ĐẶT VẤN ĐỀ Cây thuốc là tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho ngƣời dân địa phƣơng nhất là ngƣời dân sống phụ thuộc vào rừng.Từ xƣa, con ngƣời đã biết sử dụng cây cỏ trong phòng và chữa trị các bệnh. Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, cây thuốc ngày càng trở nên quan trọng đối với đời sống của con ngƣời. Việc sử dụng cây thuốc vừa có tính hiệu quả cao, vừa không gây tác dụng phụ nhƣ các loại thuốc Tây hiện nay. Tại các quốc gia đang phát triển một tỷ lệ lớn dân số đã và đang sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh.
Lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Việt Nam còn là cái nôi của thực vật hạt kín, đồng thời là giao điểm của nhiều luồng thực vật di cƣ từ các khu hệ thực vật lân cận, cùng với sự đa dạng về địa hình đã làm cho hệ thực vật nói chung và thực vật rừng nói riêng của nƣớc ta vô cùng đa dạng và phong phú về phân bố cũng nhƣ thành phần loài. Bao gồm các loài gỗ, nứa, song mây… Đặc biệt là thực vật làm thuốc. Theo thống kê hiện nay ở Việt Nam đã biết gần 4000 loài thực vật có công dụng làm thuốc.
Trong đó, có tới hơn 90% là cây mọc tự nhiên và tập trung chủ yếu trong các quần xã thực vật rừng. Phần lớn cây làm thuốc ở Việt Nam mọc tự nhiên ở vùng rừng núi, nơi mà nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ sự gia tăng dân số, đốt nƣơng làm rẫy, khai thác không hợp lí, công tác quản lí chƣa hiệu quả… đã dẫn đến sự đe dọa tuyệt chủng của nhiều loài sinh vật. Việt Nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) của thế giới, với hệ động, thực vật rất phong phú và nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa rất thuận lợi cho sự phát triển của thực vật nói chung và cây thuốc nói riêng. Theo thống kê của Viện Dƣợc Liệu –Bộ Y Tế năm 1996-2004 Việt Nam có 3948 loài thực vật và nấm thuộc 307 họ có thể sử dụng làm thuốc,trong đó có 80% cây thuốc là mọc tự nhiên trong rừng.
Trong những năm gần đây, dƣới áp lực của phát triển kinh tế và sự bùng nổ dân số nên nguồn tài nguyên rừng nói chung và nguồn tài nguyên thực vật sử dụng làm 1 thuốc nói riêng ngày càng suy giảm nghiêm trọng. Những loài có giá trị không những ngƣời dân khai thác để sử dụng mà nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm mạnh trong những năm gần đây là do khai thác vì mục đích thƣơng mại. Những loài ít giá trị hoặc chƣa đƣợc nghiên cứu cũng bị tán phá nhƣờng chỗ cho việc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp. Bên cạnh đó những kiến thức bản địa đang ngày càng bị mai một và dần quên lãng, việc nghiên cứu gây trồng còn hạn chế chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của thực tế cũng là nguy cơ rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của những loài cây thuốc trong tự nhiên.
Do vậy, việc tìm giải pháp bảo tồn và phát triển một số loài cây thuốc là việc cấp thiết hàng đầu đƣợc đặt ra. Các Vƣờn Quốc gia (VQG) và Khu Bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) gần nhƣ là thành lũy cuối cùng bảo vệ cho tƣơng lai của các loài động, thực vật nói chung, các cây làm thuốc nói riêng. Xuất phát từ những vấn đề trên cũng nhƣ để góp phần tìm hiểu các loài cây có giá trị làm thuốc, Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển một số loài cây thuốc tại Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, tỉnh Thanh Hóa”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lƣợc sử nghiên cứu về tài nguyên cây thuốc trên thế giới Trong tất cả các nền văn hóa của nhân loại từ thời thƣợng cổ đến nay, con ngƣời vẫn luôn coi trọng cây cỏ nhƣ là một nguồn thuốc chủ yếu để chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe.Cây thuốc là tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho ngƣời dân địa phƣơng nhất là ngƣời dân sống phụ thuộc vào rừng.Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, cây thuốc ngày càng trở nên quan trọng đối với đời sống của con ngƣời.Sử dụng cây thuốc gắn liền với sự phát triển của nhân loại. Ngay từ khi xuất hiện trên trái đất, con ngƣời đã sử dụng các loài thực vật để duy trì sự sống. Trong quá trình đó, ngƣời ta đã phát hiện ra những loài có khả năng phòng và chữa bệnh. Dần dần các kinh nghiệm đƣợc tích luỹ và phổ biến.
Đó là quá trình hình thành cơ sở sử dụng cây thuốc trong y học truyền thống của dân tộc. Càng ngày tri thức của nhân loại ngày càng đƣợc nâng cao, nhất là khi khoa học phát triển, việc sử dụng cây thuốc ngày càng mở rộng hơn và mang lại hiệu quả to lớn trong việc bảo vệ sức khoẻ con ngƣời. Việc sử dụng cây thuốc vừa có tính hiệu quả cao, vừa không gây tác dụng phụ nhƣ các loại thuốc Tây hiện nay. Tại các quốc gia đang phát triển một tỷ lệ lớn dân Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến năm 1985, trên thế giới đã có khoảng 20.000 loài thực vật bậc cao có mạch và bậc thấp trong số các loài đã biết đƣợc sử dụng trực tiếp làm thuốc, hoặc là nguyên liệu để cung cấp các hoạt chất tự nhiên dùng làm thuốc.
Hiện nay số loài cây thuốc đƣợc sử dụng trên thế giới ƣớc tính từ 30. Trong đó, ở vùng nhiệt đới châu Á có khoảng 6.500 loài thực vật có hoa đƣợc dùng làm thuốc.000 loài, ở Trung Quốc là 5. số đã và đang sử dụng cây cỏ để làm thuốc chữa bệnh. Hầu hết các quốc gia đã biên soạn các chuyên khảo về cây thuốc trên quy mô toàn quốc hoặc vùng lãnh thổ.
Nhiều công trình nghiên cứu cây thuốc 3 của các nƣớc đƣợc sử dụng rộng rãi và có giá trị khoa học thực tiễn lớn. Điều tra, đánh giá nguồn tài nguyên cây thuốc đƣợc coi là có nhiệm vụ trọng tâm của tất cả các quốc gia. Trong cuốn “Lịch sử niên đại cây cỏ” ấn hành năm 1878, Charles Pickring đã chỉ rõ: Ngay từ năm 4271 trƣớc công nguyên ( TCN ) ngƣời dân trong khu vực Trung Cận Đông đã sử dụng nhiều loài (sung, vả, cau dừa…) để làm lƣơng thực và chữa bệnh. Dựa trên các bằng chứng khảo cổ học, Borisova B (1960) chỉ ra rằng, vào khoảng 5000 năm TCN cây thuốc đã đƣợc sử dụng rộng rãi và vì vậy là mục tiêu chiếm đoạt trong các cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc.
Nhƣ vậy, tầm quan trọng của các loài cây thuốc đƣợc loài ngƣời nhận thức từ rất sớm, việc thu thập, nhập nội các giống cây thuốc quý đƣợc thực hiện ngay từ thời kỳ Cổ đại và đƣợc thực hiện bởi các chiến binh. Cho đến nay có khoảng 80% dân số thế giới dựa vào dƣợc phẩm mang tính truyền thống lấy từ các loài động, thực vật để sử dụng cho những sơ cứu ban đầu khi nhiễm bệnh (Fansworth, 1988).nhiều tài liệu quý ghi chép kinh nghiệm sử dụng của ngƣời xƣa vẫn còn lƣu truyền tại Trung Quốc - quốc gia có truyền thồng lâu đời trong việc sử dụng cây cỏ để trị bệnh. Trong tập “Thần nông bản thảo” chỉ rõ khoảng 5000 năm trƣớc đây ngƣời Trung Hoa cổ đại đã sử dụng 365 vị thuốc và cây thuốc để phòng và chữa bệnh. Vào đời nhà Hán (năm 168 trƣớc CN) trong cuốn sách “Thủ Hậu cấp phƣơng”, tác giả thống kê 52 đơn thuốc trị bệnh từ các loài cây cỏ.
Tới giữa thế kỷ XVI, Lý Thời Trân thống kê 1.200 vị thuốc trong tập “Bản thảo cƣơng mục”. Các tài liệu cổ xƣa về sử dụng cây thuốc cũng đƣợc ngƣời Ai Cập cổ đại ghi chép cách đây khoảng 3600 năm trƣớc với 800 cây thuốc và trên 700 bài thuốc. Nguời Ấn Độ cổ đại cách đây 2000 năm để lại tài liệu về công dụng của cây cỏ làm thuốc của ngƣời Hindu. Các nhà thực vật ngƣời Pháp đƣợc coi là những ngƣời đầu tiên của Châu Âu nghiên cứu về thực vật Đông Nam Á, với họ sau những cánh rừng nhiệt đới còn tiềm ẩn rất nhiều giá trị.
Vào những năm đầu thế kỷ XX, trong chƣơng 4 trình nghiên cứu về thực vật Đông Dƣơng, Perry công bố 1.000 loài cây và dƣợc liệu tại Đông Nam Á đã đƣợc kiểm chứng và gần đây (1985) tổng hợp thành cuốn sách “Medicinal Plants of Eats and Southeast Asia”. Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới, lại có nền y học dân tộc phát triển, nên trong số các loài cây thuốc đã biết hiện nay có đến 80% số loài (khoảng 4.200 loài) là đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc. Bên cạnh các phƣơng thức dùng cây thuốc theo cách cổ truyền nhƣ sắc, thuốc cao, thuốc ngâm rƣợu, thuốc bột, thuốc chƣờm – bó và xoa bóp,… từ nhiều năm nay, ngƣời ta còn chế tạo ra hàng trăm loại thuốc hiện đại, có hiệu lực chữa bệnh cao, mà nguồn gốc là các hợp chất tự nhiên đƣợc chiết xuất từ cây cỏ. Ngƣời Bulgary dùng cả hoa, lá, rễ để làm thuốc tan huyết ứ và bệnh phù thũng.
Ngày nay, nhiều nghiên cứu cho thấy trong cánh Hoa hồng có chứa một lƣợng tamin, glycosyd, tinh dầu. Ngƣời Ấn Độ đã dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng, sắc đặc để chữa kiết lỵ, tiêu chảy. Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa) có nhiều công dụng để chữa bệnh. Ngƣời Philippine dùng vỏ cây này sắc uống cầm máu rất hiệu quả, tán bột rắc lên mụn nhọt, vết lở loét… Còn ở Malaysia thì họ đã biết lấy cây Húng chanh (Coleus amboinicus) sắc lấy nƣớc cho sản phủ uống; trị các chứng ho gà, đau cổ họng, sổ mũi ở trẻ em.
Theo điều tra ở Mỹ có đến 25% đơn thuốc có sử dụng những chế phẩm có dƣợc tính mạnh đƣợc điều chế từ loài Hoa hồng (Cathanthus roseus) đặc biệt của Madagasca, dùng rất tốt cho việc chữa bệnh máu trắng và các loại bệnh ung thƣ khác, theo kết quả gần đây của các nhà khoa học cho biết sử dụng chế phẩm này để điều trị bệnh máu trắng cho trẻ đã làm tăng tỉ lệ sống của trẻ từ 10% lên đến 90%. Việc phát hiện ra hoá chất có trong cây Thuỷ tùng ở vùng Thái Bình Dƣơng, có thể chữa trị bệnh ung thƣ rất hiệu nghiệm, đó là một loài cây bản 5 địa của các rừng cổ Bắc Mỹ đã mang lại giá trị dƣợc liệu và lợi nhuận kinh tế rất cao.