MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành chăn nuôi ở nước ta hiện nay đang rất phát triển. Đặc biệt là chăn nuôi gia cầm, để có cơ sở vững chắc hơn cho tương lai ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng phát triển ổn định, một trong những vấn đề đặc biệt quan tâm là vệ sinh và thú y. Nhằm đưa được những sản phẩm chăn nuôi sạch và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ra ngoài thị trường.
Tính riêng trong năm 2011 đàn gia cầm trong cả nước đạt trên 322 triệu con, sản lượng thịt gần 700 nghìn tấn, sản lượng trứng đạt gần 7.000 tỷ quả, cao nhất từ trước đến nay; tỷ trọng chăn nuôi gia cầm trong tổng sản phẩm ngành chăn nuôi tăng dần qua các năm, năm 2011 đạt gần 17%. Với mô hình trang trại chăn nuôi gà bán công nghiệp với quy mô lớn tại các vườn cây ăn quả, đồi cây lâm nghiệp ở Yên Thế đã đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nhưng người chăn nuôi ở đây gặp phải không ít những khó khăn nổi lên là vấn đề dịch bệnh. Ngoài những bệnh thường gặp ở gà, hiện nay còn có những bệnh mới gây ra những thiệt hại lớn cho người chăn nuôi.
Bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà. Đây là bệnh mới xảy ra ở Việt Nam trong vài năm gần đây, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào. Bệnh gây ra những biểu hiện bất thường ở da vùng đầu, ban đầu có màu xanh tím, sau đó chuyển sang thâm đen nên có tên là bệnh đầu đen.
Bệnh có những bệnh tích đặc trưng như: Viêm hoại tử tạo mủ ở ruột thừa và gan, thể trạng xấu, da vùng đầu và mào tích thâm đen. Gà bệnh chết rải rác và thường chết về ban đêm, mức độ chết không ồ ạt nhưng sự chết kéo dài, tỷ lệ chết lên tới 85 % - 95%. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh, nâng cao năng suất chăn nuôi gà, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu bệnh đầu đen do đơn bào Histomonas meleagridis gây ra ở gà tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang và thử nghiệm thuốc điều trị”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu tình hình nhiễm đơn bào H.
meleagridis ở gà nuôi tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang. - Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ bệnh đầu đen do đơn bào H. meleagridis gây ra ở gà. - Nghiên cứu bệnh lý và lâm sàng bệnh đầu đen ở gà tại huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, về bệnh học và quy trình phòng chống bệnh đầu đen cho gà, có một số đóng góp mới cho khoa học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh đầu đen cho gà nhằm hạn chế tỷ lệ nhiễm và thiệt hại do bệnh đầu đen gây ra; góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy ngành chăn nuôi gà phát triển. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm của đơn bào Histomonas meleagridis ký sinh ở gia cầm 2. Vị trí của đơn bào Histomonas meleagridis trong hệ thống phân loại động vật nguyên sinh. Theo Van der Heijden H (2009) [45], vị trí của H.
meleagridis trong hệ thống phân loại nguyên sinh động vật như sau: Giới: Protozoen Ngành: Parabasalia Lớp: Tritrichomonadea Bộ: Tritrichomonadida Họ: Dientamoebidae Giống: Histomonas Loài: Histomonas meleagridis 2. Hình thái học loài Histomonas meleagridis Smith (1895) [38] đã mổ khám 50 gà tây mắc bệnh đầu đen. Ông cho biết: gan và manh tràng của gà mắc bệnh là 2 cơ quan bị tổn thương nặng nề nhất. Lấy chất chứa trong manh tràng gà bệnh và soi tươi đã tìm thấy tác nhân gây bệnh là một sinh vật đơn bào (Amoeba meleagridis) có hình tròn hoặc hình bầu dục, đường kính 8 - 14 µm, ngoại trừ một dạng gần giống cấu trúc nhân.
Khi đơn bào được cố định và nhuộm màu, Smith thấy chúng có dạng hình bầu dục nhỏ, đường kính từ 6 - 10 µm, ở giữa có nhiều cấu trúc nhỏ tập trung lại thành thể nhân. Khi nghiên cứu về bệnh đầu đen, Tyzzer (1919) [39] đã mô tả hình thái của đơn bào gây bệnh ở từng giai đoạn phát triển khác nhau. Ở giai đoạn ký sinh tại khu vực ngoại vi của các tổn thương ban đầu được gọi là giai đoạn xâm lấn, chúng di động kiểu amip và hình thành một chân giả có chiều dài 30 µm. Trong các mô cố định, quan sát được đơn bào có đường kính từ 8 - 17 µm.
Nguyên sinh chất trong giai đoạn này chứa các 4 hạt không bào và một thể nhân. Tiếp đến là giai đoạn sinh dưỡng, đơn bào tồn tại ở dạng có tế bào chất mà không có thể vùi và một lượng nhỏ chất lưới hoặc dạng hạt phân phối xung quanh thể nhân. Ở giai đoạn này, chúng có kích thước lớn hơn, đường kính từ 12 - 21 µm. Một giai đoạn tồn tại khác của đơn bào đã được Tyzzer mô tả và gọi với cái tên là giai đoạn kháng, kích thước nhỏ hơn, đường kính từ 5 - 22 µm.
Tyzzer và Fabyan (1922) [43] đã báo cáo: khi quan sát dưới kính hiển vi, tác giả thấy H. meleagridis tồn tại lưỡng hình (dạng amip và có roi). Trong mô (giai đoạn xâm lấn), nó có dạng amip, trong lòng manh tràng H. meleagridis ở dạng có roi.
meleagridis ở dạng amip thường có đường kính 8 - 15 µm, trong khi ở hình dạng có roi đường kính có thể lên tới 30 µm. Tyzzer (1934) [40] đã nghiên cứu sự chuyển động của H. meleagridis ở 420C và mô tả roi của đơn bào này nhịp nhàng rung động giúp nó có thể xoay ngược chiều kim đồng hồ. Lê Văn Năm (2010) [6] khi nghiên cứu bệnh đầu đen ở Việt Nam báo cáo rằng, H.
meleagridis là một loại đơn bào đa hình thái: hình trùng roi (4 roi), hình amip và hình lưới hợp bào, tùy thuộc vào giai đoạn phát triển để có hình dạng tương ứng phù hợp,… H. meleagridis với hình amip có kích thước 8 - 30 µm, với hình roi thì có kích thước từ 20 - 30 µm, bé nhất khi H. meleagridis ở thể lưới: 5 - 10 µm, nhưng ở thể hợp bào (bao gồm nhiều H. meleagridis thể hình lưới) thì chúng có kích thước cực đại đến 60 - 80 µm.
Trong các dạng hình thái thì hình roi là phổ biến nhất và dễ nhận biết nhất bởi chúng có 2 nhân (1 nhân to và 1 nhân nhỏ), từ nhân to mọc ra 4 roi, H. meleagridis vận động theo hai phương thức: xoắn hoặc theo kiểu làn sóng (impuls). Nghiên cứu về cấu tạo của đơn bào H. meleagridis, các nhà khoa học đã cho biết, theo thứ tự từ ngoài vào trong đơn bào H.
meleagridis cấu tạo gồm 3 phần: màng, tế bào chất và nhân. meleagridis là một màng đơn. Tế bào chất của H. meleagridis chứa ß - glycogen, ribosome và ARN, một số không bào và hạt nhân.
5 Nhân hình trứng hoặc hình chữ U, bao gồm một nucleolus. Màng nhân là một màng kép. Trong vùng lân cận của nhân là bộ máy Golgi hoặc một phần theo chiều dọc của microtubule. meleagridis là sinh vật kỵ khí vì thiếu ty thể.
Lưới nội chất đã bị thoái hóa. Phương thức truyền lây của Histomonas meleagridis H. meleagridis sinh sản bằng hình thức phân đôi (trực phân), lây truyền bằng 2 con đường: truyền bệnh trực tiếp và truyền bệnh gián tiếp. a) Truyền bệnh gián tiếp qua giun kim * Giun kim (Heterakis gallinarum) + Đặc điểm sinh học của Heterakis gallinarum - Hình thái Bùi Lập và cs (1969) [5] và J.Kaufmann (1996) [21] cho biết về hình thái H.
gallinarum có màu vàng nhạt. Giun đực dài 5,84 - 11,1 mm. Thực quản phình rộng ở phía sau thành hình củ hành, rộng nhất ở gần giữa cơ thể 0,27 - 0,39 mm. Thực quản dài 1,2 - 1,4 mm, diều 0,26 - 0,31 mm.
Gai sinh dục không bằng nhau. Gai trái dài 1,62 - 2,1 mm, gai phải dài 0,54 - 0,72 mm, không có gai điều chỉnh. Trước hậu môn có những núm và giác trước huyệt dạng hình tròn, đường kính 0,07 - 0,08 mm và phần cuối đuôi nhọn như kim. Giun cái có kích thước 8 - 12 mm, rộng 0,27 - 0,45 mm.
Thực quản dài 1,15 - 1,37 mm, diều kích thước 0,27 - 0,33 mm. Lỗ sinh dục nằm ở cuối cơ thể, cách mút đầu khoảng 4,38 - 6,44 mm. gallinarum hình ovan kích thước: 0,05 - 0,075 x 0,03 - 0,039 mm. - Vòng đời của H.
gallinarum Nguyễn Xuân Bình, Trần Xuân Hạnh, Tô Thị Phấn (2002) [1] viết về vòng đời của H. gallinarum như sau: Trứng H. gallinarum bài xuất cùng với phân ra ngoài, trứng phát triển đến giai đoạn cảm nhiễm ở môi trường bên ngoài trong thời gian từ 6 - 17 ngày, hoặc hơn nữa, tuỳ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm. Sự phát triển của trứng H.
gallinarum đến giai đoạn cảm nhiễm ở nhiệt độ 30 - 37oC trong vòng 6 - 7 ngày, ở nhiệt độ 20 - 27oC từ 10 - 15 ngày 6 và 10 - 15oC là 72 ngày. Ấu trùng lột xác trong trứng một lần, sau đó trứng chứa ấu trùng này trở nên có khả năng truyền lây bệnh. Mùa đông trứng không phát triển. Nhưng vẫn duy trì khả năng sống.
Đến mùa xuân, thời tiết ấm áp, trứng sống được qua mùa đông lại phát triển thành trứng cảm nhiễm và có thể là nguồn gây bệnh. Gà, gà tây mắc bệnh này là do ăn phải trứng H. gallinarum có chứa ấu trùng cảm nhiễm. Sau 1 - 2 giờ xâm nhập vào đường tiêu hoá, ấu trùng chui ra khỏi trứng xuống manh tràng.
Ở manh tràng, ấu trùng chui vào thành ruột, nhưng sau từ 5 - 7 ngày sau khi vào máu chúng lại trở lại ruột. Thời gian phát triển của chúng đến giai đoạn trưởng thành trong cơ thể từ 25 - 34 ngày, nhưng thời gian sống thì không quá 1 năm. + Bệnh giun kim (Heterakiosis) Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2006) [4]: Heterakis và ấu trùng có tác hại rất lớn đối với vật chủ: Ấu trùng sau khi xâm nhập vào đường tiêu hoá của vật chủ (gà) chúng thoát vỏ đến manh tràng và ruột. Sau khi tới manh tràng chúng chui vào niêm mạc, gây tụ huyết, xuất huyết.
Ngoài ra giun còn cướp chất dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm cho vật chủ bị gầy yếu, còi cọc, chậm lớn và giảm sức đề kháng.