ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá. Rừng là ngôi nhà chung của muôn loài thực vật, trong đó có những loài vô cùng quý hiếm. Nhờ cây xanh mà bầu không khí trở nên trong lành, giảm thiểu những tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn… góp phần phòng chống thiên tai, bão lũ vốn gây ra nhiều thiệt hại về người và của.
Không những thế, rừng còn được trồng vì mục đích phát triển kinh tế. Rừng là nguồn cung cấp gỗ cho các nhà máy sản xuất đồ nội thất, làm giấy… Rừng cũng là nơi cư trú của nhiều loại động vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng. Nhờ có rừng, hệ sinh thái được cân bằng. Rừng có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống mỗi người nhưng hiện nay tình trạng rừng xuống cấp, cháy rừng, đốt rừng làm nương rẫy, phá rừng đang diễn ra ngày càng trầm trọng.
Chính những hành động này đã dẫn đến việc rừng bị suy thoái. Vườn Quốc gia Ba Vì với tổng diện tích tự nhiên của vườn là 10. Theo số liệu thống kê hiện nay, có 2181 loài thực vật, thuộc 948 chi, 207 họ trong 6 ngành thực vật bậc cao có mạch, với nhiều loài cây quý hiếm như Bách xanh, Thông tre, Sến mật, Giổi lá bạc, Lát Hoa , Bát giác liên. Thảm thực vật ở đây rất phong phú với 3 thảm thực vật chính là: loại rừng kín lá rộng - một quần thể nguyên sinh tập trung ở núi Ngọc Hoa, Tản Viên, Đỉnh Vua ở độ cao 1.
Loại rừng kín xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim của rừng nhiệt đới núi thấp với độ cao 900m và loại rừng thưa nhiệt đới phân bố đều khắp ở vành đai có độ cao 400-700 m xung quanh sườn. Hiện nay, có khá nhiều mối đe dọa đến thực vật, các hệ sinh thái tại VQG Ba Vì và việc bảo tồn và phát triển các loài động thực vật là vô cùng quan trọng. Tại đây, có rất nhiều loài thực vât quý nhưng các đề tài nghiên cứu về các đặc tính của cây, bảo tồn và phát triển còn rất hạn chế vì vậy tôi đã quyết định thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn loài Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) tại VQG Ba Vì, Hà Nội” để mong muốn có thể đóng góp cho công việc bảo tồn và phát triển loài cây quý hiếm này! 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy: Họ Xoan (Meliaceae) có khoảng 50 chi và 550-620 loài, với sự phân bố khắp miền nhiệt đới; một chi (Toona) phát triển tới tận vùng ôn đới phía bắc của Trung Quốc và về phía nam tới đông nam Úc, và một chi khác (Melia) gần như xa như thế về phía Bắc.
Lát hoa phân bố rộng rãi ở Banglades, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Sri Lanka, Thái Lan, Việt Nam. Lát hoa cũng được nhân giống trồng ở nhiều nước khác như Cameroon, Costa Rica, Nigeria, Puerto Rico, Nam Phi, Hoa Kỳ. Cây chủ yếu cho giá trị khai thác gỗ đóng đồ dùng nội thất, ván khắc, ván ghép. Trong y học truyền thống Ấn Độ người ta dùng vỏ cây làm thuốc.
Lát hoa cũng thường được trồng ven làng bản dùng làm cây bóng mát ở một số nơi và là loài cây biểu tượng của tỉnh Phrae (miền bắc Thái Lan). Đã có những nghiên cứu về thực vật họ Xoan trên thế giới trong đó có những nghiên cứu về loài Lát hoa tuy nhiên cũng không nhiều. Hiern (1875) đã đặt tên cho chi Lát hoa; W. Hiern (1875), Pierre (1897), F Pellegrin (1911) mô tả hình thái loài và đơn vị dưới loài đồng thời đề cập vùng phân bố ở Việt Nam, Ấn Độ; Nghiên cứu về sinh trưởng của cây ở trong vườn ươm của Rai S N (1985); Bussche G II Vonden (1979) thông báo trồng thử 24.8 ha ở Tranvan For; Whtesel (1976) cho thấy khả năng thích nghi của lát hoa khi trồng ở Hawai.
Những thí nghiệm trồng thử ở Tranvan For và Hawai cho thấy sự thích nghi ở nhiều vùng sinh thái khác nhau của cây Lát hoa. Nhìn chung những nghiên cứu về cây Lát hoa trên thế giới còn hạn chế, các nghiên cứu chỉ được đề cập sơ lược và thiếu tư liệu cụ thể chưa tương xứng với giá trị của cây. Tại Việt Nam Ở Việt nam, Lát hoa thường phân bố tự nhiên ở các tỉnh Bắc miền Trung và miền Bắc, từ Hà Tĩnh trở ra Thanh Hóa, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình. Theo một số tài liệu thì Lát hoa thường mọc trên chân đất thoát nước tốt, ở độ cao 300-800m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình năm từ 2-430C, lượng mưa 1.
Trước đây cũng có người cho rằng ở Việt Nam, lát hoa chỉ mọc tốt ở những vùng núi đá vôi cao. Tuy thế, trong thực tế của nhiều năm trở lại đây, cây Lát hoa đã được đựa trồng trên nhiều chân đất khác nhau, từ đất thịt, thịt pha, cát pha, thậm chí trên vùng đất cát nghèo dinh dưỡng ở độ cao dưới 100m, vẫn thấy cây sinh trưởng, phát triển khá tốt. Đã có những nghiên cứu về thực vật Họ Xoan ở Việt Nam trong đó có loài Lát hoa. Năm 1996 Nguyễn Bá Chất đã hoàn thành luận án “Nghiên cứu một số đặc điểm Lâm học và biện pháp kĩ thuật gây trồng nuôi dưỡng cây lát hoa (Chukrasia tabularis A.
Đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên về một loài cây gỗ có giá trị trong tự nhiên từ đặc điểm lâm học đến kĩ thuật trồng nuôi dưỡng. Phạm Hoàng Hộ (1993) đã mô tả hình thái, xác nhận tên loài, phát hiện một số đặc điểm phân bố. Đỗ Đình Sâm (1985) nghiên cứu một vài đặc điểm đất dưới rừng Lát hoa trồng ở Nghĩa Đàn, cho thấy Lát hoa không làm suy thoái đất dưới rừng khi lát hoa 4 tuổi. Nguyễn Tiến Đạt (1985) nghiên cứu cầu ánh sáng cây con ở vườn ươm chỉ ra rằng: ở giai đoạn này Lát hoa cần che 30% ánh sáng hoàn toàn.
Ngô Quang Đê (1994) giới thiệu một số thông số về hạt giống, nhiệt độ xử lí hạt là 400C, cách bảo quản khô. Trần Minh Cảnh (2014) xác định công thức bón phân NPK đến khả năng sinh trưởng của cây Lát hoa ở giai đoạn vườn ươm phục vụ xây dựng nông thôn mới ở xã Tuấn Đạo. 3 Nhân giống Lát hoa bằng phương pháp nuôi cấy mô của Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thị Mỹ Hương,Văn Thu Huyền, Vũ Thị Ngọc, Trần Thanh Hương Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Nghiên cứa ảnh hưởng của phân bón NPK đến sinh trưởng của Lát hoa giai đoạn 1-3 tháng tuổi tại vườn ươm cơ sở 3 Trường đại học Hồng Đức của Đoàn Thị Thắm đã chỉ ra được ảnh hưởng của phân bón đến sự sinh trưởng của cây trong giai đoạn vườn ươm, cùng với đó là đưa ra các biện pháp kĩ thuật để chăm sóc hợp lí cho cây trong giai đoạn này.
Với các đặc tính của cây, Lát hoa những năm gần đây đã trở thành loại cây trồng phổ biến dùng để trồng làm bóng mát, trồng rừng kinh tế, đây là một nguồn gen quý cần được nghiên cứu bổ sung cho hệ thống cây xanh đô thị, không chỉ cho các khu đô thị có nền đất thịt hoặc thịt pha mà cả cho các khu đô thị vùng cát. Lát hoa cho gỗ đẹp, từ màu sắc đến thớ và vân gỗ, nên rất được ưa chuộng. Gỗ Lát hoa được dùng đóng đồ trang trí nội thất, đồ dùng gia dụng và cả đồ mộc mỹ nghệ. Nhựa cây màu vàng trong suốt có thể dùng pha trộn với nhiều loại nhựa khác để sử dụng.
Hoa chứa chất nhuộm màu vàng và màu đỏ có thể nghiên cứu làm chất màu thực phẩm. Lá non và vỏ thân chứa khoảng 15- 22% ta-nanh có thể tận dụng cho y học hoặc nhuộm sợi vải. Trong Y học, người ta dùng vỏ như một chất gây se mạnh và thường dùng để hạ sốt. Nghiên cứu làm giàu rừng bằng cây Lát hoa đã có nhiều tác giả quan tâm.
Được coi là loại gỗ quý với nhiều tác dụng Lát hoa hiện được nhiều địa phương đưa vào trồng và khai thác trong chương trình trồng rừng. Hiện nay ở Việt Nam, Lát hoa trong môi trường tự nhiên là rất ít. Một số tài liệu nói rằng Lát hoa mọc tự nhiên có vân rất đẹp, trong khi Lát hoa trồng ít có vân, đây có thể là nguyên nhân khiến Lát hoa trong tự nhiên bị suy giảm do khai thác. Vì vậy việc bảo tồn loài cây quý hiếm này rất quan trọng và cần thiết.
Tại khu vực nghiên cứu (VQG Ba Vì) Tại VQG Ba Vì, Lát hoa là một trong những cây gỗ quý hiếm điển hình phân bố rộng rãi từ chân núi cho đến đỉnh núi rất dễ gặp hai bên đường đi. 4 Hạt kiểm lâm đã ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật để ươm giống Lát hoa chọn những cây trội để trồng trong VQG, góp phần rất lớn vào việc bảo tồn và phát triển loài. Đã có những nghiên cứu về Lát hoa tuy nhiên tại VQG Ba Vì lại chưa có những nghiên cứu cụ thể về đặc điểm sinh học, đặc điểm sinh thái, các giải pháp bảo tồn loài. Vì vậy việc nghiên cứu về cây Lát hoa sẽ có ý nghĩa quan trọng, làm cơ sở phục vụ cho công tác bảo tồn và phát triển loài cây quý hiếm này.
5 CHƢƠNG II MỤC TIÊU NỘI DUNG PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu Xác định được đặc điểm lâm học của quần thể Lát hoa tại VQG Ba Vì, làm cơ sở đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: quần thể loài Lát hoa phân bố tại VQG Ba Vì. Phạm vi nghiên cứu thực hiện trên các tuyến và ô tiêu chuẩn tại VQG Ba Vì trong thời gian từ tháng 2 đến tháng 05 năm 2017.
Nội dung nghiên cứu - Điều tra phân bố của loài Lát hoa tại khu vực nghiên cứu. - Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và sinh thái học của Lát hoa. - Điều tra các tác động đến loài Lát hoa tại khu vực nghiên cứu. - Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển loài.
Phƣơng pháp nghiên cứu 2.