Chương 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Cá chẽm (Lates calcarifer, Bloch 1790) là loài cá có giá trị kinh tế quan trọng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc châu Á - Thái Bình Dương. Với đặc tính dễ nuôi và thời gian sinh trưởng nhanh, sau một năm thả nuôi từ cá giống cỡ 4 - 5 cm, cá có thể đạt khối lượng 1,5 - 3 kg. Hơn nữa, thịt cá chẽm thơm ngon, giá thành cao nên loài này đã được nuôi phổ biến ở nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ, Indonesia, Australia… (Buendia, 1997). Trong những năm gần đây, thành công của những mô hình nuôi cá chẽm đã khẳng định đây là đối tượng nuôi có hiệu quả kinh tế cao.
Nghề nuôi cá chẽm thương phẩm phát triển mạnh ở một số tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (Lý Văn Khánh và ctv. Riêng tại tỉnh Thừa Thiên Huế, cá chẽm được nuôi khá phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao (Tôn Thất Chất và ctv., 2010; Trần Thị Cẩm Tú và ctv. Bệnh do Streptococcus iniae được báo cáo ở nhiều loài cá nước ngọt và cá biển ở 15 quốc gia khác nhau thuộc 4 châu lục, gồm châu Phi, châu Á, châu Úc và châu Âu. Bệnh đã và đang là mối đe dọa cho nhiều loài cá nuôi ở cả môi trường nước mặn, lợ và ngọt (Hossain et al.
Trên cá chẽm, bệnh do S. iniae được báo cáo lần đầu tiên vào năm 1999 tại Úc (Bromage et al., 1999), sau đó bệnh tiếp tục xuất hiện trên cá chẽm nuôi tại Úc năm 2006 (Creeper và Buller, 2006), tại Thái Lan năm 2010 (Suanyuk et al. iniae trên cá chẽm gây xuất huyết trên da, vây và mắt lồi đục (Bromage et al. Một số dấu hiệu khác như lở loét ngoài da hay xuất huyết ở các gốc vây, nắp mang, hậu môn đã được quan sát trên cá chẽm và cá rô phi nhiễm S.
iniae (Suanyuk et al. iniae có thể gây ra tỷ lệ chết lên đến 70% ở giai đoạn cá chẽm giống (Creeper và Buller, 2006). Ở Việt Nam, bệnh do S. iniae được báo cáo xuất hiện đầu tiên trên cá chẽm nuôi tại Khánh Hòa vào năm 2013 (Tran Vi Hich et al.
Tại Thừa 1 luan an Thiên Huế, từ năm 2007, để hạn chế dịch bệnh và ô nhiễm môi trường do nuôi thâm canh tôm thẻ chân trắng gây ra, tỉnh đã phát triển nuôi các đối tượng cá nước mặn, lợ như cá mú, cá hồng, cá dìa, cá chẽm…, để thay thế các vùng nuôi tôm bị dịch bệnh. Trong đó, cá chẽm được người dân địa phương nuôi khá phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế cao (Tôn Thất Chất và ctv. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích mặt nước nuôi cá chẽm thiếu quy hoạch chặt chẽ đã làm nghề nuôi cá gặp rất nhiều khó khăn về môi trường và dịch bệnh, trong đó bệnh xuất huyết trên cá chẽm rất phổ biến. Thuốc kháng sinh thường được sử dụng để trị bệnh do vi khuẩn gây ra trên động vật thủy sản nuôi.
Việc sử dụng kháng sinh để trị bệnh do vi khuẩn đã mang lại những thành công nhất định, nhưng cũng làm gia tăng những dòng vi khuẩn kháng thuốc (Weston, 1996; Tu Thanh Dung et al. Do đó nghiên cứu sử dụng vi khuẩn có khả năng kháng với vi khuẩn gây bệnh trên động vật thủy sản ngày càng được quan tâm. Trong đó có vi khuẩn lactic, có khả năng kháng vi khuẩn gây bệnh và có lợi với sức khỏe vật chủ khi được bổ sung đủ số lượng trong đường ruột (Nirunya et al. Vi khuẩn lactic sản xuất một số chất kháng khuẩn như axit hữu cơ, các hợp chất kháng nấm và bacteriocin để ức chế sự phát triển của mầm bệnh (Ringo et al.
Vi khuẩn lactic có thể được phân lập từ nhiều nguồn khác nhau như từ các sản phẩm lên men, từ ruột gia súc và các loài động vật thủy sản. Một số nghiên cứu về vi sinh vật đường ruột của cá trong các môi trường sống khác nhau cho thấy vi khuẩn lactic tồn tại trong ruột cá nhưng không chiếm ưu thế trong hệ vi sinh đường ruột (Ringo et al. Do đó, có thể bổ sung vi khuẩn lactic vào khẩu phần ăn của cá để ức chế vi khuẩn gây bệnh và nâng cao sức đề kháng bệnh cho cá (Lauzon và Ringo, 2011). Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc bổ sung vi khuẩn lactic vào thức ăn đến các chỉ tiêu miễn dịch không đặc hiệu của cá chẽm.
Xuất phát từ thực tiễn đó, thực hiện đề tài “Nghiên cứu bệnh do Streptococcus iniae gây ra trên cá chẽm (Lates calcarifer) và biện pháp phòng bệnh” nhằm cung cấp thông tin về bệnh do vi khuẩn S. iniae trên cá và góp phần phát triển nghề nuôi cá chẽm bền vững.2 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung: Cung cấp thông tin về bệnh do vi khuẩn S. iniae gây ra trên cá chẽm làm cơ sở khoa học cho việc quản lý dịch bệnh và góp phần phát triển nghề nuôi cá chẽm bền vững. Mục tiêu cụ thể: Xác định đặc điểm gây bệnh của vi khuẩn S.
iniae trên cá chẽm và đề xuất giải pháp phòng bệnh làm cơ sở cho việc chẩn đoán và phòng bệnh xuất huyết trên cá chẽm.3 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu tập trung tìm hiểu bệnh xuất huyết do vi khuẩn S. iniae gây ra trên cá chẽm nuôi tại tỉnh Thừa Thiên Huế, tuyển chọn vi khuẩn lactic có khả năng đối kháng vi khuẩn S. iniae từ ruột cá dìa, cá chẽm và cá rô phi, đồng thời xác định một số chỉ tiêu huyết học và khả năng kháng vi khuẩn S. iniae của cá chẽm giai đoạn giống.4 Nội dung nghiên cứu Đặc điểm gây bệnh của vi khuẩn S.
iniae gây ra trên cá chẽm Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn lactic có khả năng đối kháng vi khuẩn S. iniae từ ruột một số loài cá nước lợ Xác định ảnh hưởng của việc bổ sung chủng vi khuẩn lactic vào thức ăn đến một số chỉ tiêu huyết học và khả năng ức chế vi khuẩn S. iniae của huyết thanh cá chẽm.5 Ý nghĩa của nghiên cứu Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp thông tin về bệnh vi khuẩn trên cá, đặc biệt là bệnh xuất huyết do vi khuẩn S. iniae gây ra trên cá chẽm.
Đồng thời đánh giá ảnh hưởng của vi khuẩn lactic phân lập từ ruột một số loài cá nước lợ đến một số chỉ tiêu miễn dịch không đặc hiệu ở cá chẽm. Kết quả của luận án còn có ý nghĩa trong việc sử dụng vi khuẩn lactic có tính đối kháng với mầm bệnh vi khuẩn S. iniae tạo chế phẩm sinh học phòng bệnh xuất huyết trên cá. Bên cạnh ý nghĩa khoa học và ứng dụng trong thực tiễn, luận án còn giúp nâng cao kiến thức, năng lực nghiên cứu cho người tham gia và là nguồn tài liệu tham khảo bổ sung cho nghiên cứu và giảng dạy sinh viên trong các trường đại học.6 Điểm mới của luận án Bệnh xuất huyết do S.
iniae được nghiên cứu và mô tả về đặc điểm bệnh học trên cá chẽm nuôi tại Thừa Thiên Huế. Đã định danh và lưu giữ được ba chủng vi khuẩn Lactobacillus fermentum từ ruột cá dìa và cá chẽm có khả năng đối kháng mạnh với vi khuẩn S. iniae gây bệnh xuất huyết trên cá chẽm. Sử dụng chủng vi khuẩn L.
fermentum (C21) bổ sung vào thức ăn cho cá chẽm làm tăng cường một số chỉ tiêu miễn dịch không đặc hiệu giúp nâng cao khả năng đề kháng đối với vi khuẩn S. iniae gây bệnh xuất huyết trên cá chẽm. 4 luan an Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình nuôi cá chẽm trên thế giới và Việt Nam 2.1 Trên thế giới Cá chẽm hay cá vược (Lates calcarifer) là loài cá sống trong nước mặn và nước ngọt, thuộc phân họ cá chẽm (Latinae) thuộc họ Centropomidae. Khu vực sinh sống bản địa của nó là vùng bắc và đông Úc tới eo biển Torres và New Guinea.
Hiện nay cá chẽm đã được nuôi tại nhiều nơi trên thế giới như Úc, Malaysia, Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan,Việt Nam, Vương quốc Anh, Hoa Kỳ và Hà Lan (Buendia, 1997). Cá chẽm đã được cho sinh sản nhân tạo thành công đầu tiên ở Thái Lan vào năm 1971 bằng phương pháp vuốt trứng từ những cá bố mẹ có tuyến sinh dục chín muồi bắt được tại bãi đẻ tự nhiên. Sau đó quy trình sản xuất giống cá chẽm được mở rộng ra ở nhiều nước như Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan và Úc. Mặc dù là loài cá rộng muối nhưng cá bố mẹ nuôi trong nước mặn mới thành thục tuyến sinh dục.
Tương tự, trứng và các giai đoạn ấu trùng phát triển trong môi trường nước mặn. Cá chẽm đực lớn hơn 3 kg sẽ chuyển sang cá cái. Một số trại sản xuất giống duy trì đàn cá bố mẹ, một số trại khác có thể mua cá bố mẹ đánh bắt ngoài tự nhiên. Trứng cá sau khi thụ tinh được vớt lên đem ấp sau một ngày, nở thành cá bột.
Cá bột trong 13 ngày đầu chủ yếu ăn luân trùng rotifer, từ 13 đến 20 ngày tuổi ăn artemia, từ 21-45 ngày tuổi ăn thức ăn tự chế biến hoặc thức ăn công nghiệp. Khi đến 45 ngày tuổi, cá đạt chiều dài từ 2-3 cm là cá giống. Trong quá trình ương cần kiểm tra kích cỡ cá hàng tuần để tránh hiện tượng cá ăn lẫn nhau (Schipp et al. Hiện nay có hai hình thức nuôi cá chẽm, đó là nuôi lồng và nuôi trong ao.
Nuôi cá chẽm trong lồng đang được phát triển ở nhiều nước như Thái lan, Indonesia, Philippines, Hồng Kông, Ấn Độ và Singapore. Thành công của việc nuôi cá chẽm trong lồng trên biển và trên sông đã có ý nghĩa trong việc phát triển nuôi cá chẽm. Tuy nhiên, nghề nuôi cá chẽm đã hình thành hơn 20 năm 5 luan an qua ở vùng Đông Nam Á và châu Úc, nhưng vẫn chưa phổ biến ở qui mô sản xuất thương mại. Hiện nay, việc nuôi cá chẽm trong ao nước lợ ở một số quốc gia cho thấy có tiềm năng lớn về thị trường và khả năng lợi nhuận cao.
Với những thành công trong việc sản xuất giống cá chẽm nhân tạo, khả năng mở rộng quy mô sản xuất và thương mại hóa sản phẩm rất lớn (Anil et al., 2010) Ở Đông Nam Á, cá chẽm được nuôi lồng ở Thái Lan, Malaysia và Việt Nam. Cá chẽm được nuôi truyền thống trong các trang trại quy mô nhỏ, trung bình 30 lồng trên biển, lồng được đặt ở vùng ven bờ, ở những nơi có mực nước từ 5 đến 8 m hoặc 10 đến 12 m, có mái che. Lồng trên biển thường có chiều dài 3 đến 5 m, 3 đến 5 m chiều rộng và sâu 2 đến 3 m.