Đặt vấn đề Cây sắn có tên khoa học (Manihot esculenta Crantz) là cây lương thực, thực phẩm chính của hơn 500 triệu người trên thế giới. Sắn đồng thời cũng là cây thức ăn gia súc quan trọng của nhiều nước trên thế giới, cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến bột ngọt, rượu, cồn, bánh kẹo, mì ăn liền và nhiều sản phẩm khác nhau. Đặc biệt trong việc nghiên cứu phát triển sản xuất và sử dụng nhiên liệu sinh học đang được các quốc gia trên thế giới quan tâm bởi các lợi ích của loại nhiên liệu này đem lại mà cây sắn là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến sinh học (ethanol). Theo tổ chức Nông lương liên hợp quốc (FAO) dự báo sản lượng toàn cầu của bio-ethanol có thể đạt 155 tỷ lít vào năm 2020.
Sắn là một cây lương thực dễ trồng, khả năng thích ứng rộng và trồng được trên những vùng đất nghèo, không yêu cầu cao về điều kiện sinh thái, phân bón, chăm sóc. Nó được phổ biến rộng rãi từ 30 vĩ độ Bắc đến 30 vĩ độ Nam và được trồng ở trên 100 nước nhiệt đới thuộc 3 châu lục lớn là Châu Phi, Châu Mỹ và Châu Á (Phạm Văn Biên và cs, 1991) [1]. Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng đứng hàng thứ ba sau lúa và ngô. Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực, thực phẩm thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao.
Tinh bột sắn Việt Nam đã trở thành một trong bảy mặt hàng xuất khẩu có triển vọng và đứng thứ hai trên thế giới. Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm khoảng 600.000 tấn tinh bột sắn, trong đó trên 70% xuất khẩu và gần 30% tiêu thụ trong nước (Trần Ngọc Ngoạn, 2007) [2]. Sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là tinh bột, sắn lát và bột sắn. Thị trường tiêu thụ chính là Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapo và Hàn Quốc.
h 2 Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc có diện tích đất tự nhiên 356,282 ha, dân số 1,156,000 người. Năm 2016 diện tích trồng sắn của tỉnh là 3,4 nghìn ha, năng suất trung bình 14,5 tấn/ha, sản lượng 49,3 tấn (theo Tổng cục Thống kê năm 2018) [3]. Cây Sắn đã có từ lâu đời ở tất cả các huyện, thị xã trong tỉnh, sắn được trồng để làm lương thực thực phẩm, thức ăn cho gia súc và để bán. Tuy nhiên, người dân thường quan niệm sắn là cây dễ trồng, thích ứng rộng, ít sâu bệnh, chịu đất chua, nghèo dinh dưỡng và không đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nên chưa chú ý đầu tư thâm canh.
Để phục vụ cho chiến lược phát triển sắn bền vững ở Việt Nam, ngoài việc nghiên cứu về giống, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào sản xuất sắn nhằm nâng cao năng suất và chất lượng của các giống sắn là vấn đề rất cần thiết. vì vậy em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng phát triển của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên ”. Mục đích nghiên cứu đề tài. Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp đến sinh trưởng và phát triển của giống sắn KM94 tại Thái Nguyên.
Yêu cầu đề tài. - Theo dõi ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến sinh trưởng của giống sắn KM94. - Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến năng suất, chất lượng của giống sắn KM94. - Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức phân bón đối với giống sắn KM94 trồng tại Thái Nguyên.
Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học. - Thực tập tốt nghiệp giúp sinh viên củng cố lại kiến thức, kỹ năng và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, áp dụng vào thực tế tạo điều h 3 kiện cho sinh viên học hỏi thêm những kiến thức cũng như kinh nghiệm trong sản xuất. - Giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức, thực hiện một đề tài nghiên cứu và viết báo cáo khoa học.
Ý nghĩa trong sản xuất. Xác định được lượng phân bón thích hợp với giống sắn KM94 cho năng suất cao, chất lượng tốt nhất để áp dụng vào sản xuất đại trà nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của tỉnh Thái Nguyên nói riêng cũng như các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Thực tiễn sản xuất nông nghiệp trên thế giới cũng như trong nước đã khẳng định giống cây trồng là một trong những nhân tố quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, năng suất và chất lượng cây trồng là những tính trạng số lượng, do vậy ngoài phụ thuộc vào giống chúng còn chịu ảnh hưởng rất lớn tác động của điều kiện ngoại cảnh như thời vụ, mật độ, phân bón… Phân bón là yếu tố quan trọng nhất trong thâm canh tăng năng suất cây trồng. Để bón phân cho cây trồng đạt hiệu quả cao mà không gây ảnh hưởng xấu tới cây và môi trường, cần phải bón phân phù hợp với đặc điểm của từng loại cây và từng loại đất. Cơ sở khoa học của việc bón phân hợp lý cho cây trồng cần được xây dựng trên cơ sở đảm bảo những yêu cầu cơ bản như cây trồng cần được cung cấp đầy đủ và kịp thời chất dinh dưỡng cần thiết cho năng suất cao, phẩm chất tốt. Không ngừng ổn định và nâng cao độ phì của đất, đem lại lợi nhuận tối đa cho người sản xuất trên cơ sở phối hợp tốt các biện pháp kỹ thuật trồng, đồng thời phải phù hợp với điều kiện và trình độ sản xuất hiện tại của người dân.
Nhiều nghiên cứu về phân bón cho sắn được thực hiện trên thế giới và Việt Nam cho thấy cây sắn yêu cầu từ 50 – 200 kg N, 40 – 80 kg P205 và 80 – 160 kg K20 với tỷ lệ N:P:K là 2:1:2, 1,5:1:2 hoặc 1:1:2. Do vậy, để đạt được năng suất và phẩm chất cao, đồng thời duy trì được độ phì của đất trồng sắn cần xác định được tổ hợp phân bón thích hợp trên từng loại đất. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới và Việt Nam. Tình hình sản xuất sắn trên thế giới.
Hiện nay sắn được trồng trên 100 quốc gia trong đó 64,8% được trồng ở Châu Phi, Châu Á chiếm 21% và Châu Mỹ 14%. Mức tiêu thụ sắn bình h 5 quân thế giới khoảng 18kg/người/năm. Sản lượng sắn của thế giới được tiêu dùng trong nước khoảng 85% (lương thực 58%, thức ăn gia súc 28%, chế biến công nghiệp 3%, hao hụt 11%), còn lại 15% (gần 30 triệu tấn) được xuất khẩu dưới dạng sắn lát khô, sắn viên và tinh bột (CIAT, 1993). Sắn chiếm tỷ trọng cao ở khu vực Châu Phi bình quân 96kg/người/năm do nhu cầu lương thực ở cả dạng củ tươi và sản phẩm chế biến Theo thống kê của FAO, tính đến năm 2016 diện tích trồng sắn trên thế giới đạt 23,48 triệu ha, năng suất bình quân đạt 11,80 tấn/ha, sản lượng đạt 277,10 triệu tấn.
Tình hình sản xuất sắn trên thế giới 5 năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới giai đoạn từ 2012 – 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm ( triệu ha) ( tấn/ha) (triệu tấn) 2012 23,27 11,24 261,44 2013 23,67 11,05 261,51 2014 23,21 11,82 274,33 2015 23,46 11,79 276,61 2016 23,48 11,80 277,10 (Nguồn : FAOSTAT, 3/2018) [26] Số liệu bảng 2.1 cho thấy diện tích trồng sắn trên thế giới trong 5 năm gần đây tăng giảm không đáng kể, từ 23,21 triệu ha (2014) lên 23,48 triệu ha (2016). Năng suất sắn tăng chậm từ 11,05 tấn/ha (năm 2013) đến 11,82 tấn/ha (năm 2014). Tuy nhiên do diện tích và năng suất đều tăng nên sản lượng sắn trên thế giới tăng dần qua các năm từ 261,44 triệu tấn (năm 2012) lên 277,1 triệu tấn (năm 2016). Có được kết quả đó là do chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị của cây sắn.
Mặt khác, sắn lại là cây h 6 lương thực dễ trồng, thích hợp với nhiều điều kiện kinh tế đặc biệt là có thể sinh trưởng và cho năng suất cao ở những nơi đất nghèo dinh dưỡng, là cây trồng nông nghiệp có khả năng cạnh tranh với nhiều cây công nghiệp khác. Viện nghiên cứu chính sách lương thực thế giới (IFPRI) ước tính sản lượng sắn toàn cầu đến năm 2020 ước đạt 278,10 triệu tấn, mức tiêu thụ sắn ở các nước đang phát triển dự báo đạt 254,60 triệu tấn so với các nước đã phát triển là 20,5 triệu tấn. Tuy nhiên, do điều kiện khí hậu, đất đai và trình độ thâm canh khác nhau ở các vùng miền nên sản xuất sắn ở các châu lục có nhiều khác biệt. Tình hình sản xuất sắn ở các châu lục trên thế giới năm 2016 được trình bày ở bảng 2.2: Tình hình sản xuất sắn ở một số châu lục năm 2016.
Châu lục Diện tích Năng suất Sản lượng (ha) ( tấn/ha) (tấn) Châu Phi 17,006,222 9,25 157,271,697 Châu Á 4,182,958 21,34 89,269,132 Châu Mỹ 2,267,294 13,37 30,311,826 Châu Đại Dương 25,579 9,77 249,909 Thế giới 23,482,052 11,8 277,102,564 (Nguồn : FAOSTAT, 3/2018) [26] Số liệu bảng 2.2 cho thấy châu Phi là châu lục có diện tích trồng sắn lớn nhất thế giới (năm 2016: 17,006,222 ha). Tuy nhiên do năng suất sắn vùng này thấp (năm 2016: 9,25 tấn/ha) nên sản lượng sắn châu Phi chỉ đạt 157,271,697 tấn, chiếm 56,76% sản lượng sắn toàn thế giới. Châu Á là nơi có diện tích trồng sắn đứng thứ 2 thế giới, năm 2016 là 4,182,958 ha. Song do năng suất sắn châu lục này cao (năm 2016: 21,34 tấn/ha.
Do vậy sản lượng sắn châu Á năm 2016 đạt 89,269,132 tấn, chiếm 32,22% sản lượng sắn toàn thế giới. Sản lượng sắn của châu Á tăng mạnh là nhờ sự gia tăng sản lượng ở Insonesia và Campuchia. Sản lượng sắn qua các h 7 năm vẫn có xu hướng tăng mạnh do nhu cầu sử dụng ethanol sinh học được phát triển nhanh chóng Đứng thứ 3 trên thế giới về diện tích và sản lượng sắn là châu Mỹ, năm 2016 diện tích trồng sắn châu lục này là 2,267,294 ha, với năng suất đạt 13,37 tấn/ha và sản lượng đạt 30,311,826 tấn. Châu Đại Dương là châu lục có diện tích trồng sắn ít nhất (25,579 ha), với năng suất sắn là 9,77 tấn/ha.
Do vậy sản lượng sắn châu lục này đạt thấp nhất thế giới năm 2016 là 249. Chiến lược phát triển lương thực toàn cầu đã thực sự coi trọng giá trị của cây sắn.