ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là yếu tố cơ bản của môi trƣờng, rừng giữ vai trò quan trong không gì thay thế đƣợc trong việc phòng hộ, duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen và cung cấp nhiều loại lâm sản quý hiếm phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội không chỉ ở nƣớc ta mà ở cả các nƣớc trên thế giới tài nguyên rừng đang bị tàn phá nặng nề và ngày càng suy giảm về chất lƣợng, mất đa dạng sinh học, đặc biệt là những loài quý hiếm, có giá trị kinh tế cao.[17] Trầm hƣơng là phần gỗ của cây Dó nhiễm dầu. Một số lòai dó (Aquilaria), thuộc họ Trầm (Thymelaeae) trong quá trình sinh trƣởng, do những tác động nào đó, tạo sự phản ứng tƣơng tác, lâu ngày trong cây tích tụ một chất dạng dầu, rồi lan dần ra, làm biến đổi các phân tử gỗ, tạo nên nhiều màu sắc (nâu, xám, chàm, đen, … ), nhiều tính chất (cứng, mềm, dẻo …), nhiều mùi vị (thơm, đắng, cay, chua, ngọt, … ), nhiều hình dáng (tròn, xoắn, dẹp, dài, … ), ở nhiều vị trí (thân, cành, rễ) trong cây Dó. Đó là Trầm hƣơng , có tên giao dịch thƣơng mại Quốc tế Agarwood.
Trầm hƣơng (Aquilaria crassna) là một loài có giá trị kinh tế cao, đƣợc sử dụng trong các lĩnh vực nhƣ: Hƣơng liệu mỹ phẩm, làm chất định hƣơng, điều chế các loại nƣớc hoa; dƣợc liệu là vị thuốc quý hiếm. Sản phẩm biếu tặng trong lĩnh vực ngoại giao. Chế tác đồ thủ công mỹ nghệ…. chính vì thế mà ngƣời dân địa phƣơng đã khai thác loài này một cách bừa bãi, quá mức, chỉ vì lợi ích kinh tế trƣớc mắt, tăng thêm thu nhập cho đời sống [6].
Trƣớc tình hình khai thác quá mức nhƣ vậy nên số lƣợng của loài Trầm hƣơng còn lại trong KBTTN Sốp Cộp còn rất ít. Tuy nhiên, đến nay các nghiên cứu cơ bản về loài cây này, đặc biệt là tại KBTTN Sốp Cộp chƣa đƣợc quan tâm nhiều. Để có cơ sở cho việc gây trồng, bảo tồn và phát triển loài cây gỗ quý hiếm này thì việc nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của Trầm hƣơng là cần thiết. Khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp đƣợc thành lập năm 2002 tại Quyết định số 3440/2002/QĐ-UB ngày 11/11/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn 1 La, với diện tích 18.020 ha; thuộc địa phận 2 huyện Sông Mã và Sốp Cộp.
Đây là khu vực có hệ sinh thái đặc trƣng cho vùng núi Tây Bắc, là nơi có tính đa dạng sinh học cao. Kể từ khi thành lập đến nay các nghiên cứu về bảo tồn loài thực vật ở KBTTN này còn rất hạn chế, các kết quả đánh giá đƣợc đƣa ra chỉ dựa trên việc khảo sát sơ bộ và đánh giá nhanh. Do đó, cần phải có những dữ liệu mới nghiên cứu chuyên sâu làm cơ sở cho việc bảo tồn và phát triển loài. [10] Xuất phát từ thực tế trên kết hợp với kiến thức đã học ở nhà trƣờng, tôi tiến hành thực hiện đề tài:“ Nghiên cứu bảo tồn loài Trầm hƣơng (Aquilaria crassna Pierre ex Lecomte) tại khu bảo tồn thiên nhiên Sốp Cộp – tỉnh Sơn La” 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Nghiên cứu bảo tồn thực vật Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội hiện nay nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị đe dọa nghiêm trọng. Việc khai thác và sử dụng tài nguyên không hợp lý đã khiến cho nhiều loài đứng trƣớc nguy cơ bị tiêu diệt hoặc biến mất hoàn toàn. Trong những năm gần đây ở mỗi nƣớc, mỗi khu vực đều tìm tòi, thử nghiệm và lựa chọn cho mình một chính sách và chiến lƣợc quản lý tài nguyên hợp lý, tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế - xã hội – chính trị, điều kiện tự nhiên và tập quán canh tác của mỗi dân tộc, mỗi Quốc gia mà hình thành nên một hệ thống quản lý tài nguyên khác nhau.[14] Bảo tồn và sử dụng hợp lý các tài nguyên sinh học đã trở thành một chiến lƣợc chung trên toàn cầu. Nhiều tổ chức quốc tế đã ra đời để hƣớng dẫn việc đánh giá bảo tồn đa dạng sinh học nhƣ: Công ƣớc ĐDSH, Hiệp Hội Bảo Tồn Thiên Nhiên Quốc Tế (IUCN), Chƣơng trình môi trƣờng Liên hợp quốc (UNEP), Qũy Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Viện Tài Nguyên di truyền Quốc Tế (IPGRI).
Nhiều hội nghị hội thảo đƣợc tổ chức và nhiều cuốn sách mang chỉ dẫn về công tác bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học đƣợc xuất bản nhằm cung cấp những kiến thức rộng lớn về bảo tồn và phát triển Đa dạng sinh học và rất nhiều công ƣớc Quốc tế đã đƣợc nhiều quốc gia tham gia thực hiện [13] Hiện nay trên thế giới đang sử dụng hai phƣơng pháp bảo tồn đa dạng sinh học là [13]: Bảo tồn nguyên vị (in-situ) Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phƣơng pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên. Tuỳ theo đối tƣợng bảo tồn mà các hành động quản lý thay đổi. Thông thƣờng bảo tồn nguyên vị đƣợc thực hiện bằng cách thành lập các khu 3 bảo tồn và đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp. Ngoài ra theo Chƣơng trình Giáo dục Khoa học và Văn hoá Liên Hiệp Quốc (UNESCO) còn có Khu di sản thế giới, và theo công ƣớc RAMSAR có Khu bảo tồn đất ngập nƣớc RAMSAR.
Tuy nhiên, bảo tồn nguyên vị còn bao gồm cả các công việc quản lý các động thực vật hoang dã, các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngoài các khu bảo tồn. Trong nông nghiệp và lâm nghiệp, bảo tồn nguyên vị đƣợc hiểu là việc bảo tồn các giống loài cây trồng và cây rừng đƣợc trồng tại đồng ruộng hay trong các rừng trồng. Bảo tồn chuyển vị (ex situ) : Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trƣờng sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lƣu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trƣờng hợp: (1) Nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lƣu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.
Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vƣờn thực vật, vƣờn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sƣu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sƣu tập các chất mầm, mô cấy.Do các sinh vật hay các phần của cơ thể sinh vật đƣợc lƣu giữ trong môi trƣờng nhân tạo, nên chúng bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH. Nghiên cứu về sinh thái học thực vật Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, một nhận xét mà nhiều nhà lâm học biết đến là: Trong các kiến thức khoa học về các hệ sinh thái rừng còn chƣa hoàn chỉnh, việc xác định các hiểu biêt về mặt lâm học, sinh thái học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vững một cái nguyên vẹn là có thể chấp nhận đƣợc và có thể áp dụng cho tất cả các kiểu rừng khác nhau kể cả rừng mƣa nhiệt đới ẩm.P Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật học hoặc từng loài, trong đó chu kì sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý.
Ngoài mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng các phƣơng pháp toán học thƣờng gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên.[19] Các phƣơng pháp thực nghiệm về sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đƣợc trình bày trong “ Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D. Lache (1987) đã chỉ rõ đƣợc vấn đề nghiên cứu trong sinh thái học thực vật nhƣ sự thích nghi của các điều kiện: Dinh dƣỡng, nhiệt độ, ánh sáng, chế độ ẩm, khí hậu. Khi nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu ánh sáng và sự thích nghi của thực vật đối với tình trạng thiếu nƣớc. Theo đó, sự thích nghi với điều kiện có 3 kiểu: một – thích nghi kiểu đã quen, hai – thích nghi do cấu tạo kiểu hạn sinh, ba – có tính chịu đựng đƣợc tác dụng của mất nƣớc.
Tại Việt nam cũng có một số công trình nghiên cứu về sinh thái học của loài cây nhƣ: Nguyễn Bá Chất (1996) “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp ký thuật trồng nuôi dƣỡng cây Lát Hoa” đã kết luận: những vấn đề kỹ thuật lâm sinh là những vấn đề cấp thiết để khôi phục và phát triển rừng.[7] Nguyễn Huy Sơn, Vƣơng Hữu Nhi khi nghiên cứu đặc điểm của quần thể Thông nƣớc ở Đăk Lăk đã phân loại hiện trạng rừng, cấu trúc tổ thành loài và mật độ, cấu trúc tầng tán và độ tàn che. Kết luận rằng Thông nƣớc có sống hỗn loài từng đám trong rừng lá rộng thƣờng xanh ở vùng đầm lầy nƣớc ngọt. Nghiên cứu về tái sinh rừng Tái sinh rừng là một quá trình mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của ột thế hệ cây con của những cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dƣới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau nƣơng rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây con này là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố. Có hai nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến tái sinh tự nhiên đó là: nhóm nhân tố sinh thái ảnh hƣởng đến tái sinh rừng không có sự can thiệp của con ngƣời và nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con ngƣời.[16] Đã có rất nhiều công trình đề cập đến nghiên cứu về phân bố tái sinh tự nhiên nhƣ: Trong các công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ V.