Fasciola đã được Leukart (1882) nghiên cứu ở Đức và Thomas (1882) nghiên cứu ở Anh. Chu kỳ sinh trưởng và phát triển (vòng đời) của SLGL Fasciola sp được trình bày ở Hình 1. Người hoặc động vật ăn phải ấu trùng Sán lá gan lớn ký sinh ở người hoặc động vật Hình 1. Chu kỳ sinh trưởng và phát triển của SLGL Fasciola sp ký sinh vật chủ ở động vật và người [71] Quá trình Fasciola sp trưởng thành sinh sống trong ống dẫn mật của trâu, bò, dê.
Sau khi thụ tinh mỗi sán lá đẻ hàng chục vạn trứng. Những trứng này cùng dịch mật vào ruột, sau đó theo phân ra ngoài. Nếu gặp được điều kiện thuận lợi như nước mưa cuốn trôi xuống các vũng nước, ao, hồ, ruộng nước ở nhiệt độ 15 – 300C, pH = 5 - 7,7, có điều kiện ánh sáng thích hợp thì sau 10 – 25 ngày trứng nở thành miracidium bơi tự do trong nước. Nếu thiếu ánh sáng miracidium không có khả năng thoát vỏ nhưng vẫn có thể tồn tại 8 tháng trong vỏ.
Miracidium có hình tam giác, xung quanh thân có lông và có thể di chuyển được trong nước. Khi gặp vật chủ trung gian thích hợp (ốc Lymnaea sp). Miracidium xâm nhập vào tế bào ốc c 6 và phát triển thành bào ấu (Sporocyst). Những miracidium không gặp vật chủ trung gian thì sẽ rụng lông, rữa dần và chết.
Bào ấu (Sporocyst) hình túi, màu sán lá được bao bọc bởi lớp màng mỏng, các tế bào ngọn lửa hoạt động thành hình hầu, ống ruột và các đám phôi. Trong 1 ốc có thể có 1 - 2 ấu trùng. Khoảng 3 – 7 ngày, bào ấu sinh sản vô tính cho ra nhiều redia (lôi ấu). Một bào ấu sinh ra 5 – 15 lôi ấu.
Redia hình suốt chỉ, ít hoạt động, có miệng, hầu, ruột, hình túi đơn giản. Có 2 hệ: Redia thế hệ I và redia thế hệ II cùng phát triển trong ốc – vật chủ trung gian. Ở nhiệt độ 160C hoặc thấp hơn, lôi ấu chỉ sinh sản Redia I và dừng phát triển, ở nhiệt độ thích hợp (20 – 300C), sau 29 – 35 ngày, lôi ấu biến thành vĩ ấu (cercaria). Một redia có thể sinh ra 12 – 20 cercaria.
Cercaria (vĩ ấu) là ấu trùng sống ở pha sống tự do của sán lá gan, có cấu tạo thân hình tròn lệch, đuôi dài hơn thân giúp vĩ ấu di chuyển dễ dàng trong nước. Cấu tạo của vĩ ấu gồm giác miệng, giác bụng, hầu, thực quản và ruột phân thành 2 nhánh. Theo Giniecisz – Kaija (1960), trong cơ thể cercaria có những dạng glycogen cung cấp năng lượng cho hoạt động sống của ấu trùng, đặc biệt là cho sự vận động không ngừng của đuôi. Đuôi là cơ quan vận động của vĩ ấu.
Theo một số tác giả đuôi làm nhiệm vụ thay đổi vị trí của ấu trùng tronh môi trường nước. Nhờ sự hoạt động tích cực của đuôi mà vĩ ấu tiếp cận để bám vào các cây thủy sinh, tạo thành kén (Adolescaria). Từ khi miracidium chui vào ốc đến khi phát triển thành cercaria cần khoảng thời gian 50 – 80 ngày. Sau khi phát triển thành thục, cercaria thoát khỏi vỏ ốc, ra môi trường bên ngoài, bơi tự do trong nước, có kích thước 0,28 mm– 0,30 mm chiều dài và 0,23 mm chiều rộng.
Sau vài giờ bơi trong nước, cercaria rụng đuôi tiết chất nhầy xung quanh thân nếu gặp không khí khô rất nhanh, lúc này cercaria đã biến thành adolesscaria. Adolescaria hình khối tròn, bên trong chứa phôi hoạt động, phôi có giác miệng, giác bụng, ruột phân nhánh và túi bài tiết, adolescaria thường ở trong nước hoặc bám vào cây cỏ thủy sinh. Nếu trâu, bò, nuốt phải adolescaria vào đến dạ c 7 dày và ruột, lớp vỏ ngoài được phân hủy, ấu trùng được giải phóng và di chuyển đến ống mật bằng 3 con đường. - Một số ấu trùng dùng tuyến xuyên qua niêm mạc ruột, vào tĩnh mạch ruột, qua tĩnh mạch vào gan, xuyên qua nhu mô vào ống mật.
- Một số ấu trùng khác cũng dùng tuyến xuyên chui qua thành ruột vào xoang bụng đến gan, xuyên qua vỏ gan vào ống mật. - Một số ấu trùng từ tá tràng, ngược dòng dịch mật để lên ống dẫn mật. Sau khi vào ống dẫn mật, ấu trùng kí sinh ở đó và phát triển thành sán lá gan trưởng thành. Theo Skerman (1966), thời gian hoàn thành vòng đời là 9 – 117 ngày.
Fasciola trưởng thành có thể kí sinh trong ống dẫn mật của trâu bò 3 – 5 năm, có khi tới 11 năm. Theo Phan Địch Lân [13], tác giả sách Bệnh ngã nước trâu bò, NXB Nông nghiệp Hà Nội cho biết, khoa học thú y nước ta đã nghiên cứu thành công vòng đời của sán lá gan trong điều kiện nhiệt độ thích hợp (28-300C) có ốc vật chủ trung gian là Lymnae swinhoei và Lymnae viridis, vật chủ cuối cùng (trâu, bò, dê, cừu) thì vòng đời sán lá gan ở nước ta được xác định với các mức thời gian sau: - Ở ngoài thiên nhiên:trứng sán lá gan phát triển thành mao ấu (Miracidium) trong khoảng 14 -16 ngày. - Ở trong ốc vật chủ trung gian: mao ấu (Miracidum) phát triển thành lôi ấu (Redia) cần 8 – 21 ngày. Lôi ấu (Redia) phát triển thành vĩ ấu (cercaria) non cần 7 – 14 ngày, thành vĩ ấu trưởng thành 13 – 14 ngày.
- Ở ngoài ốc vật chủ trung gian: vĩ ấu phát triển thành kén (Adolescaria) sau 2 giờ. - Ở trâu, bò: Khi trâu, bò, bê nghé nuốt phải adolescaria, sau 79 – 88 ngày trong ống dẫn mật của trâu bò đã có sẵn sán lá gan trưởng thành đẻ trứng theo phân ra ngoài. Điều kiện nhiệt độ và độ ẩm của nước ta rất thuận lợi cho sự nhiễm và gây bệnh sán lá gan (kế cả gây nhiễm và nhiễm tự nhiên). Ở những vùng có mầm bệnh tồn tại, trung bình 3 tháng sán lá gan lại hoàn thành vòng đời trong cơ thể trâu, bò, nghĩa là trâu cứ trong vòng 3 tháng lại sản sinh ra một đời sán lá gan mới, gây c 8 tình trạng bội nhiễm sán lá gan, vì vậy cường độ nhiễm tăng lên theo tuổi thọ trâu, bò.
Trứng sán lá gan lớn Hình thái: trứng SLGL có kích thước lớn nhất trong các loài sán lá, trứng có màu vàng, hình elip đối xứng qua trục dọc, vỏ có nắp ở một đầu (Hình 1. Kích thước: trứng sán lá gan có kích thước trung bình (140-172,3 × 80- 89,6) µm, dao động (130-150 x 60-90) μm có khi tới 152-198 x 72-94 μm [Tomimura, Nishitani. Trứng SLGL có phổ dao động kích thước rộng là do chúng tồn tại dưới 2 thể: nhị bội (diploid form) và tam bội (triloid form). Sức đề kháng của trứng: Trứng sán lá gan được thải theo phân động vật mắc bệnh ra ngoài môi trường ngoại cảnh.
Trứng rất nhảy cảm với môi trường khô hạn và tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời. Ở trong phân khô, phôi ngừng phát triển và trứng sẽ chết sau 8 – 9 ngày. Hình ảnh của trứng sán lá gan lớn Fasciola sp phóng đại 400 lần dưới kính hiển vi điện tử [71]. Trong điều kiện khô hạn, vỏ trứng bị nhăn nheo, biến đổi hình dạng, miracidium bị chết trong vỏ trứng sau 1 – 1,5 ngày.
Ở môi trường ẩm ướt, trứng có khả năng sống rất lâu (trong phân hơi ẩm chúng tồn tại đến 8 tháng). Dưới ánh nắng chiếu trực tiếp, trứng chết nhanh. Phôi bị chết sau 2 ngày ở nhiệt độ thấp (- 50C → -150C). Nhiệt độ 10 - 200C trứng ngừng phát triển.
Nhiệt độ 40 – 500C, phôi chết sau vài phút [8]. Sán trưởng thành Sán lá gan lớn Fasciola sp trưởng thành có dạng giống hình chiếc lá, thân dẹt và bờ mỏng, kích thước 20-30 x10-12 mm, màu trắng hồng hoặc xám đỏ, giác miệng (oral sucker) nhỏ, kích thước 1 mm, giác bụng (ventral suckers) to hơn, kích thước 1,6 mm. Cơ thể sán được bao phủ bởi một lớp cutile mỏng và có nhiều chóp nhỏ.