MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sơn La là một trong những tỉnh thuộc khu vực Tây Bắc, có độ che phủ rừng khá lớn (khoảng 40%), với diện tích rừng tự nhiên khoảng 440. Tại đây đã thành lập 4 khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) gồm: Sốp Cộp, Xuân Nha, Tà Xùa và Copia. Trong đó, hai KBTTN Copia và Sốp Cộp đều nằm ở phía Tây của tỉnh nhưng ngăn cách bởi sông Mã.
Các nghiên cứu về bò sát ở tỉnh Sơn La chủ yếu tập trung ở KBTTN Xuân Nha, Sốp Cộp, Copia và Tà Xùa. Huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn la được thành lập vào ngày 10 tháng 6 năm 2013, theo Nghị quyết số 72/NQ-CP của Chính phủ, trên cơ sở điều chỉnh 97.984 ha diện tích tự nhiên và 55.797 nhân khẩu, gồm 14 xã: Chiềng Khoa, Chiềng Xuân, Chiềng Yên, Liên Hòa, Lóng Luông, Mường Chen, Mường Tè, Quang Minh, Song Khủa, Suối Bàng, Tân Xuân, Tô Múa, Vân Hồ, Xuân Nha thuộc huyện Mộc Châu. Trung tâm hành chính huyện Vân Hồ đặt tại Bản Suối Lìn. Trước đây, một số nghiên cứu về khu hệ bò sát có Trương Văn Lã và Nguyễn Văn Sáng (2003) [19] thống kê được 43 loài bò sát ở KBTTN Xuân Nha (trong đó có xã Chiềng Xuân và Tân Xuân của huyện Vân Hồ), tiếp theo là thống kê của Nguyen et al.
(2009) [43] ở tỉnh Sơn La có 69 loài bò sát. Nguyễn Văn Sáng và cộng sự (2010) [12] xác định tại KBTTN Xuân Nha có 50 loài bò sát. Tuy nhiên, thành phần loài bò sát ghi nhận chủ yếu ở KBTTN Xuân Nha chỉ giới hạn trong một khu hệ nhất định, toàn huyện chưa được điều tra thu thập mẫu do điều kiện địa hình phức tạp, chủ yếu là núi đá vôi. Sự đa dạng về loài của khu hệ chắc chắn sẽ cao hơn nhiều nếu được nghiên cứu chuyên sâu.
Nghiên cứu về thành phần loài bò sát, có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần đánh giá hiện trạng về đa dạng thành phần loài, bổ sung vào danh lục loài còn thiếu, cung cấp các dẫn liệu về phân bố theo sinh cảnh và độ cao nhằm tạo cơ sở khoa học cho đề xuất một số biện pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng nói chung và bò sát, nói riêng góp phần đánh giá giá trị đa dạng sinh học làm cơ sở cho công tác quy hoạch bảo tồn của huyện Vân Hồ. Chính vì vậy, tôi chọn đề LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tài “Nghiên cứu thành phần loài, phân bố và đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ bò sát (Reptilia) tại huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Góp phần bảo tồn khu hệ bò sát tại huyện Vân hồ, tỉnh Sơn La. Mục tiêu cụ thể: + Xác định được thành phần loài bò sát tại KVNC; + Xác định được các mối đe dọa và đề xuất các giải pháp bảo tồn khu hệ bò sát ở KVNC.
Nội dung nghiên cứu - Điều tra đa dạng thành phần loài bò sát ở huyện Vân Hồ, mô tả đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận cho huyện Vân Hồ và tỉnh Sơn La. - Đặc điểm phân bố của các loài bò sát theo các dạng sinh cảnh, độ cao ở huyện Vân Hồ. - So sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát ở KVNC với một số khu vực khác có sinh cảnh tương tự. - Xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài bò sát ở khu vực nghiên cứu từ đó đề xuất các biện pháp bảo tồn.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Đề tài cung cấp dẫn liệu khoa học cập nhật về thành phần loài, sự phân bố và thông tin về hiện trạng của các loài bò sát ở huyện Vân Hồ. Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở khoa học đáng tin cậy đối với địa phương cho công tác quy hoạch bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên bò sát nói riêng và động vật nói chung ở tỉnh Sơn La. Những đóng góp của đề tài Đã ghi nhận phân bố 03 mới loài bò sát cho tỉnh Sơn La và cập nhật Danh lục 40 loài bò sát cho huyện Vân Hồ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lƣợc sử nghiên cứu về đa dạng sinh học bò sát tại Việt Nam Lịch sử nghiên cứu về bò sát ở Việt Nam có quá trình phát triển khá lâu đời và có thể đươc chia ra làm 3 giai đoạn: thời kì thứ nhất là từ năm 1954 trở về trước, thời kì thứ 2 là từ năm 1954 đến năm 1975 và thời kì thứ 3 là 1975 đến nay. Trước năm 1954: Bourret 1935 [25], đã mô tả các đặc điểm hình thái để phân loại rắn và lập khóa định loại rắn ở Đông Dương. Trong các công trình sau đó của mình Bourret 1937 [24], mô tả đặc điểm hình thái 32 loài thằn lằn có ở Đông Dương; đặc điểm hình thái các loài rắn độc ở Đông Dương được mô tả năm 1938 [28]. Nửa đầu thế kỷ XX, ba cuốn chuyên khảo của Bourret gồm Les Serpents de l‟Indochine xuất bản năm 1936 [26], Les Batraciens de l‟Indochine xuất bản năm 1942 [28], được coi là tài liệu đầy đủ nhất ở thời điểm đó về thành phần bò sát của vùng Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia).
Tác giả này đã ghi nhận 177 loài và phân loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa ở vùng Đông Dương. Cùng với Bourret, Smith cũng có đóng góp quan trọng trong nghiên cứu Bò sát ở Việt Nam. Trong chuyên khảo của Smith 1943 [47], tác giả đã trình bày về phương pháp nghiên cứu, mô tả và lập các khóa phân loại về rắn ở Ấn Độ và Đông Dương, đây là tài liệu được nhiều tác giả Việt Nam dùng để định tên nhiều loài rắn ở nước ta. Từ năm 1955 - 1974: Các cuộc khảo sát ở miền Bắc chủ yếu do Đào Văn Tiến chủ trì, năm 1956 khi nghiên cứu ở Vĩnh Linh (tỉnh Quảng Trị) tác giả đã thống kê được 13 loài bò sát, trong đó có 1 loài rùa mới.
Sau đó địa điểm khảo sát đã mở rộng ra một số vùng như: Quảng Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hoà Bình, Hà Tĩnh và Ninh Bình. Các nghiên cứu vẫn tập trung vào thống kê và phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 loại, tuy nhiên các kết quả khảo sát chỉ được thể hiện trong những báo cáo khoa học mà chưa được công bố trên tạp chí hay sách chuyên khảo. Từ năm 1975 - 1986: Trong giai đoạn này có 5 loài thằn lằn mới được phát hiện ở Việt Nam, trong đó có 3 loài do Darevsky và Nguyễn Văn Sáng mô tả. Đáng chú ý nhất là các công trình của Đào Văn Tiến (1977 - 1982) [15], [16], [17], tác giả đã công bố liên tiếp 5 bài báo về khóa định loại thằn lằn, rắn, rùa, cá sấu và đã thống kê được 276 loài bò sát ở Việt Nam.
Trần Kiên và cộng sự (1981) đã thống kê có 159 loài bò sát ở miền Bắc Việt Nam [15]. Từ 1975 đến nay: Trong báo cáo của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, (1981) [5], về Lưỡng cư Bò sát miền Bắc Việt Nam (1956 - 1976) [5], đã trình bày sơ lược lịch sử nghiên cứu bò sát Việt Nam từ đầu cho đến những năm 70 của thế kỷ XX. Các vùng nghiên cứu gồm: Vĩnh Linh, Lạng Sơn, Hà Bắc, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Bắc Thái, Yên Bái, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Tĩnh, Vịnh Bắc Bộ từ 1956 - 1975, kết quả đã ghi nhận 159 loài bò sát. Tài liệu tổng kết về các kết quả khảo sát ở miền Bắc của Trần Kiên và các cs.
Thời kỳ 1987 - 2009: Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã tổng kết ở nước ta có, 258 loài Bò sát, đến năm 2005 tổng số loài đã lên tới 296 loài Bò sát và cuốn danh lục mới xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài 368 loài bò sát [14]. Một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu ở vùng núi đá vôi phải kể đến như: Lưu Quang Vinh và cộng sự (2013) đã cập nhật thông tin về 101 loài cho khu hệ bò sát Việt Nam,trong đó ghi nhận thêm nhiều loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng [36]. Nhiều loài Bò sát mới được ghi nhận và công bố từ năm 2016 đến hiện nay: Cyrtodactylus soni Le, Nguyen, Le & Ziegler, 2016; Dixonius minhlei Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer, Brennan, Ngo & Nguyen, 2016; Oligodon condaoensis Nguyen, Nguyen, Le & Murphy, 2016; Cyrtodactylus gialaiensis Luu, Dung, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Nguyen, Le & Ziegler, 2017; cyrtodactylus sonlaensis Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017; ; Oligodon c ulaochamensis Nguyen, Nguyen, Nguyen, Phan, Jiang & Murphy, 2017; Acanthosaura murphyi Nguyen, Do, Hoang, Nguyen, Mccormack, Nguyen, Orlov, Nguyen & Nguyen, 2018; Cyrtodactylus sangi Pauwels, Nazarov, Bobrov & Poyarkov, 2018; Lygosoma siamensis Siler, Heitz, Davis, Freitas, Aowphol, Termprayoon & Grismer, 2018; Opisthotropis voquyi Ziegler, David, Ziegler, Pham, Nguyen & Le, 2018; Parafimbrios vietnamensis Ziegler, Ngo, Pham, Nguyen, Le & Nguyen, 2018; Sphenomorphus yersini Nguyen, Nguyen, Nguyen, Orlov & Murphy, 2018; Cyrtodactylus septimontium Murdoch, Grismer, Wood, Neang, Poyarkov, Tri, Nazarov, Aowphol, Pauwels, Nguyen & Grismer, 2019; Cyrtodactylus taybacensis Pham, Le, Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019; Pelodiscus variegatus Farkas, Ziegler, Pham, Ong & Fritz, 2019. Như vậy, Việt Nam là một trong những quốc gia có khu hệ bò sát đa dạng nhất thế giới với 501 loài (Uetz & Hošek, 2019) [50].
Ở Việt Nam, các loài bò sát phân bố hầu khắp cả 3 vùng địa hình là: Đồng Bằng, Trung Du và Miền Núi. Số lượng các loài bò sát mới, được phát hiện tăng nhanh trong những năm gần đây. Hầu hết các loài bò sát mới được phát hiện tại sinh cảnh rừng núi đá vôi. Điều này cho thấy, đối với nhóm bò sát, hệ sinh thái núi đá vôi là nơi chứa đựng tính đa dạng sinh học cao và còn nhiều điều bí ẩn, cần được tiếp tục nghiên cứu khám phá.
Lƣợc sử nghiên cứu đa dạng sinh học bò sát tại khu vực nghiên cứu Danh sách các loài bò sát đã được ghi nhận cho tỉnh Sơn La được thống kê, cụ thể như sau: Năm 1987, Hikida & Darevsky lần đầu ghi nhận loài Eumeces tamdaoensis (Plestiodon tamdaoensis) ở tỉnh Sơn La [34]. Năm 1991, Viện điều tra và Quy hoạch rừng - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã ghi nhận được và 44 loài bò sát ở KBTTN Xuân Nha [21]; tiếp theo Bobrov & Ho Thu Cuc (1993) [23] ghi nhận ở Sơn La có 9 loài thằn lằn, trong đó, bổ sung 6 loài cho Sơn La.