Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình bệnh dịch tả heo châu Phi trên thế giới và tại Việt Nam Năm 1921, Montgomery đã mô tả dịch tả heo châu Phi là một bệnh nguy hiểm cho heo nhà do African swine fever virus (ASFV) gây ra. ASFV lần đầu tiên được ghi nhận ở Kenya vào năm 1910. Nam 1957, xuất hiện ở Bồ Đào Nha và lan nhanh sang Tây Ban Nha năm 1960.
Trong những năm 1960 và 1970, ASFV đã được tìm thấy ở Pháp, Ý, Sardinia, Malta, Mỹ, Cuba, Brazil, Cộng hòa Dominica va Haiti. Năm 1985 dịch tả heo châu Phi bùng phát ở Bi va năm 1986 ở Ha Lan (Salas, 1999). Năm 2007, ASFV xuất hiện ở Georgia, lây truyền thông qua thịt nhiễm ASFV chưa được xử lý từ các tàu quốc tế. Năm 2010 - 2012, dịch bệnh nổ ra nghiêm trọng ở liên bang Nga, với chủng ASFV có độc lực cao giống với chủng xuất hiện năm 2007 ở Georgia (Gogin và ctv, 2013).
Theo thống kê của tô chức Thú Y thé giới, từ tháng 1 năm 2020 đến đầu tháng 1 năm 2022 đã có 33 quốc gia, vùng lãnh thé xuất hiện dich bệnh này (OIE, 2022). Tại Trung Quốc, ASFV bắt đầu nỗ ra vào ngày | thang 8 năm 2018, sau đó dịch bệnh nhanh chóng lan sang Mông Cổ (thang 1 năm 2019), Việt Nam (tháng 2 năm 2019), Campuchia (tháng 3 năm 2019), Hồng Kông (tháng 5 năm 2019), Hàn Quốc (tháng 5 năm 2019), Lào (tháng 6 năm 2019), Myanmar (tháng 8 năm 2019), Philippines (tháng 7 năm 2019), Han Quốc (tháng 9 năm 2019), Timor-Leste (tháng 9 năm 2019), Indonesia (tháng l1 năm 2019), quốc đảo Papua New Guinea (tháng 3 năm 2020) và ở An Độ (tháng 5 năm 2020) (OIE, 2021). Cuối năm 2021, dịch ASF diễn ra tại nhiều quốc gia châu Âu gồm: Duc, Hungary, Latvia, Romania, Nga, Ukraine và dau nam 2022 tai Y (OIE, 2022). O dich ASF đầu tiên xuất hiện ở Malaysia vào thang 2 năm 2021 ở cả heo nhà và heo rừng, tại Thái Lan ASFV xuất hiện vào tháng 12 năm 2021 và nhanh chóng lan rộng ra 20 tỉnh tính đến ngày 31 tháng 1 năm 2022 (FAO, 2022).
Ngày 19 tháng 2 năm 2019 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã thông báo phát hiện 6 dịch tả heo châu Phi đầu tiên tại tinh Hưng Yên và Thái Bình. Tính riêng từ ngày 1 tháng 2 năm 2019 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, bệnh dịch tả heo châu Phi xảy ra tại 8.517 xã thuộc 666 huyện của 63 tỉnh, thành phố với tổng số heo tiêu hủy là xấp xi 6 triệu con, tổng trọng lượng 342. Từ ngày 1 thang 1 năm 2020 đến ngày 31 tháng 8 năm 2020, cả nước xảy ra 1.008 6 dịch, bao gồm 531 6 dịch xảy ra từ cuối năm 2019 và kéo dai sang năm 2020, 27 6 dịch phát sinh mới và 450 6 dịch tái phát tại 248 huyện thuộc 44 tỉnh, thành phố. Tổng số heo tiêu hủy là 43.150 con, tổng trọng lượng khoảng trên 2.
Trong năm 2020, bệnh dịch tả heo châu Phi xảy ra chủ yếu tại khu vực miền núi phía Bắc, trong đó Lạng Sơn (114 xã có dịch), Cao Bang (85 xã có dịch), Bắc Kan (64 xã có dich). Các 6 dich xảy ra chủ yếu tại những hộ chăn nuôi tái đàn nhỏ lẻ (Nông Nghiệp Việt Nam, 2020). Trong năm 2021, dịch tả heo châu Phi đã xảy ra tại 3.154 xã, thuộc 60 tỉnh, thành phó, buộc tiêu hủy gần 289 nghìn con heo. Ngày 25 tháng 11 năm 2021, chỉ thị số 32/CT-TTg của Thủ tướng chính phủ được ban hành về việc tập trung triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh dịch tả heo châu Phi (FAO, 2022).
Virus dịch tả heo châu Phi (ASFV) 1. Cấu tạo của ASFV Bệnh dịch tả heo châu Phi do African swine fever virus (ASFV), thuộc chi Asfivirus, họ Asfarviridae gây ra. Bộ gene của ASFV là DNA mạch kép, có kích thước khoảng 170 - 193 kbp, có khoảng 150 - 167 khung đọc mở (ORF) (Dixon và ctv, 2013). Theo Salas và cộng tác viên (2013), hạt ASFV có cấu trúc nhiều lớp với hình dạng là hình nhị thập diện đều (icosahedron), có đường kính khoảng 200 nm, bao gồm bộ gene DNA, được bao bọc bởi lớp vỏ lõi protein dày, màng lipid bên trong, protein capsid dạng nhị thập diện đều và mang lipid bên ngoài (Hình 1.
ASFV được phân chia thành 24 kiểu gene (genotype) dựa theo gene B646L mã hóa protein capsid p72 (Mwiine va ctv, 2019). Cấu trúc virus dịch tả heo châu Phi (AleJo và ctv, 2018). ASFV có bộ gene rất lớn, ước tính mã hóa từ 150 - 200 proteins. Alejo và cộng tác viên (2018), đã xác định được 68 protein, tương ứng với 39% mã hóa của bộ gene của ASFV (hình 2), bao gồm các protein chức năng và hình thái của virus (p72, p150, p37, p34, p14, p5, p35, p15, p8, pS273R, p17, pE183L, p49, pE120R, p10, và pA104R), protein phiên mã (pB962L, pD1133L, pNP1450L, pEP1242L, pG1340L, pQ706L, pNP868R, pC475L, pH359L, pD205R, pD339L, pEP424R, và pClI47L), protein duy trì cấu trúc bộ gene (pOl74L, pNP419L, pE296R và pE165R), virus xâm nhập (p12, pE248R và pE199L), protein giúp virus thoát khỏi sự phòng vệ của vật chủ (pEP402R và pA224R), protein khác đã biết chức năng (pR298L, pB119L, p22, p32, p11.5, pEP152R và pH339R), và các protein chưa biết chức năng (pM1249L, pCP123L, pC129R, pC717R, pII77L, pK145R, pK421R, pEl46L, pF317L, pH240R, pCP312R, pE423R, pE184L, pC257L, pHI7IR, pBI17L, pB169L, pEP84R, pI73R, pC122R, pQP383R, pM448R và pH124R) (Nguyén Ngoc Hai, 2022).
ASFV có thể nhân lên trong tế bao động vat có xương sống va cả động vật chân đót. Tế bào đích của ASFV là các tế bào bạch cầu đơn nhân, đại thực bào, xâm nhập vào tế bào theo cơ chế kết bám thụ thé và nhập bào (endocytosis). Virus nhân lên ở vùng ria nhân (perinuclear) của tế bào chủ và thoát ra khỏi tế bào theo cơ chế nảy chéi (budding) và có thé gây chết tế bào (Nguyễn Ngọc Hải, 2019). Trên bề mặt vỏ envelope có các protein giữ vai trò là yêu tố kết bám của virus lên bề mặt tế bào vật chủ, trong đó có protein p12.
Ngoài ra, trên vỏ envelope của ASFV còn có protein CD2v, mã hóa bởi gene EP402R, tương đồng với thụ thé CD2 trên bề mặt của tế bao T-lymphocyte và protein p24. Protein CD2v giữ vai trò trong sự hấp phụ hồng cầu (hemadsorption) trên bề mặt tế bào nhiễm ASFV và có thé là yếu tố gây bệnh quan trọng của ASFV. Lớp màng trong của hạt ASFV được cấu tạo từ các protein màng p54, p17, p12 và pE248R (Nguyễn Ngọc Hai, 2022). Outer Envelope Outer Capsid Inner Membrane Nucleoid Core Shell Inner Capsid Hình 1.
Đặc điểm cấu tạo và hình thái của hat virus ASF (Blome va ctv, 2020). Đặc điểm gene B646L Gene B646L có kích thước khoảng 1941 bp, có độ bảo tồn cao mã hóa protein capsid p72 (trọng lượng khoảng 73.2 kDa), là thành phần cấu trúc chiếm ưu thế nhất của virion, chiếm khoảng 31 - 33% tổng khối lượng của virion (Revilla va ctv, 2018). Do có tính kháng nguyên và sinh miễn dịch cao nên p72 cũng là một trong những kháng nguyên chính được phát hiện ở heo khi bị nhiễm bệnh và được sử dụng rộng rãi như một dấu hiệu nhận biết bệnh trong các phương pháp xét nghiệm chân đoán như ELISA, PCR va real-time PCR (Kollnberger va ctv, 2002; Jia va ctv, 2017; OIE, 2019). Ngoài ra, các kháng thé don dòng kháng protein p72 đã được chứng minh là kháng thé trung hòa đối với ASFV (Zsak va ctv, 1993).
Dựa trên vùng C-terminal của gene B646L có thé xác định được 24 genotype (Mwiine va ctv, 2019) cũng như phân tích di truyền và xây dựng cây phat sinh loài của ASFV (Bastos và ctv, 2003). Phương thức lây nhiễm của ASFV ASEV xảy ra ở mọi lứa tuổi, ASFV lây lan chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp, qua đường máu, nên tốc độ lây lan nhanh trong chuồng khi nuôi mật độ dày. Khi ASF xuất hiện lần đầu tiên ở trại, khu vực. sẽ ghi nhận tỷ lệ chết cao, có thé đến 100%.
ASFV có thé xâm nhiễm vào trong trại qua tiếp xúc với heo rừng (những trại heo ở khu vực có heo rừng hoang); nhập dan những heo đã nhiễm ASFV: sự ra vào trại của người và phương tiện nhiễm ASFV trong vùng dịch (Nguyễn Ngọc Hải, 2019). Heo nuôi bị nhiễm ASFV có virus máu rất cao, có thể bài thải một lượng lớn virus trước khi có dấu hiệu lâm sảng, qua nước bọt, nước mắt, dịch mũi, nước tiểu, phân, dich âm đạo. ASFV lây truyền chủ yếu qua đường miệng, đường mũi khi tiếp xúc với mầm bệnh, ngoài ra ASFV cũng có thé lây nhiễm qua các vết thương, đường máu. ASFV có thể truyền lây trực tiếp từ heo rừng qua heo nhà và thông qua ký chủ trực tiếp là các loài ve ký sinh trên heo rừng.
Sự lây nhiễm giữa heo và heo xảy ra qua tiếp xúc trực tiếp với heo bệnh, hay qua các hạt khí dung ở khoảng cách gần, qua thức ăn, nước uống, chất độn chuồng nhiễm virus. Người và phương tiện vận chuyền là yếu tố mang mầm ASFV lan truyền đến các nơi xa hơn. Ruôi hút máu có thể truyền lây virus ít nhất trong vòng 24 giờ sau khi hút máu heo bị bệnh ASE. Trong thời gian xảy ra ô dịch, virus có thê lây truyền qua kim tiêm dùng chung cho nhiều heo (Nguyễn Ngọc Hải, 2019).
Triệu chứng và bệnh tích Đặc điểm chung của bệnh là heo chết đột ngột. Tất cả các lứa tuổi và mọi loại heo đều có thể bị ảnh hưởng. Sự lây nhiễm bệnh trong đàn (số lượng bị ảnh hưởng) có thê thay đối từ vai ngày đến vài tuần, tùy thuộc vào loại heo nuôi, cách quản lý và các biện pháp an toàn sinh học (FAO, 2017). Theo FAO (2017), các dấu hiệu lâm sàng liên quan đến nhiễm ASFV tùy thuộc vào các yếu tố khác nhau: độc lực của virus, giống heo, đường phơi nhiễm, liều lây nhiễm và tình trạng lưu hành bệnh có trong khu vực.
Theo yếu tố độc lực, ASFV được phân thành ba nhóm chính: virus độc lực cao, virus độc lực trung bình và virus độc lực thấp. Các dạng lâm sàng của ASF bao gồm từ thể quá cấp (peracute) đến không có triệu chứng (asymptomatic). Các chủng ASFV độc lực cao gây ra thé quá cấp (peracute) và cấp tính (acute), các chủng virus có độc lực trung bình gây ra thê cấp tính (acute) và bán cấp (subacute), các chủng virus độc lực thấp gây ra thể mãn tính (chronic). Peracute Asymptomatic Hình 1.
Cac dạng lâm sang cua ASF được phan theo độc lực cua ASFV (FAO, 2017). (4) độc luc cao, (B) độc lực trung bình, (C) độc lực thấp, (Lethality) khả năng gây chết. Thời gian ủ bệnh diễn ra từ 4 - 19 ngày.