Đặt vấn đề Nƣớc ta có trữ lƣợng lan rừng rất lớn và nhiều loài có giá trị nhƣ: Vanda, Phaphiopedilum, Cymbidium và Dendrobium. Dendrobium là một trong những giống hoa lan phong phú, đa dạng với hơn 1500 loài. Dendrobium khá phong phú về màu sắc và hƣơng thơm của hoa. Ngoài ra loài hoa này còn có giá trị dƣợc liệu.
Lan Thạch hộc thuộc chi Dendrobium. Đây là đối tƣợng cây quý hiếm. Đặc điểm của giống là sai hoa, hoa to, đẹp, hƣơng thơm nên rất đƣợc ƣa chuộng. Theo Đặng Văn Đông (2004 hiện nay giá của một cây hoa lan có thể từ 100.
Lan Thạch hộc (Dendrobium officinale Kimura et Mi go) phân bố ở một số tỉnh vùng miền núi phía bắc Việt Nam. Qua kiểm nghiệm lâm sàng cho thấy loài lan này có nhiều giá trị dƣợc học: chống ung thƣ, lão hóa và tăng sức đề kháng của cơ thể, đặc biệt là chữa bệnh tiểu đƣờng. Điều làm nên giá trị dƣợc liệu của loài lan này chính là hợp chất alkaloid. Với giá trị dƣợc liệu lan Thạch hộc đã bị khai thác tới mức bị tuyệt chủng trong tự nhiên.
Hiện nay Lan Thạch hộc nằm trong danh mục Đỏ của cuốn “Sách đỏ Việt Nam” năm 2007. Để bảo vệ và phát triển một số loài lan quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng trong tự nhiên, cần điều tra, phân loại và đánh giá những biện pháp kỹ thuật phù hợp cho cây hoa, giống hoa thích hợp với điều kiện sản xuất tại địa phƣơng. Trên cơ sở đó có thể tìm ra những biện pháp kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất, nhằm nâng cao giá trị kinh tế và tăng thu nhập cho ngƣời trồng hoa. Với điều kiện khí hậu mát mẻ, thuận lợi của Tỉnh Tuyên Quang chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài với chuyên đề: “Nghiên cứu ảnh n 2 hưởng của thời vụ trồng đến sinh trưởng của giống lan Thạch Hộc Thiết Bì tại huyện Na Hang-Tỉnh Tuyên Quang”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến sinh trƣởng của giống lan Thạch Hộc Thiết Bì tại tinh Tuyên Quang Xác định đƣợc biện pháp kỹ thuật thích hợp để nâng cao năng suất, chất lƣợng của giống lan thạch hộc thiết bì tại Tỉnh Tuyên Quang. Yêu cầu của đề tài - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến tỉ lệ sống của lan Thạch hộc -Xác định đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến sinh trƣởng chiêu cao của lan Thạch hộc - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến động thái ra lá của lan Thạch hộc. - Xác định đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến kích thƣớc lá của lan Thạch hộc.
- Xác định đƣợc ảnh hƣởng của thời vụ trồng đến số chồi của lan Thạch hộc. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp cho sinh viên sau khi ra trƣờng nắm chắc đƣợc lý thuyết cũng nhƣ làm quen với tay nghề, vận dụng vào trong sản xuất. - Biết cách thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học.
- Giúp cho sinh viên hiểu biết hơn kiến thức thực tiễn sản xuất và có tƣ duy, phƣơng pháp nghiên cứu khoa học từ đó rút ra nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp và rèn luyện cho sinh viên có ý thức tự lập, chủ động trong nghiên cứu, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất sau này. n 3 - Bƣớc đầu giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và sản xuất ngoài đồng ruộng, hiểu hơn về cây trồng cũng nhƣ kỹ thuật trồng trọt. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tốt nhất trong việc nuôi trồng lan Thạch Hộc Thiết Bì. Tạo tiền đề thúc đẩy nghề trồng hoa lan ở Tuyên Quang, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Bảo vệ và phát triển một số loài lan quý hiếm đang bị đe dọa tuyệt chủng trong tự nhiên. Hiểu biết thêm về thời vụ trồng lan nào phù hợp nhất cho năng suất lan tốt nhất. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về hoa lan 2.
Nguồn gốc và phân loại 2. Nguồn gốc Trần Hợp (1990) [7] trong cuốn về “ Phong lan Việt Nam” đã nghiên cứu các họ lan đƣợc đánh giá là loài hoa cao cấp trong vƣơng quốc thảo mộc, bao gồm hơn 25.000 loài khác nhau, cùng với những loài mới đƣợc khám phá và mô tả theo từng năm. Do chúng đƣợc phân bố vùng rộng lớn, trải dài từ xích đạo đến bắc cực, từ đồng bằng tới các vùng núi băng tuyết, các loài lan rất khác nhau. Các loài lan chủ yếu sống trên cây cao, sống biểu sinh lâu năm, chúng đƣợc gọi chung là phong lan.
Các loài mọc trong đất gọi là địa lan và một số loài mọc trên núi đá gọi là thạch lan. Cây lan đƣợc biết đến đầu tiên ở Phƣơng Đông khoảng từ 551- 479 trƣớc công nguyên. Ở Việt Nam, những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt, ngƣời đầu tiên khảo sát hoa lan ở Việt Nam là ông Gioolas Noureiro nhà truyền giáo Bồ Đào Nha đã tả cây lan đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1789 trong cuốn “Flora Cochinnis” [28].2 Phân loại Theo Trần Hợp (1990) [7] về “ Phong lan Việt Nam công trình đã nghiên cứu hệ thống phân loại họ lan và đƣợc phân loại nhƣ sau: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliospida Bộ: Asparagales Phân họ: Orchidaceae Đặc điểm về phân loại: Orchidacae là một họ rất lớn thuộc lớp đơn tử n 5 diệp, phân bố khắp nơi trên thế giới. Ở vùng ôn đới, ta gặp nhiều loài sống ở đất nhƣ địa lan, một số loài hoại sinh không diệp lục và sống vào chất mùn trong đất.
Có loài ở châu Úc có thể sống ngầm dƣới đất nhƣ nấm. Theo Nguyễn Hữu Huy và Phan Ngọc Cấp (1995) [11], “mấy nét về cội nguồn phong lan - đặc sản quý của các nƣớc nhiệt đới” công trình đã nghiên cứu ở vùng nhiệt đới ta sẽ gặp nhiều loại phụ sinh sống trên cây khác nhƣ cattleya, oncidium, laelia tập trung nhiều ở vùng Trung Mỹ, ở Đông Nam Á đặc sắc nhất là Denbrodium và còn có Cypripedium, Phalaenopsis, Cymbidium có nguồn gốc ở Indonesia. Cây lan có thể chia thành hai nhóm: Nhóm đơn thân và nhóm đa thân. * Nhóm đơn thân chia làm hai nhóm phụ: - Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): Nhóm này lá đƣợc xếp thành hai hàng mọc đối nhau.
Gồm các giống nhƣ: Vanda, Aerides, Phalaenopsis. - Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe, Luisia. * Nhóm đa thân: Gồm những cây tăng trƣởng liên tục. Căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành hai nhóm phụ: - Nhóm ra hoa phía trên nhƣ: Cymbidium, Dedrobium, Oncidium.
- Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum. * Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian nhƣ: Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea. Theo nhiều nhà nghiên cứu về hoa của trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, với khoảng 897 loài phong lan hiện có và khí hậu thích hợp, nguồn nguyên liệu làm giá thể dồi dào cho cây sinh trƣởng, phát triển. Việt Nam có thể trở thành một nƣớc sản xuất hoa phong lan lớn trong khu vực.
Đặc điểm sinh học n 6 2.1 Cơ quan dinh dưỡng Theo Võ Văn Chi và Dƣơng Đức Tiến (1978) [3] về “phân loại thực vật, thực vật bậc cao” đã nghiên cứu về một số đặc điểm về cơ quan dinh dƣỡng của các loài thực vật, và nói lên đặc điểm của họ lan nhƣ sau: Giả hành (thân giả): Chỉ xuất hiện ở các loài đa thân. Bộ phận giả hành cần thiết cho sinh trƣởng, phát triển của lan. Giả hành tuy là thân nhƣng lại chứa diệp lục, đây là bộ phận dự trữ nhiều chất dinh dƣỡng, nƣớc cần thiết cho sự phát triển của giả hành mới. Thân: Lan có 2 loại thân: Đơn thân và đa thân.
+ Củ giả rất đa dạng: Hình cầu hoặc hình thuôn dài xếp sát nhau hay rải rác đều hoặc hình trụ xếp chồng chất lên nhau thành một thân giả. + Cấu tạo củ giả: Gồm nhiều mô mềm chứa nhiều dịch nhầy, phía ngoài là lớp biểu bì với vách tế bào dày, nhẵn bóng bảo vệ, tránh sự mất nƣớc do ánh sáng mặt trời. Đa số củ giả đều có màu xanh bóng, nên cùng với lá nó làm nhiệm vụ quang hợp. Lá: Đa số các loài phong lan là cây tự dƣỡng, nó phát triển đầy đủ hệ thống lá.
Hình dạng của lá thay đổi rất nhiều, từ loại lá mọng nƣớc đến loại lá phiến mỏng. Phiến lá trải rộng hay gấp lại theo các gân vòng cung hay chỉ gấp lại theo gân hình chữ V. Màu sắc lá thƣờng xanh bóng nhƣng có trƣờng hợp 2 mặt lá khác nhau: Thƣờng mặt dƣới có màu xanh đậm hay tía, mặt trên lại khảm nhiều màu sắc sặc sỡ. Rễ: Phong lan thuộc họ sống phụ sinh, treo lơ lửng trên các cây thân gỗ khác.
Các loại thân gỗ nạc dài, ngắn, mập hay mảnh mai đƣa cơ thể bò đi xa hay chụm lại thành các bụi dày. Đặc biệt đối với lan công nghiệp (nuôi cấy mô) ngƣời ta thƣờng sử dụng một số giá thể nuôi nhƣ: Dớn, than củi, … Rễ làm nhiệm vụ hấp thu chất dinh dƣỡng, chúng đƣợc bao bởi lớp mô hút dày, ẩm. Bao gồm: Những lớp tế bào chết chứa đầy không khí, do đó nó ánh lên màu n 7 xám bạc. Với lớp mô xốp đó rễ có khả năng hấp thu nƣớc mƣa chảy dọc dài trên vỏ cây, lấy nƣớc lơ lửng trên không khí.2 Cơ quan sinh sản Hoa: Lƣỡng tính, rất hiếm các loại phong lan đơn tính, tạp tính và nhị dạng.
Hoa đối xứng qua một mặt phẳng, bên ngoài có 6 cánh, trong đó 3 cánh đài ở ngoài cùng, thƣờng có màu sắc và kích thƣớc giống nhau. Một cánh đài nằm phía trên hay phía sau của hoa gọi là cánh đài lý, 2 cánh dài nằm 2 bên gọi là cánh đài cạnh. Nằm kề bên trong và xen kẽ với 3 cánh đài là 3 cánh hoa. Chúng giống nhau về hình dạng, kích thƣớc, màu sắc.
Cánh còn lại nằm ở phía trên hay phía dƣới, có hình dạng và màu sắc khác hẳn với các cánh còn lại gọi là cánh môi. Cánh môi quyết định giá trị thẩm mỹ của hoa lan. Ở giữa hoa có một trụ nổi lên bộ phận sinh dục của cây, giúp cây duy trì nòi giống. Trụ gồm nhị và nhụy, sau khi thụ phấn các cánh hoa héo, cuống hoa hình thành quả lan.