Tổng quan nghiên cứu

Sự cạn kiệt của nguồn nhiên liệu hóa thạch và yêu cầu cấp bách về giảm phát thải khí nhà kính đã thúc đẩy các quốc gia chuyển dịch sang năng lượng tái tạo. Tại Việt Nam, Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025 đã thiết lập nền tảng pháp lý quan trọng nhằm tạo nguồn năng lượng sạch thay thế xăng khoáng. Trong các nguồn sinh khối tiềm năng, cây cao lương ngọt (Sorghum bicolor (L) Moench) nổi lên như một cây nguyên liệu lý tưởng nhờ khả năng sinh trưởng nhanh và tạo sinh khối lớn, trong đó 70% đến 80% sinh khối thân là dịch đường hòa tan có độ Brix cao, rất thuận lợi cho chế biến bioethanol.

Vấn đề then chốt trong canh tác cao lương ngọt phục vụ công nghiệp cồn sinh học là tối ưu hóa quá trình tích lũy đường trong thân. Khi bước vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực, cây vận chuyển một lượng lớn dinh dưỡng từ thân lá lên cụm hoa để nuôi hạt, với mỗi bông cao lương tiêu tốn khối lượng khoảng 200 đến 300 gam, làm suy giảm trực tiếp năng suất thân và hàm lượng đường hòa tan. Đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm cắt ngọn đến năng suất và chất lượng của các giống cao lương ngọt triển vọng tại Thái Nguyên" do học viên Liêu Thanh Hùng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Hoàng Thị Bích Thảo tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm giải quyết bài toán kỹ thuật này.

Mục tiêu cụ thể của nghiên cứu là xác định thời điểm cắt ngọn tối ưu cho 3 giống cao lương ngọt triển vọng gồm NL3, KCS105 và EN8 trong vụ xuân năm 2014 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Đề tài theo dõi chặt chẽ các chỉ tiêu sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh, năng suất sinh khối thực thu và hàm lượng chất khô hòa tan (Brix). Kết quả nghiên cứu xác lập cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật cắt ngọn phù hợp, giúp năng suất thân đạt trên 100 tấn/ha và tối ưu hóa hiệu suất chuyển đổi cồn sinh học (với hệ số 1,49 kg đường sản xuất được 1 lít ethanol ở hiệu suất 95%), thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng bền vững tại vùng trung du miền núi phía Bắc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết quang hợp của thực vật C4 (con đường Hatch-Slack). Cao lương ngọt có cấu trúc lá giải phẫu kiểu Kranz, giúp cố định CO2 hiệu quả ở nhiệt độ cao từ 27°C đến 37°C mà không xảy ra hiện tượng quang hô hấp. Nhờ đó, cây đạt hiệu suất sử dụng nước cao, chỉ tiêu thụ khoảng 4.000 m3 nước/ha trong một chu kỳ 110 đến 120 ngày, thấp hơn 4 lần so với cây mía (tiêu tốn khoảng 36.000 m3/ha trong 12 đến 16 tháng), đồng thời thích ứng tốt với điều kiện đất dốc và khô hạn.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng lý thuyết điều tiết nguồn - sức chứa (Source-Sink Relationship) trong sinh lý thực vật. Cụm hoa và hạt cao lương đóng vai trò là sức chứa sinh sản chủ đạo trong giai đoạn trỗ. Biện pháp cắt ngọn (Decapitation) loại bỏ sức chứa này, buộc dòng đồng hóa hữu cơ từ bộ lá quang hợp tiếp tục tích tụ vào tế bào nhu mô thân thay vì chuyển dịch lên bông hạt. Nghiên cứu sử dụng 4 khái niệm khoa học cốt lõi gồm: độ Brix (tỷ lệ phần trăm chất hòa tan trong dịch ép thân), năng suất sinh khối thực thu (NSSKTT), năng suất thân thực thu (NSTTT), và mô hình dự báo năng suất ethanol dựa trên hàm lượng đường chiết xuất (với tỷ lệ dịch ép thân tươi đạt xấp xỉ 75%).

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghiệm đồng ruộng được triển khai tại xóm Mãn Quang, xã Hợp Thành, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên trong vụ xuân 2014 trên tổng diện tích 1023,75 m2. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 2 nhân tố với 3 lần nhắc lại, tạo thành 45 ô thí nghiệm (kích thước mỗi ô là 4,55 m x 5,0 m = 22,75 m2). Nhân tố giống gồm 3 giống lai kép nhập nội từ Nhật Bản: G1 (NL3 từ Đại học Nagoya), G2 (KCS105 từ Earth Note), và G3 (EN8 từ Kaneko Seeds). Nhân tố kỹ thuật gồm 5 thời điểm cắt ngọn: C1 (đối chứng không cắt ngọn), C2 (cắt ngọn lúc trỗ cờ), C3 (cắt ngọn sau trỗ 5 ngày), C4 (cắt ngọn sau trỗ 10 ngày), và C5 (cắt ngọn sau trỗ 15 ngày).

Mật độ gieo trồng cố định ở mức 65 cm x 15 cm, kết hợp nền phân bón chuẩn cho 1 ha gồm 10 tấn phân chuồng, 3 tấn vi sinh Sông Gianh, 300 kg N, 96 kg P2O5 và 134 kg K2O. Cỡ mẫu theo dõi sinh trưởng và sâu bệnh là 10 cây liên tiếp ở 2 hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm nhằm loại bỏ hiệu ứng biên. Để phân tích chất lượng dịch ép, 5 cây đại diện trên mỗi ô được thu thập ngẫu nhiên, loại bỏ lá và ép lấy dịch để đo độ Brix bằng khúc xạ kế quang học cầm tay. Năng suất thực thu được xác định trên nửa diện tích ô nguyên vẹn (11,375 m2). Phương pháp phân tích phương sai 2 nhân tố (ANOVA) kết hợp kiểm định sai biệt nhỏ nhất có ý nghĩa (LSD ở mức alpha = 0,05) trên phần mềm SAS và Microsoft Excel được lựa chọn nhằm bóc tách chính xác ảnh hưởng độc lập của từng giống, từng thời điểm can thiệp và tương tác giữa giống với kỹ thuật canh tác.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình theo dõi thực nghiệm trên đồng ruộng mang lại các phát hiện khoa học cụ thể sau:

Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây diễn ra mạnh nhất trong 60 ngày đầu sau gieo trồng, chiếm trên 50% tổng chiều cao cả chu kỳ. Ở giai đoạn 30 ngày tuổi cây đạt 75,3 đến 81,6 cm, sau đó tăng vọt lên 293,9 đến 335,3 cm ở 60 ngày tuổi và đạt đỉnh sau 90 ngày khi cây trỗ cờ. Giống KCS105 đạt chiều cao cây cuối cùng lớn nhất là 451,3 cm, vượt trội so với giống NL3 (422,6 cm) và giống EN8 (403,5 cm). Tốc độ ra lá giữa các giống rất đồng đều, đạt 6 đến 8 lá mới sau mỗi 30 ngày, kết thúc chu kỳ ở mức 21,9 đến 22,6 lá/cây với đường kính thân dao động từ 2,5 đến 2,7 cm.

Thứ hai, khả năng chống chịu bệnh hại có sự phân hóa rõ rệt ở mức ý nghĩa thống kê 95%. Bệnh thối thân do vi khuẩn Erwinia carotovora gây hại ở mức 32,0% trên giống KCS105, thấp hơn đáng kể so với NL3 (40,3%) và EN8 (40,4%). Với bệnh thối thân do nấm Pythium aphanidermatum, giống KCS105 chỉ nhiễm 11,9%, trong khi NL3 nhiễm 17,5% và EN8 nhiễm 17,7%.

Thứ ba, thời điểm cắt ngọn tác động trực tiếp đến khối lượng cá thể tại thời điểm thu hoạch (21 ngày sau trỗ). Giống KCS105 đạt khối lượng thân lá tươi trung bình cao nhất là 1438,5 gam/cây. Việc cắt ngọn muộn ở công thức C4 (sau trỗ 10 ngày) và C5 (sau trỗ 15 ngày) làm khối lượng thân tươi giảm xuống lần lượt còn 1349,8 gam/cây và 1303,8 gam/cây, thấp hơn rõ rệt so với đối chứng không cắt C1 (1425,1 gam/cây). Tổ hợp đạt khối lượng thân tươi cao nhất là giống KCS105 cắt ngọn ngay thời điểm trỗ (công thức C2), đạt 1542,2 gam/cây.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm khối lượng thân lá khi cắt ngọn muộn là do đặc điểm phân phối sản phẩm quang hợp. Khi hoa đã thụ phấn và bước vào giai đoạn chín sáp (sau trỗ 10 đến 15 ngày), phần lớn lượng đường và tinh bột dự trữ trong thân đã bị rút cạn để nuôi hạt. Việc cắt ngọn lúc này làm mất đi khối lượng bông đã tích lũy dinh dưỡng mà thân cây không còn đủ thời gian tái tạo sinh khối mới. Ngược lại, cắt ngọn sớm ngay thời điểm trỗ cờ giúp triệt tiêu hoàn toàn sự cạnh tranh dinh dưỡng của bông, duy trì trạng thái mọng nước của thân cây.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế của Trung tâm ICRISAT và các tác giả tại Hoa Kỳ, giống cao lương ngọt có khả năng tích lũy đường cao nhất khi giữ được bộ lá xanh bền vững và loại bỏ cơ quan tiêu thụ đường thứ cấp. Phản ứng sinh trưởng của 3 giống đối với kỹ thuật cắt ngọn có xu hướng tương đồng, trong đó giống KCS105 thể hiện ưu thế lai vượt trội về độ cứng thân, chống đổ gãy và khả năng thích nghi trên nền đất chua vùng Phú Lương.

Về mặt trực quan hóa số liệu, các phát hiện này có thể được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị đường biểu diễn động thái tăng trưởng chiều cao theo các mốc 30, 60, 90, 120 ngày, kết hợp biểu đồ cột nhóm thể hiện tương tác giữa 5 công thức cắt ngọn và 3 giống đối với năng suất đường và sản lượng cồn quy đổi.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả thực nghiệm, 4 khuyến nghị kỹ thuật và định hướng sản xuất được đề xuất như sau:

Thứ nhất, chuẩn hóa thao tác cắt ngọn đúng thời điểm trỗ cờ (công thức C2) trong quy trình canh tác cao lương ngọt lấy đường. Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật cùng Trung tâm Khuyến nông các tỉnh miền núi phía Bắc cần tổ chức tập huấn kỹ thuật cho nông dân, nhằm hướng tới mục tiêu duy trì khối lượng thân tươi cá thể trên 1500 gam/cây và năng suất thân đạt trên 100 tấn/ha trong giai đoạn 2016 đến 2018.

Thứ hai, lựa chọn giống lai KCS105 làm giống chủ lực để phát triển vùng nguyên liệu sinh học tập trung. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn các địa phương cần phối hợp với các viện nghiên cứu đưa KCS105 vào cơ cấu mùa vụ, nhằm kiểm soát tỷ lệ nhiễm bệnh thối vi khuẩn dưới 32% và thối nấm dưới 12%, nâng cao sản lượng ethanol sinh học ước tính đạt trên 3500 lít/ha giai đoạn 2016 đến 2020.

Thứ ba, thực hiện nghiêm ngặt mật độ gieo trồng 65 cm x 15 cm kết hợp bón lót sâu và bón thúc cân đối 300 kg N + 96 kg P2O5 + 134 kg K2O cho 1 ha. Các hợp tác xã và hộ nông dân cần bón thúc đợt 1 ở 20 ngày và đợt 2 ở 40 ngày sau trồng, vun gốc cao để hạn chế tối đa nguy cơ ngập úng gây bệnh thối thân Pythium trong vụ xuân hằng năm.

Thứ tư, thiết lập chuỗi liên kết bao tiêu sinh khối giữa doanh nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học và vùng trồng nguyên liệu tại Thái Nguyên. Các đơn vị chế biến cồn ethanol cần ký hợp đồng thu mua thân tươi trực tiếp với quy mô vùng nguyên liệu từ 500 đến 1000 ha trong kế hoạch 5 năm 2016 đến 2021, đảm bảo ổn định đầu ra cho người nông dân và an ninh nguyên liệu cho nhà máy.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của công trình luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

Nhóm thứ nhất là các nhà khoa học, giảng viên và nghiên cứu sinh chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học và Sinh lý thực vật. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chuẩn xác về phản ứng quang hợp C4, tương tác nguồn - sức chứa và phương pháp bố trí thí nghiệm 2 nhân tố RCBD trên cây trồng năng lượng mới.

Nhóm thứ hai là cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông viên tại các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc. Công trình đóng vai trò như một cẩm nang kỹ thuật thực địa hướng dẫn chi tiết từ mật độ khoảng cách, chế độ bón phân, nhận biết bệnh thối thân Erwinia và kỹ thuật cắt ngọn tăng năng suất thân.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp đầu tư năng lượng tái tạo, nhà máy sản xuất ethanol sinh học E5 và E10. Luận văn cung cấp luận cứ kinh tế - kỹ thuật về tỷ lệ trích ly dịch ép (75%) và công thức chuyển đổi sinh khối thành cồn sạch, hỗ trợ công tác lập dự án tiền khả thi và quy hoạch vùng nguyên liệu thay thế sắn lát.

Nhóm thứ tư là học viên cao học và sinh viên ngành Nông - Sinh học. Đây là tài liệu tham khảo tiêu biểu về phương pháp thu thập mẫu dịch ép, đo độ Brix bằng khúc xạ kế và quy trình xử lý dữ liệu nông học bằng phần mềm SAS chuyên dụng.

Câu hỏi thường gặp

Ưu điểm nổi bật của cao lương ngọt so với mía và ngô trong sản xuất cồn sinh học là gì? Cao lương ngọt chỉ cần chu kỳ sinh trưởng ngắn từ 110 đến 120 ngày và lượng nước tưới khoảng 4.000 m3/ha, thấp hơn 4 lần so với cây mía. So với ngô (phải qua công đoạn đường hóa tinh bột phức tạp), thân cao lương ngọt chứa sẵn 70% đến 80% dịch đường có thể lên men trực tiếp thành ethanol, không gây áp lực cạnh tranh lương thực.

Tại sao cắt ngọn đúng lúc trỗ cờ lại giúp tối ưu hóa sản lượng đường trong thân cây? Giai đoạn trỗ cờ là bước ngoặt chuyển dịch dinh dưỡng nuôi cụm hoa nặng từ 200 đến 300 gam. Cắt bỏ hoa ngay khi vừa xuất hiện sẽ cắt đứt sức chứa sinh sản, giữ lại toàn bộ lượng đường hòa tan tích tụ trong thân mô mềm, giúp khối lượng thân tươi ở giống KCS105 đạt mức cao nhất 1542,2 gam/cây.

Cắt ngọn muộn sau trỗ 10 đến 15 ngày gây ra những hệ quả tiêu cực nào? Cắt ngọn muộn khiến cây bị hao hụt dinh dưỡng nghiêm trọng do đường đã chuyển hóa lên hạt, làm khối lượng cá thể giảm xuống chỉ còn 1303,8 gam/cây. Vết cắt muộn tạo vết thương hở lớn, tạo điều kiện cho vi khuẩn Erwinia và nấm Pythium xâm nhập gây thối thân trong điều kiện nóng ẩm.

Giống cao lương nào thể hiện tính thích ứng và kháng bệnh tốt nhất tại Thái Nguyên? Giống lai KCS105 có tính thích ứng vượt trội với chiều cao cây đạt 451,3 cm và đường kính thân 2,7 cm. Tỷ lệ nhiễm bệnh thối thân vi khuẩn của giống này chỉ ở mức 32,0% và thối thân nấm 11,9%, thấp hơn nhiều so với NL3 và EN8 ở mức tin cậy 95%.

Phương pháp ước tính sản lượng ethanol từ sinh khối thân cao lương ngọt được tính ra sao? Sản lượng cồn được tính thông qua công thức: Năng suất đường bằng Năng suất thân nhân với 0,75 nhân với độ Brix nhân với 0,75. Tiếp đó, áp dụng định mức 1,49 kg đường tạo ra 1 lít ethanol tinh khiết với hiệu suất chuyển hóa công nghiệp đạt 95% theo mô hình sinh hóa chuẩn.

Kết luận

Những đóng góp khoa học và thực tiễn cốt lõi của công trình luận văn bao gồm:

  • Xác định giống lai KCS105 nhập nội từ Nhật Bản đạt sinh trưởng vượt trội tại Thái Nguyên với chiều cao cực đại 451,3 cm và đường kính thân 2,7 cm.
  • Chứng minh KCS105 có khả năng chống chịu bệnh thối thân do vi khuẩn Erwinia (32,0%) và thối thân do nấm Pythium (11,9%) tốt hơn hẳn hai giống NL3 và EN8.
  • Khẳng định thời điểm cắt ngọn tối ưu cho cây cao lương ngọt là ngay khi cây vừa trỗ cờ (công thức C2), nâng khối lượng thân tươi cá thể lên 1542,2 gam/cây.
  • Cảnh báo việc cắt ngọn muộn sau trỗ 10 đến 15 ngày làm giảm sinh khối thân xuống 1303,8 gam/cây do thất thoát dưỡng chất nuôi hạt.
  • Cung cấp cơ sở khoa học hoàn chỉnh cho mục tiêu phát triển nhiên liệu sạch theo Quyết định số 177/2007/QĐ-TTg của Chính phủ.

Trong giai đoạn tiếp theo từ 2016 đến 2020, quy trình kỹ thuật này cần được nhân rộng khảo nghiệm tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau ở trung du miền núi phía Bắc. Các nhà nghiên cứu, đơn vị khuyến nông và doanh nghiệp chế biến năng lượng sinh học hãy áp dụng ngay kết quả nghiên cứu này để xây dựng vùng nguyên liệu cao lương ngọt bền vững và hiệu quả kinh tế cao.