Tổng quan nghiên cứu

Khu vực huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La sở hữu diện tích tự nhiên rộng lớn lên tới 98.289 ha, trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm 57.338,6 ha với độ che phủ rừng duy trì ở mức cao khoảng 40%. Mặc dù địa phương đóng vai trò là hành lang sinh thái quan trọng thuộc vùng Tây Bắc kết nối với Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha, các nghiên cứu chuyên sâu về khu hệ bò sát tại đây trước năm 2019 vẫn còn nhiều khoảng trống do địa hình núi đá vôi hiểm trở và chia cắt phức tạp. Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng đã được triển khai nhằm giải quyết vấn đề thiếu hụt cơ sở dữ liệu định lượng về thành phần loài, đặc tính phân bố không gian và hiện trạng sinh thái của lớp Bò sát (Reptilia) trên địa bàn toàn huyện.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu tập trung vào ba trọng tâm: xác định chính xác danh lục thành phần loài bò sát, đánh giá quy luật phân bố theo các dạng sinh cảnh và đai cao địa hình, đồng thời nhận diện toàn diện các nhân tố đe dọa nhân sinh để đề xuất giải pháp bảo tồn khả thi. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại 4 xã trọng điểm gồm Vân Hồ, Lóng Luông, Xuân Nha và Chiềng Khoa trong khung thời gian từ tháng 2 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019. Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống dữ liệu cập nhật với 40 loài bò sát thuộc 32 giống, 13 họ, ghi nhận bổ sung 03 đơn vị phân loại mới cho tỉnh Sơn La và bổ sung mẫu vật thực địa cho 21 loài tại huyện Vân Hồ, tạo tiền đề vững chắc cho công tác quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân loại học động vật hiện đại kết hợp với nguyên lý sinh thái học cảnh quan. Hệ thống phân loại học tiến hóa của Oppel (1811) và Bourret (1936, 1942) được áp dụng để xác định vị trí phân loại của các bộ, họ, giống và loài bò sát. Cấu trúc nghiên cứu phân bố không gian dựa trên lý thuyết phân chia thảm thực vật nhiệt đới của UNESCO (1973) nhằm phân loại các kiểu sinh cảnh sống đặc trưng. Bên cạnh đó, mô hình phân tầng độ cao sinh thái theo nghiên cứu của Bain và Hurley (2011) được sử dụng để phân tích sự thay đổi thành phần loài theo các lát cắt địa hình tại vùng núi Đông Dương.

Bốn khái niệm khoa học cốt lõi được vận hành xuyên suốt đề tài gồm: khu hệ bò sát (tập hợp các loài bò sát cùng tồn tại trong một vùng địa lý xác định), sinh cảnh rừng karst (hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi có tính chọn lọc sinh thái cao), chỉ số tương đồng Sorensen-Dice (thước đo định lượng mức độ giống nhau về thành phần loài giữa các sinh cảnh hoặc vùng địa lý), và giá trị bảo tồn loài (mức độ ưu tiên bảo vệ dựa trên các tiêu chí nguy cấp của Sách Đỏ Việt Nam và Danh lục Đỏ IUCN).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ quá trình điều tra thực địa có hệ thống trên 10 tuyến khảo sát với tổng chiều dài 70,4 km trải rộng qua 4 xã đại diện. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 51 mẫu vật thực tế được thu thập và phân tích hình thái chi tiết trong phòng thí nghiệm, gồm 30 mẫu rắn và 21 mẫu thằn lằn, kết hợp với các dữ liệu ghi nhận từ quan sát trực tiếp, bẫy ảnh và phỏng vấn cộng đồng dân cư bản địa.

Phương pháp chọn mẫu theo tuyến khảo sát có định hướng kết hợp phân tầng sinh cảnh được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc bao quát các dạng sinh cảnh chia cắt mạnh ở vùng núi cao. Thời gian khảo sát thực địa được chia thành hai khung giờ riêng biệt: ban ngày từ 10 giờ đến 15 giờ và ban đêm từ 19 giờ đến 23 giờ. Tốc độ di chuyển trên tuyến được duy trì chậm dưới 1 km/h để tối đa hóa khả năng phát hiện các loài biến nhiệt có tập tính ngụy trang cao.

Các chỉ số hình thái đo đạc bằng thước kẹp điện tử với độ chính xác cao đạt sai số chỉ ±0,01 mm, kết hợp đếm số hàng vảy dưới kính hiển vi chuyên dụng Leica S6E. Mức độ tương đồng về thành phần loài giữa huyện Vân Hồ và các khu bảo tồn lân cận được phân tích bằng phần mềm PAST Statistic thông qua thuật toán nhóm cụm theo chỉ số Sorensen-Dice, đảm bảo tính khách quan và chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát đã thống kê và định danh được tổng số 40 loài bò sát thuộc 32 giống, 13 họ và 02 bộ tại khu vực nghiên cứu. Trong đó, cấu trúc dữ liệu ghi nhận gồm 21 loài có mẫu vật lưu trữ, 08 loài qua quan sát trực tiếp, 08 loài qua điều tra phỏng vấn có kiểm chứng và 03 loài qua tư liệu hình ảnh. Bộ Có vảy (Squamata) chiếm ưu thế tuyệt đối với 37 loài (chiếm 92,5% tổng số loài), trong khi Bộ Rùa (Testudines) ghi nhận 03 loài (chiếm 7,5% tổng số loài).

Họ Rắn nước (Colubridae) thể hiện tính đa dạng cao nhất với 10 giống (chiếm 32,3% tổng số giống) và 14 loài (chiếm 35,0% tổng số loài ghi nhận). Các họ có độ đa dạng kế tiếp gồm họ Tắc kè (Gekkonidae), họ Thằn lằn bóng (Scincidae) và họ Rắn hổ (Elapidae), mỗi họ đều ghi nhận 4 loài (chiếm tỷ lệ 10,0% mỗi họ). Họ Rắn lục (Viperidae) ghi nhận 3 loài (chiếm 7,5%). Điểm nhấn học thuật quan trọng nhất của luận văn là đã ghi nhận bổ sung phân bố mới cho tỉnh Sơn La đối với 01 loài là Rắn ráo xanh (Ptyas nigromarginata) và 02 giống gồm giống Thạch sùng dẹp (Hemiphyllodactylus) và giống Rắn xe điếu (Achalinus). Đồng thời, đề tài bổ sung 21 loài có dẫn liệu mẫu vật chuẩn xác cho danh mục khu hệ huyện Vân Hồ.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa thành phần loài theo sinh cảnh phản ánh rõ nét đặc thù sinh thái của vùng núi đá vôi Tây Bắc. Sinh cảnh rừng tự nhiên trên núi đá vôi ít bị tác động sở hữu độ phong phú loài cao nhất với hơn 65% tổng số loài xuất hiện, do cung cấp nhiều vi sinh cảnh trú ẩn, độ ẩm ổn định và nguồn thức ăn dồi daw. Ngược lại, sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp có thành phần loài nghèo nàn nhất, chủ yếu là các loài thích nghi rộng như Thạch sùng đuôi sần (Hemidactylus frenatus) hay Thằn lằn bóng hoa (Eutropis multifasciatus).

Về phân bố theo đai cao, dữ liệu được trực quan hóa rõ ràng thông qua biểu đồ phân bố lát cắt địa hình, cho thấy sự tập trung cao của các loài bò sát ở đai cao trên 800 m so với mực nước biển với hơn 70% số loài ghi nhận. Khi phân tích tương quan bằng biểu đồ cây phân nhóm (Dendrogram) trên phần mềm PAST Statistic, khu hệ bò sát huyện Vân Hồ có mức độ tương đồng cao nhất với Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Nha và Sốp Cộp, nhưng có sự phân hóa đáng kể so với Vườn Quốc gia Cúc Phương do khác biệt về tính chất vi khí hậu và độ cao địa hình.

Nghiên cứu cũng chỉ ra các áp lực sinh thái nghiêm trọng tác động trực tiếp lên quần thể bò sát địa phương. Trong quá trình điều tra, đã ghi nhận 08 vụ phát vén rừng làm nương rẫy với tổng diện tích 1,53 ha, 09 vụ vi phạm lâm luật với khối lượng gỗ thu giữ 10,5 m3, cùng tình trạng khai thác đá xây dựng phá hủy hang động karst. Ngoài ra, việc săn bắt phục vụ thương mại ẩm thực và các vụ tai nạn giao thông xe cán trên tuyến Quốc lộ 6 chạy qua xã Vân Hồ và Lóng Luông đang đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của nhiều loài nguy cấp như Rùa núi viền (Manouria impressa) và Rắn hổ mang chúa (Ophiophagus hannah).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích định lượng về phân bố và mức độ đe dọa, đề tài đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm bảo tồn bền vững khu hệ bò sát huyện Vân Hồ:

  • Bảo tồn nguyên vẹn sinh cảnh rừng núi đá vôi: Tiến hành rà soát và thiết lập ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt đối với 57.338,6 ha đất lâm nghiệp, đặc biệt là các dải rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh phục hồi trên núi đá vôi tại 4 xã Vân Hồ, Lóng Luông, Xuân Nha và Chiềng Khoa. Mục tiêu hoàn thành cắm mốc ranh giới sinh cảnh trọng yếu trước năm 2025 do Chi cục Kiểm lâm tỉnh Sơn La phối hợp Ban Quản lý rừng đặc dụng Xuân Nha chủ trì.
  • Kiểm soát và triệt phá các điểm nóng săn bắt, buôn bán trái phép: Tăng cường hoạt động tuần tra liên ngành định kỳ hàng tuần dọc tuyến Quốc lộ 6 và các chợ dân sinh, phấn đấu kéo giảm 85% các vụ buôn bán, nuôi nhốt và vận chuyển bò sát hoang dã trái phép trong giai đoạn 2020-2023 do Hạt Kiểm lâm huyện Vân Hồ phối hợp Công an huyện thực hiện.
  • Chuyển đổi mô hình sinh kế nông nghiệp bền vững: Thực hiện hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số chuyển đổi 300 ha đất canh tác nương rẫy bạc màu trên đất dốc sang mô hình nông lâm kết hợp trồng cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, góp phần hạ tỷ lệ hộ nghèo từ 40,35% xuống dưới 25% vào năm 2025 do Ủy ban nhân dân huyện Vân Hồ phối hợp Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn điều phối.
  • Nâng cao nhận thức bảo tồn đa dạng sinh học trong cộng đồng: Triển khai 50 chương trình truyền thông và tập huấn kỹ thuật nhận dạng các loài bò sát quý hiếm tại 141 bản thuộc 14 xã, bảo đảm trên 95% hộ dân ký cam kết không săn bắt, không phá rừng trong giai đoạn 2020-2024 do Đoàn Thanh niên và Hội Nông dân huyện phối hợp thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và lực lượng Kiểm lâm: Cung cấp danh lục định danh 40 loài bò sát chuẩn hóa cùng tọa độ phân bố thực địa để phục vụ công tác quy hoạch phân khu bảo tồn thiên nhiên, xây dựng phương án tuần tra ngăn chặn săn bắt động vật hoang dã tại huyện Vân Hồ và tỉnh Sơn La.
  • Các nhà nghiên cứu phân loại học và sinh thái học: Cung cấp hệ thống số liệu đo đạc hình thái chi tiết của 51 mẫu vật tiêu bản cùng các ghi nhận bổ sung về phân bố địa lý của các giống và loài bò sát mới cho vùng núi Tây Bắc.
  • Giảng viên và học viên, sinh viên khối ngành Lâm nghiệp và Sinh học: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp điều tra thực địa trên địa hình núi đá vôi hiểm trở, kỹ thuật thu thập và xử lý mẫu vật bò sát chuẩn quy trình phòng thí nghiệm.
  • Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên phi chính phủ: Cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng định lượng về các mối đe dọa nhân sinh đối với sinh cảnh karst để xây dựng các hồ sơ tài trợ dự án bảo tồn nguồn gen nguy cấp và phát triển sinh kế cộng đồng vùng đệm.

Câu hỏi thường gặp

  • Đề tài đã ghi nhận được bao nhiêu loài bò sát tại huyện Vân Hồ? Nghiên cứu đã ghi nhận chính xác 40 loài bò sát thuộc 32 giống, 13 họ, 02 bộ. Trong đó, có 21 loài được xác nhận bằng mẫu vật thực tế, 08 loài ghi nhận qua quan sát thực địa, 08 loài qua phỏng vấn người dân và 03 loài qua tư liệu hình ảnh chất lượng cao.

  • Đóng góp mới nổi bật nhất của luận văn về mặt phân loại học là gì? Luận văn đã ghi nhận bổ sung phân bố mới cho tỉnh Sơn La 01 loài là Rắn ráo xanh (Ptyas nigromarginata) và 02 giống gồm giống Thạch sùng dẹp (Hemiphyllodactylus) và Rắn xe điếu (Achalinus), đồng thời bổ sung 21 loài có mẫu vật cho danh lục bò sát huyện Vân Hồ.

  • Họ bò sát nào chiếm ưu thế lớn nhất trong khu hệ nghiên cứu? Họ Rắn nước (Colubridae) chiếm ưu thế áp đảo tại khu vực nghiên cứu với 10 giống (chiếm 32,3% tổng số giống) và 14 loài (chiếm 35,0% tổng số loài), thích nghi đa dạng ở cả 3 kiểu sinh cảnh từ rừng núi đá vôi đến các khu đất nông nghiệp.

  • Phương pháp điều tra thực địa ban đêm được thiết kế như thế nào? Nhóm tác giả tiến hành điều tra trên 10 tuyến dài 70,4 km trong khung giờ từ 19 giờ đến 23 giờ. Người điều tra di chuyển với tốc độ chậm dưới 1 km/h kết hợp đèn pin công suất lớn soi kỹ hai bên tuyến để nhận diện các loài hoạt động đêm và ngụy trang trên vách đá.

  • Tác động nhân sinh nào đang đe dọa lớn nhất đến khu hệ bò sát? Mất sinh cảnh sống do phá rừng làm nương rẫy với 1,53 ha ghi nhận trong đợt khảo sát, cùng với hoạt động khai thác đá vôi và bẫy bắt buôn bán động vật hoang dã phục vụ thương mại là những mối đe dọa nghiêm trọng nhất làm suy giảm quần thể bò sát.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công danh lục chuẩn hóa gồm 40 loài bò sát thuộc 32 giống, 13 họ, 02 bộ tại huyện Vân Hồ, bổ sung 21 loài có mẫu vật thực tế cho địa bàn nghiên cứu.
  • Công trình mang lại giá trị phân loại học quan trọng khi phát hiện và ghi nhận bổ sung 01 loài (Ptyas nigromarginata) cùng 02 giống (Hemiphyllodactylus và Achalinus) mới cho khu hệ bò sát tỉnh Sơn La.
  • Nghiên cứu đã làm sáng tỏ quy luật phân hóa không gian với hơn 65% số loài phân bố tại sinh cảnh rừng núi đá vôi tự nhiên và trên 70% số loài tập trung ở đai độ cao trên 800 m.
  • Đề tài đã phân tích định lượng các nhân tố đe dọa sinh thái chính gồm mất sinh cảnh do nương rẫy, khai thác khoáng sản đá vôi và áp lực săn bắt thương mại dọc tuyến Quốc lộ 6.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý và sinh kế với lộ trình thực hiện rõ ràng trong giai đoạn 2020-2025, định hướng cho các nhà quản lý lâm nghiệp và chính quyền địa phương triển khai ngay các hành động bảo vệ tính đa dạng sinh học quý giá tại vùng núi Tây Bắc.