ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là thảm thực vật của những loài thực vật trên bề mặt trái đất, giữ vai trò to lớn đối với đời sống con ngƣời: cung cấp gỗ, thực phẩm, dƣợc liệu, nguyên liệu, điều hòa khí hậu, tạo oxy, điều hòa nƣớc, bảo vệ môi trƣờng, là nơi cƣ trú của các loài động vật và lƣu trữ các nguồn gen quý hiếm. Chức năng của rừng chỉ đƣợc phát huy khi rừng có kết cấu và tổ thành hợp lý. Việt Nam là một trong 16 quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất, trên thế giới có hệ động thực vật phong phú, với nhiều vùng địa lí sinh học đa dạng. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì sự mất mát về đa dạng sinh học cũng đã và đang diễn ra, đặc biệt lá các loài cây quý hiếm.
Trong tiến trình phát triển của loài ngƣời đòi hỏi chúng ta phải có nhận thức và hành động đầy đủ hơn để có sự phát triển bền vững. Trong đó nhu cầu về nghiên cứu để bảo tồn các loài đặc hữu, quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng và có nhiều giá trị không chỉ về sinh học, sinh thái môi trƣờng mà còn cho đời sống xã hội là rất nguy cấp hiện nay. Vƣờn Quốc gia Cát Bà là khu vực có giá trị cao về đa dạng sinh học không chỉ trên đất liền mà còn ở dƣới biển xung quanh quần đảo, kết quả điều tra khảo sát cho thấy tại đây là nơi sinh sống của trên 3.000 loài động, thực vật khác nhau với 1.588 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 850 chi, 187 họ, 5 ngành; trong số 1.588 loài thực vật thống kê đƣợc ở Cát Bà có 81 loài thực vật nguy cấp, quý hiếm trong sách đỏ Việt Nam 2007, Sách đỏ Thế giới, Nghị định 32/2006/NĐ-CP. Ngoài các giá trị cao về đa dạng sinh học Cát Bà còn có nhiều cảnh quan thiên nhiên, hang động hùng vĩ, độc đáo và các di chỉ, di tích lịch sử nổi tiếng, đã góp phần đƣa Cát Bà trở thành một trong số ít các nơi phát triển mạnh các hoạt động du lịch sinh thái và nghiên cứu khoa học.
Tuy nhiên, Vƣờn Quốc gia Cát Bà đã và đang phải đối mặt với những khó khăn nhất định trong công tác quản lý bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học của Vƣờn. Tình trạng khai thác, săn bắt, bẫy bắt, cháy rừng, vv… vẫn thƣờng xuyên xảy ra trên đảo Cát Bà. 1 Theo Sách đỏ Việt Nam (2007), phần thực vật, Hòe bắc bộ (Sophora tonkinensis Gagnep.) là cây thuốc quý ở Việt Nam, cây thuộc nguồn gen hiếm. Hiện nay, cây thƣờng xuyên bị khai thác, sử dụng tại chỗ và bán qua biên giới.
Đã đƣợc đƣa vào Danh lục Đỏ cây thuốc Việt Nam (1996,2001,2006). Đƣợc phân hạng VU trong sách đỏ VN (2007). Các công trình nghiên cứu, tài liệu viết về cây Hòe bắc bộ còn rất ít và chƣa có đánh giá hiện trạng phân bố và đề xuất các giải pháp bảo tồn loài này để có cơ sở dữ liệu phục vụ cho công tác bảo tồn bền vững. Mặt khác, do nhu cầu thị trƣờng và công dụng làm thuốc của loài Hòe bắc bộ cho nên số lƣợng loài này có nguy cơ bị suy giảm mạnh.
Đề tài nghiên cứu này đƣợc tiến hành với mong muốn góp thêm một phần cơ sở dữ liệu, thông tin khoa học về một loài cây có giá trị ở Việt Nam. Hòe bắc bộ (Sophora tonkinensis) là cây thuốc quý hiếm dùng chữa sƣng họng, sƣng mộng răng. Liều dùng 4-12g, sắc uống riêng hay phối hợp với các vị khác. Ở Trung Quốc, có nơi, ngƣời ta dùng rễ cây này chữa ung thƣ, cho rằng nó có khả năng ức chế sự phân liệt của tế bào ung thƣ.
Môi trƣờng sống đang bị xâm hại do phá rừng lên lên hiện nay loài chỉ phát hiện thấy phân bố ở Hà Giang (Mèo Vạc), Cao Bằng (Hạ Lang, Trùng Khánh), Quảng Ninh (các đảo), Ninh Bình (Nho Quan), Đà Nẵng (Sơn Trà) do vậy số lƣợng cá thể loài bị suy giảm mạnh. Do tính cấp thiết cần bảo tồn, Hòe bắc bộ (Sophora tonkinensis)đã đƣợc đƣa vào Danh lục đỏ lục đỏ cây thuốc Việt Nam (1996, 2001, 2006), phân hạng (VU) trong sách đỏ Việt Nam năm (2007). Tại Việt Nam công trình nghiên cứu, tài liệu về cây Hòe bắc bộhiện nay còn rất ít và chƣa có đánh giá hiện trạng phân bố và xây dựng các biện pháp bảo tồn. Từ các yêu cầu thực tiễn đó, tôi tiến hành thựchiện đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn và phát triền loài Hòe bắc bộ (Sophora tonkinensis Gagnep.) tại vùng đệm VQG Cát Bà, TP.
Hải Phòng” với hi vọng kết quả của đề tài sẽ là những cơ sở khoa học để bảo tồn và phát triển cây Hòe bắc bộ, một loài cây thuốc quý Việt Nam.TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu cây thuốc trên Thế giới Năm 1993, Tổ chức Y tế thế giới WHO đã phối hợp với Hiệp hội Bảo tồn thế giới IUCN và Quỹ Thiên nhiên toàn thế giới WWF xuất bản cuốn tài liệu “Hƣớng dẫn bảo tồn cây thuốc” (Guidelines on The onservation ofMedicinal Plants) để các quốc gia vận dụng vào điều kiện riêng của mình triển khai công tác bảo tồn cây thuốc. Hiện nay, ƣớc tính có khoảng 2000 vƣờn thực vật trên toàn thế giới, phần lớn nằm ở Tây Âu (500 vƣờn) và Bắc Mỹ (350 vƣờn). Châu Á có khoảng 300 vƣờn thực vật, chủ yếu ở Trung Quốc và Ấn Độ.
Có thể nêu ra những khu vƣờn nổi tiếng dƣới đây. Vƣờn thuốc helsea ( nh). Vƣờn thuốc Chelsea do Hội Bào chế thuốc thành lập năm 1673, với mục đích nghiên cứu giá trị các loại cây thuốcvà tăng cƣờng nghiên cứu về thực vật ứng dụng trong y học. Trong suốt thế kỷ 17, nơi đây trở thành một trong những trung tâm quan trọng nhất về thực vật và trao đổi cây trên thế giới.
Đây là vƣờn thực vật cổ nhất London và là vƣờn lâu đời thứ 2 ở nƣớc nh, nhƣng vẫn đáp ứng đầy đủ chức năng nghiên cứu khoa học, bảo tồn cây cỏ, giáo dục. Năm 1876, vƣờn đã mở rộng quy mô đào tạo bằng cách tổ chức các khóa học cho các phụ nữ trẻ, những ngƣời đƣợc đào tạo để trở thành các giáo viên ngành thực vật. Năm 1983, vƣờn đã đăng ký là một tổ chức từ thiện và là vƣờn cây thuốc đầu tiên mở ra công chúng. Vƣờn thuốc helsea đƣợc ghi nhận đã xúc tiến thành công các hoạt động đào tạo, bảo tồn và nghiên cứu khoa học.
Vƣờn thuốc helsea cũng đã khởi xƣớng dự án Dƣợc dân tộc học với sự tham gia của Vƣờn thực vật hoàng gia Anh ở Kew, dự án Eden, Vƣờn thực vật hoàng gia Edinburgh và Bảo tàng Lịch sử tự nhiên, cùng thu thập dữ liệu về các bài thuốc từ cây cỏ đã đƣợc sử dụng lâu năm ở Anh. Vƣờn thực vật Missouri (Hoa Kỳ). Đƣợc thành lập năm 1859, sứ mệnh của vƣờn Misssouri là “Khám phá và chia sẻ tri thức về cây thuốc và môi 3 trƣờng để giữ gìn và làm giàu cho cuộc sống”.Vƣờn là trung tâm nghiên cứu về thực vật và khoa học, giáo dục, nằm biệt lập nhƣ một ốc đảo ở thành phố St. Louis, bang Missouri của Hoa Kỳ.
Vƣờn gồm 32 hécta khu trƣng bày tuyệt đẹp, bao gồm vƣờn đi dạo Nhật Bản, ngôi nhà cổ từ năm 1850 của Henry Shaw và bộ sƣu tập lớn nhất thế giới về các loài lan quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Vƣờn thực vật Missouri có đội ngũ nhân viên lớn những ngƣời có bằng cấp cao tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học và các chƣơng trình bảo tồn ở 35 nƣớc trên thế giới về bảo tồn và phát triển các loài cây có giá trị tiềm năng. Vƣờn đã có những cam kết rất chặt chẽ về sử dụng có trách nhiệm và bền vững tất cả các nguồn tài nguyên cây cỏ. Vƣờn cây thuốc Quảng Tây (Trung Quốc).
Vƣờn cây thuốc Quảng Tây đƣợc thành lập năm 1959trên diện tích 202 hécta. Đây là vƣờn cây thuốc lớn nhất ở Trung Quốc, lƣu giữ hơn 2.400 loài cây cỏ làm thuốc. Khu vƣờn đƣợc chia thành 7 khu vực trƣng bày, bao gồm: Các thảo dƣợc đặc biệt ở Quảng Tây, Y học điều trị, Khu thực vật dƣới bóng, Khu cây gỗ, Khu cây cỏ, Khu dây leo và Khu động vật làm thuốc. Vƣờn cây thuốc Quảng Tây có 141 cán bộ khoa học và kỹ thuật viên, 30 chuyên gia cao cấp và 43 chuyên gia có trình độ.
Nhiệm vụ chính của vƣờn là: Hiện đại hóa thuốc y học cổ truyền; nghiên cứu, trồng trọt cây thuốc; bảo tồn các loài cây thuốc hiếm và bị đe dọa có nguồn gốc từ Quảng Tây; nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, chọn lọc loài/giống có nguồn gốc xuất xứ tốt; hỗ trợ kỹ thuật cho thực hành tốt trồng trọt cây thuốc theo tiêu chuẩn Quảng Tây thông qua nghiên cứu dƣợc liệu. Nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam Việt Nam là nƣớc có hệ thực vật rừng tự nhiên rất đa dạng và phong phú. Theo ƣớc tính có cơ sở của các nhà khoa học, về thực vật bậc cao có mạch có tới 12. Bên cạnh đó còn 800 loài rêu, 600 loài nấm và hơn 2000 loài tảo (Phan Kế Lộc, 1998, ; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997…).
Trong đó có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng đƣợc sử dụng làm thuốc. Trong lịch sử, Việt Nam đã có nhiều danh y nghiên cứu, thống kê về các loài cây thuốc.Chu Tiên biên soạn cuốn sách “ ản thảo cƣơng mục toàn 4 yếu” là cuốn sách thuốc đầu tiên xuất bản năm 1429. Tuệ Tĩnh, tên thật là Nguyễn á Tĩnh (vào thế kỉ XIV) biên soạn bộ “Nam dƣợc thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có nguồn gốc thực vật. Sau cuộc kháng chiến chống Pháp, công tác sƣu tầm các nguồn tài liệu về thuốc nam, tổ chức điểu tra cây thuốc và nghiên cứu thành phần hóa học của cây thuốc đƣợc triển khai mạnh mẽ.
Trong số các công trình công bố đáng chú ý bộ “Dƣợc liệu học các vị thuốc việt nam” gồm 3 tập do Đỗ Tất Lợi biên soạn năm 1957, năm 1961 tái bản in thành 2 tập. Trong đó tác giả mô tả và nêu công dụng của hơn 100 cây thuốc nam. Từ năm 1962 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập. Lần tái bản thứ 7 (1995) số cây thuốc của ông nghiên cứu đã lên tới 792 loài và gần đây nhất là tái bản lần thứ 13 (2005).Đây là một số sách có giá trị lớn về khoa học và thực tiễn, kết hợp giữa khoa học dân gian với khoa học hiện đại.