phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 95 trang, 30 hình, 12 bảng và được bố cục gồm 4 chương chính sau: Chƣơng 1. Đặc điểm Tự nhiên, Kinh tế - Xã hội khu vực bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội. Tổng quan về bãi triều, lịch sử và phương pháp nghiên cứu. Đặc điểm và xu thế biến động hệ thống bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội.
Một số định hướng sử dụng bền vững hệ thống bãi triều từ Cửa Sót đến Cửa Hội. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC BÃI TRIỀU TỪ CỬA SÓT ĐẾN CỬA HỘI 1. Vị trí khu vực nghiên cứu Khu vực nghiên cứu là bãi triều từ Cửa Hội đến Cửa Sót (Hà Tĩnh) nằm trong khoảng tọa độ từ 184710 đến 182245 vĩ độ bắc và 1053630 đến 1060130 kinh độ đông, thuộc phía đông bắc của tỉnh Hà Tĩnh, bao gồm các luồng lạch ven biển, vùng triều ven biển, ven cửa sông (Hình 1.
Vị trí khu vực nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100.000) 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vùng nghiên cứu bao gồm các xã thuộc huyện Nghi Xuân (Xuân Hội, Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Xuân Thành, Xuân Liên, Cương Gián) và Lộc Hà (Thịnh Lộc, Thạch Bằng, Thạch Kim, Thạch Châu, Mai Phụ, Hộ Độ) (Hình 1. Bản đồ hành chính khu vực nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100.000) 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đặc điểm điều kiện tự nhiên 1. Đặc điểm địa hình Địa hình khu vực có sự phân dị lớn thể hiện ở phía Tây và Tây Nam huyện Nghi Xuân, khu vực mũi Lò gần Cửa Sót là đồi núi thấp thuộc dãy Hồng Lĩnh, kế tiếp là dãy đồng bằng bồi tụ nhỏ hẹp ven núi, cuối cùng là bãi cát ven biển và địa hình thềm lục địa (xem Hình 1.Về cơ bản có thể chia địa hình khu vực ra các dạng sau: Đồng bằng ven biển: Đây là đồng bằng nhỏ hẹp ven biển, được bồi đắp bởi phù sa hệ thống các sông trong vùng mà chủ yếu là Sông Lam và Sông Cửa Sót, địa hình này tương đối bằng phẳng thay đổi trung bình từ 1 - 5,5m so với mặt nước biển.
Đây là vùng dân cư tập trung đông đúc và có điều kiện tương đối thuận lợi cho việc trồng cây lương thực, cây hoa màu ngắn ngày và phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm. Địa hình này chủ yếu ở các xã: Xuân Trường, Xuân Đan, Xuân Phổ, Xuân Hải, Xuân Yên, Xuân Thành, Xuân Liên, Cương Gián, Thịnh lộc, Thạch Kim. Đồi núi thấp: Địa hình này thuộc dãy Hồng Lĩnh chiếm diện tích khá lớn so với vùng nghiên cứu. Đây là những dãy núi đá có độ dốc lớn, chủ yếu là đá magma và magma axit, cao nhất là đỉnh núi Ông (cao 676m so với mực nước biển).
Ven dưới các chân núi, sườn núi có nhiều khe rạch, xung quanh có rất nhiều hồ đập. Địa hình này thể hiện ở các xã Xuân Viên, Xuân Mỹ, Cổ Đạm, một phần của Xuân Liên, Cương Gián [19]. Dải cồn cát ven biển: Đây là vùng cồn cát chạy dọc theo bờ biển tạo bởi các đụn cát, dải cát ven biển, ven các các lạch triều, kênh mương. Địa hình hơi nghiêng về phía Tây-Tây bắc với bề rộng từ 50 - 200m, độ cao so với mực nước biển là 0,5 - 5m.
Do có cửa sông, cửa lạch, tạo thành các bãi ngập mặn vùng này có tiềm năng phát triển kinh tế biển và dịch vụ du lịch nghỉ mát. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Bản đồ địa hình vùng nghiên cứu (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/100. Đặc điểm địa chất Các thành tạo trước Đệ tứ Các thành tạo trước Đệ tứ được chia thành 2 phân vị địa tầng có tuổi từ Hệ Trias thống trung - bậc Anisi đến Neogen phân bố ở dưới đáy biển, các đảo và dải ven bờ từ 0 - 20m nước, chủ yếu là các thành tạo đá gốc có tuổi Trias, thuộc hệ tẩng Đồng Đỏ và hệ tầng Đồng Trầu.4) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giới Mesozoi Hệ Trias, thống trung - bậc Anisi Hệ tầng Đồng Trầu (T2 a dt) (Jamovda A., 1965) Hệ tầng này phân bố ở đảo Hòn Ngư (Nghệ An) và đáy biển vùng lân cận.
Mặt cắt có thề chia làm 2 phần khá rõ: phần dưới là trầm tích lục nguyên xen lớp mỏng hoặc thấu kính phun trào andesit gồm bột kết, cát kết, cuội kết tuf, đá phiến sét màu đen chứa nhiều hóa đá; phần trên là đá vôi màu xám sáng, xám sẫm, xám tro phân lớp mỏng, trung bình đến dạng khối bị tái kết tinh yếu, sét vôi màu nâu đỏ phân lớp mỏng, tổng chiều dày 1100-1600m. Hệ tầng Đồng Đỏ (T3n-r dd) Đá gốc thuộc hệ tẩng Đồng Đỏ chủ yếu phát triển các loại trầm tích cuội kết, cát kết, bột kết, sạn kết,. Đá có màu xám sáng, phớt hồng, nâu đến nâu đỏ, phân lớp dày; lớp cát kết dày cỡ hàng mét; lớp bột kết dày cỡ hàng đề-xi-mét. Đá có độ cứng khoảng 5 đập khó vỡ.
Đá thường bị nứt nẻ, mặt khe nứt gần vuông góc với mặt phân lớp. Khoảng cách khe nứt từ 2 đến 3 m (ở phía Nam có nơi đến 6 m), khe nứt và mặt bị phong hóa có nơi thành hàm ếch ở xã Cương Gián cao 6 m, rộng 1,2 m đến 4 m, dài 25 m [5]. Giới Kainozoi Hệ Neogen Thành tạo trầm tích Neogen không phân chia phân bố tại phía Đông Nam cửa Hội có thể gặp được chúng qua các lỗ khoan bãi triều, khoan biển và trong các băng địa chấn sâu, địa chấn nông độ phân giải cao. Thành phần trầm tích chủ yếu là cát kết, bột kết, sét kết xen kẽ các tập sạn kết và lớp mỏng cuội kết.
Chiều dày thay đổi lớn 150-250m [5]. Các thành tạo Địa chất Đệ tứ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thống Pleistocen Trầm tích sông (aQ11-2) là loại trầm tích lòng sông, phân bố rộng rãi dọc thung lũng Sông Lam dưới dạng thềm đã ổn định kéo dài từ Rạng (Thanh Chương), Nam Đàn, Vinh tỉnh Nghệ An đến Nghi Xuân. Ở Vinh và Nghi Xuân, lớp này bị phủ dưới các trầm tích trẻ hơn nên chỉ tìm thấy trong các hố khoan thăm dò của Liên đoàn địa chất 410 - Liên đoàn địa chất Bắc Trung Bộ. Thành phần là cuội sỏi cát có độ mài mòn tốt, độ dày trên 5 m.
Trầm tích biển (mQ13) là loại trầm tích biển, phân bố rộng khắp miền đồng bằng ven biển Hà Tĩnh. Thành phần là sét màu loang lổ, dày 2-6 mét. Độ sâu của lớp này tăng dần vào cuối Pleistocen, địa hình ở đây không bằng phẳng, tạo thành các vũng vịnh nhỏ. Thành phần hạt tương đối đồng đều phản ánh tính ổn định của môi trường trầm tích trong không gian khá rộng lớn [19].
Thống Holocen Tại khu vực cửa sông và ven biển cửa Hội phát hiện được 3 phân vị chính có tuổi Q23, Q22-3 và có nguồn gốc sông biển (am), biển gió (mv) [5]. Trầm tích sông biển (amQ22-3) phân bố tại phần lục địa dọc theo bờ sông Lam kéo ra tới gần bãi triều ven biển. Thành phần trầm tích cát, cát bột màu xám, xám vàng, xám sáng; sét, bột sét màu xám nâu, xám đen. Cát có độ mài tròn, chọn lọc tốt, thành phần khoáng vật chủ yếu: thạch anh: 75-80%, felspat: 5- 10%, mảnh đá: 10-15%.
Trầm tích biển gió (mvQ22-3) kiểu trầm tích này phân bố tại các cồn cát (cao 2-6m) ở phần ven biển tại phía Nam cửa Hội. Trầm tích tại đây có thành phần chủ yếu là cát hạt mịn-trung màu xám, xám vàng. Cát có độ mài tròn, chọn lọc tốt, thành phần khoáng vật chủ yếu: thạch anh: 80-85%, felspat: 5-10%, mảnh đá: 5-10%. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trầm tích sông biển (amQ23 ) phân bố tại cửa Hội và phát triển tới độ sâu ngoài 10m nước.
Thành phần trầm tích chủ yếu là cát, cát bùn, bùn sét màu xám, xám vàng, xám nâu có lẫn di tích mùn thực vật màu xám tối, đen và ít vụn vỏ sinh vật biển. Thành phần khoáng vật gồm: thạch anh 70-80%, mảnh đá 20-25%, felspat: 5%. Bề dày trầm tích 1 – 12 m. Bản đồ Đia chất – Khoáng sản Hà Tĩnh (thu nhỏ từ tỷ lệ 1/200.
Đặc điểm địa mạo a) Núi thấp bị xâm thực bóc mòn Phân bố ở các núi đá gốc phía Tây Nam và phía Bắc của vùng. Núi có độ dốc sườn từ 20° - 30°. Thảm thực vật trên bề mặt bị phá trụi, quá trình xâm thực xảy ra 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạnh mẽ với nhiều mương xói khe rãnh. Trên bề mặt sườn những nơi xâm thực sâu lộ ra trầm tích của hệ tầng Đồng Trầu [18].
b) Đồi núi tích tụ cát biển - gió Có độ cao thay đổi từ 3 - 10m. Phân bố thành một dải khá rộng chạy dọc ven biển, đây là một bar ngầm nối đảo, nó được nâng lên cao vào cuối Holocen muộn và bị bóc mòn. Hiện tại được bồi đắp bởi các vật liệu ven bờ và bị phơi ra lúc triều rút. Gió biển thổi hất cát đó lên khỏi bờ.
Cứ thế các đồi cát lấn vào lục địa tạo thành các đồi và đụn cát có độ cao thay đổi khác nhau [18]. c) Đồng bằng chân đồi núi hình thành do dòng chảy Có độ cao thay đổi từ 1 - 4m, nó là tích tụ hỗn hợp của dòng chảy tạm thời, chảy tràn trên bề mặt của hệ Đệ tứ không phân chia. Các quá trình xói mòn, rửa trồi bề mặt đem vật liệu cát, sạn sỏi, sét, dăm… phong hoá từ các khối núi granit, trầm tích lục nguyên xuống hình thành tầng trầm tích nguồn gốc hỗn hợp deluvi, proluvi. d) Đồng bằng bãi bồi Có độ cao thay đổi từ 0 - 1m, tích tụ cát, sét của sông hiện đại tuổi Holocen muộn.
Đây là bãi bồi sông ngòi hiên đại có các trầm tích cát, cát sét và sét tuỳ theo sự thay đổi tướng của bãi bồi. Do ảnh hưởng của triều biển, lúc triều lên, các lòng sông có mực nước dâng cao tích tụ trầm tích aluvi, lúc triều xuống, bãi bồi lộ ra, mực nước hạ thấp, lòng sông trở nên hẹp. Đặc điểm khí hậu Khí hậu thời tiết mang tính chất căn bản của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng bị chi phối bởi yếu tố địa hình sườn núi Hồng Lĩnh nên có sự phân hoá rất rõ rệt. Qua trạm khí tượng Vinh cho thấy huyện điển hình cho khí hậu bờ biển với hai mùa: mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 và mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 3 năm sau.