ĐẶT VẤN ĐỀ Dây Mỏ quạ (Dischidia major (Vahl) Merr.), là một dược liệu được sử dụng rộng rãi ở các tỉnh phía nam Việt Nam để điều trị phong thấp, đau nhức, rắn cắn. Một số nước Châu Á như Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Thái Lan,… cũng sử dụng dược liệu này trong các phương thuốc điều trị ho, rối loạn chức năng gan, đau dạ dày, [7] … Thành phần hóa học của Dây Mỏ quạ qua phân tích cho thấy triterpenoid là thành phần chính, trong đó ß-amyrin có hàm lượng cao nhất. Cao chiết giàu amyrin được chiết xuất từ lá Mỏ quạ, đã được chứng minh có tác dụng kháng viêm, giảm đau [8]. Đây là tiền đề hướng đến việc nghiên cứu một dạng chế phẩm hiện đại cho dược liệu này.
Tiếp nối những nghiên cứu về Mỏ quạ, nhóm nghiên cứu đã tinh chế được cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin (sau đây gọi là cao Mỏ quạ), sơ bộ xác định có 3 thành phần triterpen chính trong đó hàm lượng ß-amyrin chiếm trên 45%, cao chiết thu được chỉ tan trong dung môi kém phân cực, tính chất này gây nhiều cản trở trong việc hấp thu và khó khăn trong việc phát triển các sản phẩm dược, mỹ phẩm và thực phẩm chức năng. Việc ứng dụng công nghệ nano tải các hoạt chất có nguồn gốc dược liệu giúp bảo vệ các hoạt chất kém bền khỏi môi trường bên ngoài, tăng hấp thu các hoạt chất kém tan và kiểm soát sự giải phóng hoạt chất [57],. là một hướng nghiên cứu các thuốc có nguồn gốc dược liệu đang được chú ý nghiên cứu và phát triển. Trong đó, hệ tiểu phân nano lipid với nhiều ưu điểm vượt trội được lựa chọn nghiên cứu tải cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin với mong muốn cải thiện độ tan, tăng sinh khả dụng của phân đoạn chiết xuất.
Với mong muốn nghiên cứu để đưa ra thị trường các sản phẩm có nguồn gốc dược liệu của Việt Nam với công nghệ hiện đại giúp nâng cao hiệu quả điều trị, đề tài nghiên cứu được tiến hành với các mục tiêu sau:. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu bào chế hệ tiểu phân giá mang lipid cấu trúc nano tải cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin. Mục tiêu cụ thể ➢ Xác định các thành phần lipid của công thức NLC tải cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin ➢ Xây dựng quy trình bào chế NLC tải cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin ➢ Xây dựng tiêu chuẩn hệ tiểu phân giá mang lipid cấu trúc nano tải cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Dược liệu Dây Mỏ quạ Dây Mỏ quạ có tên khoa học là Dischidia major (Vahl) Merr. thuộc chi Song ly (Dischidia) họ Trúc đào (Apocynaceae) [62], đồng danh là Dischidia rafflesiana Wall. Ở Việt Nam có tên thông dụng là Mỏ quạ, Song ly to, Mộc tiền to, Mộc tiền bầu. Phân bố ở các tỉnh miền trung và phía nam Việt Nam, từ Quảng Nam, Quảng Ngãi và Tây Nguyên trở vào [6].
Cây thường phụ sinh trên thân và cành các cây thân gỗ ở rừng thưa, ven rừng, đồi cây bụi hay nương rẫy. Mỏ quạ ưa sáng và chịu hạn tốt. Đặc trưng của cây là có 2 dạng lá: lá thường có phiến hình bầu dục kích thước 2-3 cm, chóp nhọn, dày, dai, có lông mịn ở mặt trên và một dạng lá đặc trưng: lá hình bầu, dài 5-7 cm, có cạnh và miệng nhỏ ở gần cuống, mặt ngoài có tầng cutin dày, mặt trong có rễ. Bộ phận dùng [7]: rễ, lá – Radix et Folium Dischidiae.
Dây Mỏ quạ (Dischidia major (Vahl) Merr.) Ở Ấn Độ, Malaysia, rễ và thân bò của Mỏ quạ được phối hợp với lá trầu không làm thuốc trị ho. Thái Lan dùng lá Mỏ quạ kết hợp với một số thảo dược khác để điều trị rối loạn chức năng gan. Ở Philippine, lá của Mỏ quạ được nghiền với muối để điều trị bướu cổ [9]. Ở nước ta, đồng bào ở Cà Mau dùng lá làm thuốc trị rắn hổ cắn.
Công dụng được ghi nhận của lá Mỏ quạ được dùng trị tê dại, đau nhức tay chân, rắn độc cắn, vàng da, đau dạ dày [6]. Ở Phú Quốc - Kiên Giang, người dân dùng lá Mỏ quạ. ngâm rượu uống có tác dụng trừ phong thấp, giảm đau nhức xương, trị chứng đổ mồ hôi tay chân [7]. Đã có những nghiên cứu về độc tính cấp, tính chất dược lý, chiết xuất cũng như sản phẩm bào chế từ cao chiết Mỏ quạ [5], [8], [9], [50], tất cả đều cho các dữ liệu khả quan về một loại dược liệu có hiệu quả tốt cùng độc tính thấp, dùng được cả đường uống lẫn đường ngoài da.
Cao chiết Mỏ quạ giàu amyrin Từ cao chiết của lá Mỏ quạ, đã bước đầu phân lập được một số hoạt chất, trong đó có ß-amyrin, friedelin, 3ß-friedelinol, conduritol A,. Việc thử hoạt tính của cao chiết lá Mỏ quạ cho thấy hiệu quả kháng viêm, giảm đau tốt ở phân đoạn cao chiết kém phân cực chứa hàm lượng cao ß-amyrin [8]. Bộ môn Dược liệu và Bộ môn Kiểm Nghiệm – Khoa Dược – Đại học Y Dược Tp. HCM đã tiến hành tinh chế và định lượng để thu được cao tinh chế chứa hàm lượng cao ß-amyrin và 2 triterpen chưa được định danh, nhưng có cùng tính chất kém tan trong nước và các dung môi phân cực, theo sắc ký đồ cao chiết tinh chế lá Mỏ quạ (cao MQ) như Hình 1.
Sắc ký đồ cao MQ ß-amyrin là thành phần chính (trên 45% cao MQ), đồng thời cũng là thành phần có hoạt tính trong Cao MQ nên ß-amyrin được chọn làm chất điểm chỉ thể hiện chất lượng và hàm lượng của cao MQ. Tính chất lý hoá của ß-amyrin Danh pháp IUPAC [27]: (3S, 4aR, 6aR, 6bS, 8aR, 12aR, 14aR, 14bR)-4, 4, 6a, 6b, 8a, 11, 11, 14b-octamethyl- 1, 2, 3, 4a, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 12, 12a, 14, 14a-tetradecahydropicen-3-ol Hay: 3b-hydroxy-olean-12-en-3-ol Khối lượng phân tử: 426,73 g/ mol Công thức hoá học: C30H50O Hình 1. Công thức hóa học của ß-Amyrin Phổ hồng ngoại của ß-amyrin cho thấy sự hiện diện của nhóm hydroxyl và nối đôi ở 3360 và 1650 cm-1. Nhiệt độ nóng chảy của ß-amyrin ở 189-191 oC [27].
ß-amyrin thuộc nhóm saponin triterpenoid 5 vòng nhân olean, là hoạt chất thường gặp nhất của saponin triterpenoid trong tự nhiên, các hoạt chất nhóm này kém phân cực. ß-amyrin không tan trong nước và các hợp chất acid yếu, log P = 9,19 [63]. Tính chất dược lý của Amyrin α và ß-Amyrin đã được chứng minh trên cả in-vitro và in-vivo các tác động dược lý khác nhau như kháng viêm, kháng vi khuẩn, kháng nấm, kháng virus, hạ đường huyết, hạ mỡ máu, [38] [53]. Kháng viêm Đoàn Trí Hạnh Dung và cộng sự (2017) đã chứng minh các chất kém phân cực đóng vai trò chủ yếu trong tác dụng kháng viêm của dây Mỏ quạ, đặc biệt là ß-Amyrin [8], kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Krishnan và cộng sự (2014), đã.
chứng minh ß-Amyrin ức chế tiết prostaglandin E, IL-6 và hoạt hóa NF-κB trên mô hình in-vitro [30]. Giảm đau Hỗn hợp triterpenoid α và ß-Amyrin, được phân lập từ nhựa Protium heptaphyllum đã được đánh giá trong hai mô hình chuột được gây đau quặn nội tạng bằng cyclophosphanamide và dầu mù tạt intracolonic với liều đường uống α và ß-Amyrin 3, 10, 30 và 100 mg/ kg. Hỗn hợp triterpenoid cho thấy sự giảm cơn đau bàng quang do cyclophosphamide ở liều100 mg/ kg, các biểu hiện khó chịu gần như bị ức chế hoàn toàn. Các cơn đau do dầu mù tạt intracolonic bị ức chế tối đa bởi liều 10 mg/ kg hỗn hợp α và ß-Amyrin.
Khả năng giúp giảm đau của α và ß-Amyrin có thể liên quan đến thụ thể opioid và vanilloid [32]. Bảo vệ gan Nghiên cứu trên mô hình gây độc gan bởi acetaminophen, bromobenzene, thioacetamide và CCl4 furosamida ở chuột cho thấy tiềm năng bảo vệ gan của amyrin chống lại tổn thương gan [38]. Chống viêm tụy Viêm tụy cấp là một tình trạng viêm đe dọa tính bệnh nhân. Mô hình chuột nghiên cứu được gây viêm tuỵ cấp bằng L-arginine tiêm trong màng bụng.
Liều duy nhất của hỗn hợp α và ß-Amyrin được cho uống và hiệu quả chống viêm tụy được đánh giá bằng cách xác định nồng độ amylase, lipase và cytokine trong huyết thanh, yếu tố hoại tử khối u (Tumor necrosis factor TNF-α), Interleukin (IL-6),. cũng được theo dõi. α và ß-Amyrin cho thấy khả năng chống viêm tụy cấp bằng cách hoạt động như một chất chống viêm và tác nhân chống oxy hóa. Hạ đường huyết, hạ lipid huyết Nghiên cứu mô hình chuột mắc bệnh tiểu đường gây ra bởi streptozotocin đã chứng minh rằng amyrin giúp cải thiện tình trạng tăng đường huyết và rối loạn lipid máu, mức insulin huyết tương và phân tích mô bệnh học của tuyến tụy cho thấy tác dụng có lợi của α và ß-Amyrin trong việc bảo tồn tính toàn vẹn của tế bào beta.
Tác dụng hạ đường huyết của α và ß-Amyrin xuất hiện nổi bật hơn ở liều 100 mg/ kg với mức. giảm đáng kể về VLDL và LDL cholesterol và sự gia tăng của HDL cholesterol. Bên cạnh đó, chỉ số xơ vữa đã giảm đáng kể. Đây là một hứa hẹn cho điều trị tiểu đường và xơ vữa động mạch rất có tiềm năng [44].
Điều trị béo phì Nghiên cứu mô hình chuột béo phì gây ra bởi chế độ ăn nhiều chất béo cho thấy sự giảm trọng lượng cơ thể, mỡ nội tạng, nồng độ lipase trong máu,. có ý nghĩa thống kê sau 15 tuần điều trị bằng amyrin, những kết quả cho thấy amyrin điều hòa các rối loạn liên quan thông qua điều tiết các phản ứng enzyme, hormone và viêm…[14]. Khái niệm và phân loại các tiểu phân nano lipid Thuốc có nguồn gốc dược liệu đã được sử dụng từ thời xa xưa. Tuy nhiên, dược phẩm có nguồn gốc dược liệu có những hạn chế nhất định như độc tính, tính bền vững, sinh khả dụng kém và không thuận tiện trong sử dụng dẫn đến kém tuân trị.
Để khắc phục những hạn chế này, các hệ thống trị liệu như phytosome, ethosome, các tiểu phân kích thước nano đã được ứng dụng [57]. Trong các hệ thống trị liệu này, việc ứng dụng hệ tiểu phân nano lipid, với ưu điểm tương thích sinh học tốt [54], để tải hoạt chất có nguồn gốc dược liệu giúp bảo vệ các hoạt chất kém bền khỏi môi trường bên ngoài, giúp tăng hấp thu các hoạt chất kém tan và giúp kiểm soát sự giải phóng hoạt chất, từ đó làm tăng sinh khả dụng là một hướng nghiên cứu đang được chú ý nhiều ở nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam. Khái niệm tiểu phân nano lipid trong ngành Dược Tiểu phân nano trong ngành Dược được định nghĩa là các tiểu phân phân tán có kích thước từ 1 nm đến 1 µm.