CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN 1. CÁC HỢP CHẤT FLAVONOID. Hợp chất flavonoid Flavonoid (hoặc bioflavonoid) (bắt nguồn từ Latin flavus nghĩa là màu vàng, màu của flavonoid trong tự nhiên) là nhóm hợp chất phenolic đa vòng, được tìm thấy rộng rãi trong thực vật, chúng là loại chất chuyển hóa trung gian của thực vật. Các flavonoid là một trong những nhóm hợp chất phong phú và đa dạng và bậc nhất trong tự nhiên.
Cho đến nay, có hơn 15 000 [1] hợp chất flavonoid đã được biết về cấu trúc, chúng có mặt không những chỉ trong thực vật bậc cao mà còn trong một số thực vật bậc thấp, thậm chí còn có cả trong loài tảo [2, 3]. Về cấu trúc hoá học [4, 5, 6, 7] flavonoid có khung cơ bản 15 nguyên tử carbon gồm 2 vòng phenyl A và B nối với nhau qua một mạch 3 carbon theo kiểu C6-C3-C6 (hình 1) Hình 1 Khung cơ bản của flavonoid Trong đa số trường hợp ở một đầu mạch 3 carbon có một nhóm chức carbonyl, chúng được xem là dẫn xuất 1,3-diphenylpropan-1-one, hợp chất này được gọi là dihydrochalcone (Hình 2). Hay 3 carbon đóng vòng với vòng A và tạo nên dị vòng có oxi (vòng C). Như vậy, flavonoid có cấu trúc chung cơ bản C6-C3-C6 phenyl-benzopyran với vòng aryl (vòng B) có thể ở các vị trí 2,3 hoặc 4 của vòng benzopyran (Hình 3).
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học Hình 2 Cấu trúc chung của chalcone Hình 3 Cấu trúc chung của flavonoid Trong một số trường hợp, dị vòng C (6 cạnh) còn được thay thế bằng dị vòng 5 cạnh (furran) (Hình 4): Hình 4 Khung của Aurone Dựa vào vị trí của gốc aryl (vòng B) và các mức độ oxi hóa của mạch 3C, flavonoid được chia thành 4 loại chính [8]. Hình 5, Hình 6, Hình 7 và Hình 8 chỉ ra công thức chung của từng phân nhóm trong mỗi lớp flavonoid: major flavonoid, isoflavonois, neoflavonoid, minor flavonoid [8, 9, 10, 11, 12, 13] Hình 5 Công thức chung của các phân nhóm trong lớp major flavonoid 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học Hình 6 Công thức chung của các phân nhóm trong lớp isoflavonoid Hình 7 Công thức chung của các phân nhóm trong lớp neoflavonoid Hình 8 Công thức chung của các phân nhóm trong lớp minor flavonoid 1. Các hợp chất aurone Aurone (=2-Benzylidenebenzofuran-3(2H)-one) thuộc nhóm flavonoid có màu vàng (auro theo tiếng Latinh có nghĩa là vàng kim loại). Khung của chúng có 15 nguyên tử carbon như các flavonoid khác nhưng ở dị vòng (C) chỉ có 5 cạnh.
Các phân tử aurone có chứa một cấu tử benzofuranone kết hợp với cấu tử benzylidene ở vị trí số 2. Trong tự nhiên, các aurone được tìm thấy ở thực vật, chúng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành sắc tố của hoa và rau quả. Aurone có 2 đồng phân cấu hình (Z) và (E), hầu hết các aurone ở dạng cấu hình (Z), là cấu hình ổn định hơn 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học cấu hình (E) [2] (Hình 9). Số lượng cũng như sự phân bố trong cây của các aurone cũng bị hạn chế.
So với các flavone thì aurone là hợp chất ít gặp trong tự nhiên, có khoảng trên 100 aurones (năm 2009) [48] đã được tìm thấy từ các nguồn tự nhiên, chủ yếu là thực vật có hoa, một vài loài dương xỉ, rêu và tảo nâu biển. Hình 9 Hai đồng phân cấu hình (Z), (E) của aurone Cả 2 đồng phân E và Z đều được tìm thấy trong tự nhiên nên nhóm chất này rất đa dạng.Đặc biệt là các dẫn xuất có chứa nhiều nhóm hydroxy bao gồm aureusidin, sulfuretin, maritimetin và bracteatin ( Hình 10) OH O OH O OH HO O HO O OH OH HO OH Aureusidin Bracteatin O O HO O HO O OH OH OH OH OH Maritimetin Sulfuretin Hình 10 Cấu trúc của các hydroxy aurones 1. HOẠT TÍNH SINH HỌC CỦA AURONE Mặc dù là lớp chất hiếm gặp trong tự nhiên nhưng những hợp chất auron đã thể hiện nhiều hoạt tính sinh học quí báu như chống ung thư, chống virus, chống viêm, chống oxy hóa, trị bệnh tiểu đường, các bệnh về da, kháng nấm, kháng khuẩn. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học 1.
Aurone trong hóa học trị liệu ung thư 1. Aurone như là chất điều chỉnh sự kháng đa thuốc qua protein Pgp Trong chương trình với mục đích phát hiện ra những flavonoid có khả năng điều chỉnh sự kháng đa thuốc của các tế bào ung thư, Boumendjel A. và cộng sự đã lựa chọn một số đại diện như aurone, chalcone, flavone, flavonols, isoflavones để nghiên cứu về khả năng liên kết với nucleotide-binding domain (NBD2) của P- glycoprotein (Pgp) và cho thấy aurone ức chế Pgp hiệu quả hơn cả, được thể hiện qua các giá trị hằng số phân ly KD ở Hình 11 [21, 22, 23, 24, 25, 26, 27]. Hình 11 Ái lực liên kết của các flavonoid với P-glycoprotein (Pgp) (KD là hằng số phân ly) Nghiên cứu về ái lực liên kết của một số dẫn xuất của aurone: 4,6- dimethoxyaurones và 4-hydroxy-6-methoxyaurones với NBD của Pgp, Boumendjel A.
và cộng sự cho kết quả ở Bảng 1. Ở Bảng 1 cho thấy 4,6-dimethoxyaurone (KD = 7,0 ± 1,1 µM) ít hoạt động hơn 4-hydroxy-6-methoxyaurone (KD = 1,32 ± 0,33 µM). Đặc biệt, các dẫn xuất halogene aurone (4’-halogene) là hoạt động mạnh nhất. Các ái lực liên kết tăng cùng với việc tăng kích thước của các halogen (I > Br > Cl > F).
Sự thay thế hydrogen của 4-hydroxy-6-methoxyaurones ở vị trí 4’ bởi nguyên tử brome làm tăng ái lực liên kết lên 8,8 lần (KD = 1,32: 4’-H và 0,15: 4’-Br). Sự hiện diện của các nguyên tử khác với halogen (-CN, -N(CH3)2, 3’,4’,6’-OMe) là không thuận lợi 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học cho khả năng liên kết với NBD2 của Pgp như thể hiện qua các hằng số KD [22, 26, 28, 29]. Ngoài ra, trong nghiên cứu in vitro về khả năng điều chỉnh Pgp qua trung gian kháng đa thuốc (MDR), Boumendjel và cộng sự phát hiện ra rằng 4,6- dimethoxyaurone có khả năng gây độc tế bào trên các tế bào K562 và có khả năng gây độc tốt như cyclosporine A- một loại thuốc đang được sử dụng để điều trị những trường hợp kháng đa thuốc (MDR) [25]. Bảng 1 Ái lực liên kết với NBD2 của Pgp của dẫn xuất aurone 4-hydroxy-6-methoxyaurone 4,6-dimethoxyaurone R KD (µM) R KD (µM) H 1,32 ± 0,33 H 7,0 ± 1,1 F 2,7 ± 0,8 F 2,9 ± 0,7 Cl 0,46 ± 0,08 Cl 0,99 ± 0,2 Br 0,15 ± 0,07 Br 0,82 ± 0,08 I 0,26 ± 0,03 I 0,54 ± 0,04 CN 2,9 ± 1 CN 20 ± 4,6 -N(CH3)2 2,6 ± 0,4 3’,4’,6’-OMe 92 ± 43 1.
Sự ức chế của Cyclin-Dependent Kinases (CDK) Cyclin-dependent kinases (CDK) là enzyme cần thiết trong việc điều tiết sự phân chia chu kỳ tế bào. Hoạt động của chúng bị thay đổi trong các tế bào ung thư, gây ra sự tăng sinh không kiểm soát tế bào, cũng như sự bất ổn định của bộ gen và nhiễm sắc thể. Sự ức chế CDK đã nổi lên như là một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu chất chống ung thư. Trong số các chất ức chế CDK phải kể đến flavopiridol một chất ức chế CDK tiên tiến nhất có tác dụng chống khối u đang trong giai đoạn II phát triển lâm sàng [30, 31,32].
Mặc dù flavopiridol có tiềm năng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học lớn nhưng cũng cần cải thiện tính chọn lọc giữa các CDK1, CDK2 và CDK4. Vì vậy, các chất tương tự đã được tổng hợp và nghiên cứu, trong đó có cả aurone. Các aurone mimic này được nghiên cứu thử nghiệm khả năng ức chế CDK1, CDK2 và CDK4 thể hiện ở bảng 2 [33]. Bảng 2 Sự ức chế Cyclin-dependent kinases CDK1, CDK2 và CDK4 bởi aurone mimic và flavopiridol Hợp chất IC50 (µM) STT R1 R2 CDK1 CDK2 CDK4 1 H H 0,11 1,28 4,41 2 H Cl 0,60 3,97 25,25 3 NO2 H 0,06 0,31 2,21 4 SO2NH2 H 0,009 0,03 1,87 5 Flavopiridol 0,10 0,22 0,40 Ở aurone mimic không chứa nhóm thế (chất 1) có khả năng ức chế CDK1 tương tự flavopiridol (IC50= 0,11 và 0,10 µM) nhưng khả năng ức chế CDK2 và CDK4 là yếu hơn.
Mặc khác, khi gắn các nhóm thế -NO2 (chất 3) hoặc –SO2NH2 (chất 4) đã làm tăng mạnh hoạt động ức chế CDK1, CDK2 trong khi đó không ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động ức chế đối với CDK4. Đặc biệt, nếu thay thế nhóm – NO2 (chất 3) bởi nhóm –SO2NH2 (chất 4) càng gia tăng tiềm năng hoạt động ức chế. Ngược lại, nếu nhóm thay thế chloro (chất 2) đã không dẫn đến một tác dụng có lợi 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học mà còn làm mất khả năng ức chế 3 enzym CDKs. Như vậy, các hợp chất aurone mimic có cấu trúc chung 2-benzylidene-4,6-dihydroxy-7-(1-methylpiperidin-4-yl)- benzofuran-3-one được thiết kế như cấu trúc của flavopiridol, cho thấy sự ức chế đáng kể CDK 1, 2 và 4, trong đó hoạt động ức chế CDK4 là kém hơn cả.
Tương tác của các aurone với thụ thể adenosine K A. Jacobson và cộng sự đã khám phá ra thụ thể adenosine khi nghiên cứu cơ chế chống ung thư, chống viêm và ức chế sự tập hợp các tiểu cầu [34]. Trong các hợp chất nghiên cứu flavone, isoflavone và aurone, chúng đều cho các tương tác với cả ba loại thụ thể adenosine A1, A2A và A3. Trong đó, aurone cho thấy mối quan hệ đáng kể trong liên kết với thụ thể adenosine, chủ yếu nhất là với thụ thể A1.
Hispidol đã được tìm thấy là một chất đối kháng thụ thể A1 chọn lọc, với giá trị Ki = 0,352 ± 0,080 μM [35] (Bảng 3) Bảng 3 Ái lực của các aurone trong liên kết với thụ thể adenosine (Ki, µM) Dẫn xuất aurone R1 R R A1 A2A 2 3 Sulfuretin H H OH 4,44 ± 1,22 28.1 Aureusidin OH H OH 13,2 ± 4,8 >100 Hispidol H H H 0,352 ± 0,080 52,7 ± 9,1 Maritimetin H OH OH 3. Aurone chống ung thư thông qua sự phân chia DNA Trong quá trình nghiên cứu các sản phẩm tự nhiên có tiềm năng trong điều trị ung thư, Huang[36] đã phân lập được từ lá và thân của Uvaria hamiltonii gồm: 2 flavanone: hamiltone A (6-hydroxy-5,7,4'-trimethoxyflavanone) và hamiltone B (3',4'-dihydroxy-5,6,7-trimethoxyflavanone); 1 aurone: hamiltrone (3', 4'-dihydroxy- 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Phạm Thị Hằng Luận văn Thạc sĩ khoa học 4,5,6-trimethoxyaurone); 1 chalcone: hamilcone (3,4-dihydroxy-2',3',4'- trimethoxychalcone) và 1 nonflavonoid: hamilxanthene (tetrahydroxanthene). Kết quả thử nghiệm trên sự phân cắt sợi DNA và độc tế bào cho thấy aurone hamiltrone có hoạt tính mạnh nhất gấp 10 lần so với hamiltone A và hamiltone B, còn hamilcone hoạt động yếu và hamixanthene không hoạt động (bảng 4) [37].