Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được ghi nhận là một trong những trung tâm đa dạng sinh học trọng điểm của khu vực Đông Nam Á, sở hữu khoảng 10% tổng số loài sinh vật toàn cầu dù chỉ chiếm 1% diện tích đất liền của thế giới. Toàn quốc hiện có khoảng 11.373 loài thực vật bậc cao có mạch, với mức độ đặc hữu tại miền Bắc đạt xấp xỉ 33% và hơn 40% trên quy mô toàn quốc. Tuy nhiên, áp lực nhân sinh cùng biến đổi khí hậu đã khiến nguồn tài nguyên thực vật quý hiếm suy giảm nghiêm trọng, đe dọa trực tiếp đến tính bền vững của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới.

Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh (tỉnh Hòa Bình) có tổng diện tích quy hoạch 5.647 ha, trong đó hơn 90% diện tích vẫn duy trì cấu trúc rừng nguyên sinh đại diện cho kiểu rừng kín thường xanh nhiệt đới và á nhiệt đới núi thấp vùng Tây Bắc. Nằm trên độ cao từ 300 m đến đỉnh cao nhất 1.349 m với độ dốc bình quân trên 30 độ, khu bảo tồn sở hữu địa hình hiểm trở và hệ sinh cảnh vô cùng nhạy cảm.

Nghiên cứu được triển khai nhằm đánh giá toàn diện thành phần loài, mức độ nguy cấp, đặc điểm sinh thái học và khả năng tái sinh tự nhiên của các loài thực vật quý hiếm tại địa bàn 4 xã vùng đệm gồm Đoàn Kết, Đồng Chum, Đồng Ruộng và Tân Pheo. Kết quả nghiên cứu không chỉ thiết lập cơ sở dữ liệu khoa học thực chứng phục vụ công tác quản lý tài nguyên gen bản địa mà còn cung cấp luận cứ thực tiễn để bảo tồn 5.647 ha rừng đặc dụng, dung hòa giữa bảo tồn sinh học với cải thiện sinh kế cho 2.207 hộ dân sống ven rừng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tích hợp các khung lý thuyết kinh điển về sinh thái học thực vật và bảo tồn nguồn gen nguy cấp. Trọng tâm đánh giá dựa trên tiêu chuẩn Danh lục Đỏ của Hiệp hội Bảo vệ Thiên nhiên Thế giới (IUCN, 2016) với 9 bậc phân hạng từ Tuyệt chủng (EX), Tuyệt chủng ngoài tự nhiên (EW), Cực kỳ nguy cấp (CR), Nguy cấp (EN), Sẽ nguy cấp (VU) đến Thiếu dẫn liệu (DD). Nghiên cứu kết hợp Sách Đỏ Việt Nam (2007) và khung pháp lý tại Nghị định 32/2006/NĐ-CP (phân chia nhóm IA cấm khai thác thương mại và nhóm IIA hạn chế khai thác).

Hệ thống phân loại trạng thái rừng áp dụng thang phân chia theo Loeschau (1963) gồm 3 nhóm chính: Nhóm I (chưa có rừng, độ tàn che dưới 30%), Nhóm II (rừng phục hồi) và Nhóm III (rừng thứ sinh bị tác động gồm IIIA1, IIIA2, IIIA3). Danh pháp thực vật được chuẩn hóa đồng bộ theo hệ thống Brummitt (1992), Luật danh pháp quốc tế Tokyo (1994) và bộ phân loại của Phạm Hoàng Hộ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp điều tra ngoại nghiệp định lượng và nội nghiệp phân tích trên hệ thống thông tin địa lý GIS:

  • Điều tra theo tuyến và lập ô tiêu chuẩn (OTC): Thiết lập 4 tuyến khảo sát thực địa với tổng chiều dài 8,5 km (Tuyến 1: Thầm Luông 2,0 km; Tuyến 2: Đồng Chum 2,5 km; Tuyến 3: Tân Pheo 2,0 km; Tuyến 4: xóm Nhạp 2,0 km). Bố trí 31 ô tiêu chuẩn điển hình ngẫu nhiên với diện tích 1.000 m² (20 m x 50 m) trên các trạng thái rừng. Trong mỗi OTC, lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 m² (5 m x 5 m) tại 4 góc và trung tâm để đo đếm tái sinh và cây bụi thảm tươi.
  • Đánh giá áp lực nhân sinh: Thiết lập các OTC diện tích 400 m² định kỳ mỗi 500 m dọc tuyến để định lượng dấu vết khai thác gỗ, thu hái lâm sản ngoài gỗ và chăn thả gia súc theo thang điểm 4 mức (từ 0 điểm - không tác động, đến 3 điểm - tác động mạnh).
  • Phỏng vấn đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân (RRA): Chọn mẫu có chủ đích gồm 20 đối tượng am hiểu thực vật địa phương (thầy thuốc, thợ rừng, cán bộ kiểm lâm) để thu thập thông tin giá trị sử dụng và lịch sử phân bố loài.
  • Phân tích GIS và bản đồ: Toàn bộ dữ liệu tọa độ GPS thực địa được chuyển đổi thành hệ bản đồ chuyên đề phân bố loài nguy cấp tỷ lệ 1/25.000.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả điều tra thực địa đã ghi nhận 52 loài thực vật quý hiếm thuộc 31 họ và 3 ngành thực vật bậc cao có mạch tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh. Phân tích cấu trúc phân loại cho thấy các họ có số lượng loài quý hiếm cao nhất gồm họ Tiết dê (Menispermaceae) với 4 loài, tiếp theo là họ Trúc đào (Apocynaceae), họ Ráy (Araceae) và họ Nguyệt quế (Lauraceae).

Đánh giá mức độ bị đe dọa dựa trên các danh lục bảo tồn cho thấy:

  • Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007): Có 44 loài chiếm 84,62% tổng số loài quý hiếm ghi nhận; trong đó 1 loài ở cấp Cực kỳ nguy cấp (CR, chiếm 2,27%) là Re hương (Cinnamomum parthenoxylon), 14 loài ở cấp Nguy cấp (EN, chiếm 31,82%) như Nghiến, Trai lý, Bách xanh, Sến mật, Lan hài xanh, và 29 loài ở cấp Sẽ nguy cấp (VU, chiếm 65,91%).
  • Theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP: Có 20 loài được ghi nhận; trong đó 6 loài thuộc Nhóm IA nghiêm cấm khai thác (chiếm 30,00%) như các loài Lan kim tuyến (Anoectochilus spp.), Lan hài (Paphiopedilum spp.), và 14 loài thuộc Nhóm IIA hạn chế khai thác (chiếm 70,00%).
  • Theo Danh lục Đỏ IUCN (2016): 14 loài nằm trong danh sách đánh giá toàn cầu, bao gồm các mức độ từ LC đến EN.

Nghiên cứu chuyên sâu về sinh thái và tái sinh tự nhiên của 3 loài cây gỗ lớn ưu tiên ghi nhận:

  • Cây Nghiến (Excentrodendron tonkinense): Phân bố chủ yếu ở đai cao trên 600 m, ghi nhận 15 cá thể trưởng thành trên 3/4 tuyến điều tra. Khảo sát 48 ô dạng bản quanh 6 cây mẹ ghi nhận 14 cá thể tái sinh; trong đó 71,4% cá thể phân bố tập trung bên trong tán cây mẹ và chỉ 28,6% phân bố ngoài tán. Về chiều cao, 52,4% cây tái sinh đạt cấp 51-100 cm, 28,6% dưới 50 cm và 19,0% trên 100 cm.
  • Cây Trai lý (Garcinia fagraeoides): Phân bố tại đai cao trên 600 m với 8 cá thể trưởng thành. Khả năng tái sinh tự nhiên rất thấp, toàn tuyến chỉ phát hiện 4 cây con (3 cây cao trên 100 cm, chiếm 75,00%), nguyên nhân do vỏ hạt cứng khó nảy mầm và số lượng cây mẹ suy giảm.
  • Cây Sến mật (Madhuca pasquieri): Phân bố rộng ở đai cao dưới 600 m, xuất hiện trên cả 4 tuyến điều tra với 20 cá thể trưởng thành có đường kính ngang ngực từ 18 đến 35 cm.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh rõ nét mối tương quan giữa đai cao địa hình và sự phân bố của các quần xã thực vật quý hiếm. Các biểu đồ phân bố không gian chỉ ra rằng các loài đặc hữu núi đá vôi như Nghiến, Trai lý và Bách xanh tập trung dày đặc ở đai cao từ 600 m đến 1.349 m, nơi tầng đất Feralitic mùn đỏ vàng dày và độ dốc trên 30 độ tạo ra các vi tiểu khí hậu đặc thù với độ ẩm trung bình 83%. Ngược lại, các loài như Sến mật thích nghi tốt hơn ở tầng đai thấp dưới 600 m.

Khả năng tái sinh của các loài gỗ quý chịu sự chi phối mạnh bởi khoảng cách cây mẹ và mật độ thảm tươi. Tỷ lệ cây tái sinh trong tán cây mẹ của loài Nghiến đạt 71,4%, chứng minh tán rừng nguyên sinh đóng vai trò điều hòa bức xạ mặt trời cần thiết cho cây mạ sinh trưởng ở giai đoạn đầu. Tuy nhiên, sự cạnh tranh không gian dinh dưỡng từ lớp cây bụi thảm tươi dày đặc và nguy cơ bị chặt trộm các cây mẹ có đường kính lớn từ 18 đến 35 cm đang tạo ra "nút thắt cổ chai" trong diễn thế phục hồi tự nhiên.

Về mặt xã hội, áp lực nhân sinh từ 2.207 hộ gia đình (với 11.207 nhân khẩu, trong đó dân tộc Tày chiếm 85,34%, Dao chiếm 9,47%) sống dựa vào 97,5% lao động nông nghiệp là nguyên nhân trực tiếp thúc đẩy khai thác lâm sản ngoài gỗ và phá rừng. Mức thu nhập bình quân chỉ 3,0 triệu đồng/người/năm (khoảng 160 USD) và sản lượng lương thực 60,4 kg/người/năm buộc người dân bản địa phải khai thác tài nguyên rừng để bù đắp thâm hụt kinh tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen 52 loài thực vật quý hiếm và diện tích rừng đặc dụng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh, hệ thống giải pháp đồng bộ được đề xuất như sau:

  • Thực thi tuần tra và ứng dụng công nghệ giám sát rừng: Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hòa Bình phối hợp Ban quản lý Khu bảo tồn triển khai tuần tra định kỳ 100% diện tích 2.647 ha vùng bảo vệ nghiêm ngặt; ứng dụng phần mềm SMART và định vị GPS trên 4 tuyến điều tra trọng điểm nhằm giảm 80% tình trạng khai thác trộm cây Nghiến và Trai lý trong giai đoạn 2026-2028.
  • Quy hoạch vườn giống và kỹ thuật nhân giống phục hồi sinh thái: Viện Khoa học Lâm nghiệp phối hợp với Ban quản lý xây dựng 02 vườn ươm thực nghiệm quy mô 1.500 m² tại vùng đệm; tiến hành thu hái hạt giống và gieo ươm đạt chỉ tiêu 15.000 cây con giống bản địa (Nghiến, Trai lý, Bách xanh, Sến mật) mỗi năm, áp dụng trồng làm giàu rừng trên diện tích 3.000 ha phân khu phục hồi sinh thái đến năm 2030.
  • Xây dựng chuỗi giá trị lâm sản ngoài gỗ và chi trả dịch vụ môi trường rừng: Ủy ban nhân dân huyện Đà Bắc và chính quyền 4 xã vùng đệm phê duyệt đề án phát triển trồng cây dược liệu dưới tán rừng (Lan kim tuyến, Giảo cổ lam, Củ dòm); phấn đấu nâng mức thu nhập của người dân bản địa từ 3,0 triệu đồng lên tối thiểu 12,0 triệu đồng/người/năm vào năm 2030.
  • Nâng cao năng lực cộng đồng và chuyển giao tri thức bản địa: Ban quản lý Khu bảo tồn tổ chức 16 lớp tập huấn nghiệp vụ bảo tồn cho 100% cán bộ kiểm lâm địa bàn và đại diện 28 xóm bản; thiết lập 04 tổ tuần tra bảo vệ rừng cộng đồng tại các xã Đoàn Kết, Tân Pheo, Đồng Chum và Đồng Ruộng trước quý IV năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị lý luận và thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý khu bảo tồn và lực lượng kiểm lâm: Cung cấp bản đồ phân bố tỷ lệ 1/25.000 và danh lục chi tiết 52 loài thực vật nguy cấp làm căn cứ xác định các điểm nóng đa dạng sinh học để bố trí nhân lực tuần tra ngăn chặn khai thác trái phép.
  • Nhà nghiên cứu lâm nghiệp và sinh thái học: Cung cấp bộ số liệu thực chứng về đặc tính sinh thái, mật độ và quy luật tái sinh tự nhiên của các loài cây gỗ quý vùng núi đá vôi Tây Bắc phục vụ các đề tài bảo tồn nguồn gen tiếp theo.
  • Chính quyền địa phương và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học về thực trạng kinh tế - xã hội của 2.207 hộ dân vùng đệm để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia, lồng ghép bảo vệ rừng với xóa đói giảm nghèo bền vững.
  • Tổ chức phi chính phủ và các quỹ bảo tồn (WWF, IUCN, CITES): Sử dụng các chỉ số hiện trạng của 44 loài thuộc Sách Đỏ và 14 loài thuộc danh lục IUCN để làm cơ sở tài trợ, thiết kế các dự án bảo tồn đa dạng sinh học quy mô cảnh quan.

Câu hỏi thường gặp

Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh có bao nhiêu loài thực vật quý hiếm cần ưu tiên bảo vệ?
Nghiên cứu đã xác định được 52 loài thực vật quý hiếm thuộc 31 họ và 3 ngành thực vật bậc cao có mạch. Trong đó, có 44 loài ghi tên trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và 20 loài thuộc diện quản lý nghiêm ngặt của Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Loài thực vật nào tại Phu Canh đang ở mức độ đe dọa cao nhất?
Loài Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) được xếp ở cấp Cực kỳ nguy cấp (CR, chiếm 2,27% trong Sách Đỏ Việt Nam). Ngoài ra có 6 loài thực vật đặc biệt nguy cấp thuộc Nhóm IA theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP gồm 4 loài Lan kim tuyến và 2 loài Lan hài (Paphiopedilum malipoense, Paphiopedilum concolor).

Đặc điểm tái sinh tự nhiên của cây Nghiến tại khu vực nghiên cứu diễn ra như thế nào?
Cây Nghiến có khả năng tái sinh bằng hạt tương đối tốt dưới tán rừng ẩm trên núi đá vôi ở độ cao trên 600 m. Khảo sát 48 ô dạng bản cho thấy 71,4% cá thể tái sinh xuất hiện tập trung trong hình chiếu tán cây mẹ, trong đó 52,4% cây đạt chiều cao từ 51 cm đến 100 cm.

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tài nguyên thực vật quý hiếm tại Phu Canh là gì?
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực kinh tế của 2.207 hộ dân vùng đệm với mức thu nhập thấp (3,0 triệu đồng/người/năm), dẫn đến tình trạng khai thác gỗ trộm và thu hái quá mức các loài dược liệu thương phẩm, kết hợp với đặc tính sinh học hạt khó nảy mầm của một số loài như Trai lý.

Luận văn sử dụng phương pháp nào để điều tra cấu trúc thảm thực vật?
Nghiên cứu đã thiết lập 4 tuyến điều tra với tổng chiều dài 8,5 km, kết hợp lập 31 ô tiêu chuẩn diện tích 1.000 m² và 155 ô dạng bản diện tích 25 m² để đo đếm tầng cây cao, cây tái sinh, độ che phủ thảm tươi và đánh giá tác động nhân sinh theo thang điểm chuyên dụng.

Kết luận

  • Hệ thực vật Khu bảo tồn thiên nhiên Phu Canh sở hữu giá trị đa dạng sinh học vượt trội với 52 loài quý hiếm thuộc 31 họ, trong đó có 44 loài thuộc Sách Đỏ Việt Nam và 20 loài thuộc Nghị định 32/2006/NĐ-CP.
  • Khảo sát thực địa đã định vị chính xác phân bố và cấu trúc quần thể của các loài cây gỗ quý chủ chốt gồm 15 cây Nghiến, 8 cây Trai lý và 20 cây Sến mật tại các đai cao đặc trưng từ dưới 600 m đến trên 1.349 m.
  • Dữ liệu thực nghiệm chứng minh sự phụ thuộc mật thiết của quá trình tái sinh tự nhiên vào mật độ tán che cây mẹ (đạt 71,4% đối với loài Nghiến), đồng thời cảnh báo tình trạng suy giảm nghiêm trọng cây con loài Trai lý trong tự nhiên.
  • Luận văn đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu GIS tỷ lệ 1/25.000 cùng hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược về quản lý thể chế, nhân giống lâm nghiệp và cải thiện sinh kế cho 11.207 nhân khẩu vùng đệm.
  • Lộ trình ưu tiên giai đoạn 2026-2030 là triển khai số hóa hệ thống giám sát rừng, thành lập vườn ươm giống 1.500 m² và nhân rộng mô hình kinh tế dược liệu dưới tán rừng nhằm bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái 5.647 ha rừng Phu Canh.