Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nguồn gốc cây lúa Đến nay, có rất nhiều giả thiết về nguồn gốc của cây lúa và hầu hết đều cho rằng các loài lúa hoang dại có nguồn gốc từ thời tiền sử của Trái Dat. Theo công bố của Chang và ctv (1984), Oryza sativa xuất hiện đầu tiên ở dãy Himalaya, Mién Điện, Lào, Việt Nam và Trung Quốc. Ở Việt Nam, theo kết quả khảo sát về nguồn gen ở những năm gần đây thì lúa có nguồn gốc hoang đại là các loài Oryza granulata, Oryza nivara, Oryza ridleyi, Oryza rufipogon mọc nhiều ở vùng Tây Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên va Đồng bằng sông Cửu Long. Với khí hậu nhiệt đới gió mùa, Việt Nam là nơi rất thích hợp dé trồng cây lúa nước.
Bên cạnh các cây lương thực khác như ngô, khoai, sắn thì cây lúa nước đã trở thành cây lương thực hàng đầu ở thị trường Việt Nam, có ý nghĩa quan trọng trong nền kinh tê và xã hội của nước ta. Lúa trồng hiện nay có nguồn gốc từ lúa hoang dai. Việc xác định tổ tiên của cây lúa trồng ở Châu A (Oryza sativa) vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số tác giả như Dinh Dĩnh, Bùi Huy Đáp, Dinh Văn Lữ.cho rằng: Oryza fatua là loại lúa dại gần nhất và được coi là tổ tiên của lúa trồng hiện nay.2 Phân loại thực vật Tên khoa học: Oryza sativa Giới: Plantae (thực vật) Ngành: Manoliphyta (thực vật hat kin) Lớp: Liliopsida (lớp thực vật một lá mầm) 3 Bộ: Cyperales (cỏ) Họ: Gramineae (hòa thao) Tộc: Oryzaea Loài: Oryza sativa Cùng với ngô (Zea mays L.), lua mi (Triticum sp.), khoai tay (Solanum tuberosum L.), san (Manihot esculenta crantz), lua (Oryza sativa) là một trong năm loại cây lương thực chính của thé giới.
Lúa là cây hằng niên có tổng số nhiễm sắc thé 2n = 24. Oryza có khoảng 20 loài phụ phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới âm của của Châu Phi, Nam và Đông Nam Châu Á, nam Trung Quốc, Nam và Trung Mỹ và một phần ở châu Úc (Chang, 1976 và De Datta, 1981). Trong đó, chỉ có hai loài là lúa trồng, còn lại là lúa hoang hang niên và đa niên. Lúa trồng quan trọng nhất, thích nghỉ rộng rãi và chiếm dai bộ phận diện tích lúa thé giới là Oryza sativa L.3 Đặc điểm thực vật học Cây lúa Việt Nam tùy từng giống mà có đặc điểm sinh thái, di truyền khác nhau nhưng đều có đặc điềm hình thái, thời kì sinh trưởng giống nhau.
Gồm 5 bộ phận chính: rễ, thân, lá, bông và hạt lúa. Bộ rễ lúa thuộc loại rễ chùm, rễ non có màu trăng sữa, rễ trưởng thành có màu vàng nâu và nâu đậm, ré đã gia có màu den. Thân lúa gồm nhiều mắt và lóng. Trước thời kì lúa tré, thân lúa được bao bọc bởi be lá.
Cây lúa có thé đẻ nhánh khi có 4 — 5 lá thật. Trên đồng ruộng, sau khi bén rễ hồi xanh cây lúa bắt đầu đẻ nhánh. Lúa kết thúc quá trình đẻ nhánh khi vào thời kì làm đòng. Từ cây mẹ đẻ nhánh cấp 1, nhánh cấp 1 đẻ nhánh cấp 2, nhánh cấp 2 đẻ nhánh cấp 3, những nhánh hình thành ở giai đoạn cuối thường là nhánh vô hiệu.
Lá lúa gồm: bẹ lá, phiến lá, lá thìa và tai lá. Bẹ lá là phần đáy lá kéo dài cuộn thành hình trụ và bao phần non của thân. Phiến lá: hẹp, phẳng và dài hơn bẹ lá (trừ lá thứ 2). Lá thìa: là vảy nhỏ và trắng hình tam giác.
Lá lúa có một cặp tai lúa hình lưỡi liêm. Thời gian hình thành bông ké từ khi cây lúa bắt đầu phân hóa dong cho đến khi trổ. Thời kì này nếu được chăm sóc tốt, bông lúa sẽ phát triển đầy đủ và giữ nguyên đặc tính của giống. Hạt lúa gồm gạo lire và vỏ trâu.
Gạo lire gồm phôi và phôi nhũ. Vỏ trau gồm trau trên và trâu đưới. Ở âm độ 0%, một hạt lúa nặng khoảng 12 — 44 mg.4 Tổng quan về lúa nếp quýt Lúa nếp quýt có nguồn gốc từ huyện Da Tẻh tinh Lâm Đồng. Với khí hậu và thé nhưỡng ở đây, lúa nếp quýt sinh trưởng và phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, năng suất khoảng 5 — 6 tan/ha.
Lúa nếp quýt có thời gian sinh trưởng từ 95 — 105 ngày, có thé trồng 3 vụ/năm. Đặc điểm nỗi trội so với các loại nếp khác như: vỏ mỏng, hạt bầu tròn, nây mập, trắng đục, hạt gạo không chỉ dẻo, hương thơm mạnh mà còn mang vi ngọt đặc trưng. Gạo nếp quýt rất dẻo và có giá trị đinh đưỡng cao, thường được dùng dé nấu xôi, nau chè, làm bánh. Vào các dịp lễ Tết, người dân ở đây thường làm bánh chưng xanh từ gạo nếp quýt dâng lên ban thờ tô tiên như một sản vật ma ông bả xưa để lại.
Đặc biệt rượu gạo và rượu đòng đòng nếp quýt mang hương khác lạ không lẫn vào đâu được. Gạo nếp quýt có tác dụng làm khỏe tì, mạnh phổi, trị tảo bón, tiểu tiện khó, chứng đô mồ hôi trộm và giải được một vài độc tính, ngoài ra gạo nếp quýt còn giúp âm bụng, có tác dụng tốt với những người bụng yếu, bị viêm loét dạ dày.5 Các yếu tố cấu thành năng suất Năng suất chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi 4 yêu tố, đó là: số bông trên đơn vị diện tích, số hạt trên bông, tỉ lệ chắc và trọng lượng hạt. Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, 4 yếu tố tăng thì năng suất sẽ tăng theo, đến khi đạt cân bằng tối hảo thì năng suất sẽ dat tối đa. Nếu 1 yếu tô nào đó vượt qua mức tối hảo này thì sẽ ảnh hưởng xấu đến các yếu tố còn lại làm năng suất giảm.
Mức cân bang tối hảo giữa các yêu tố dé đạt năng suất tối đa phụ thuộc vào giống, điều kiện đất dai, kĩ thuật canh tác và thời tiết.2 Tình hình sản xuất lúa 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới Sản lượng lúa thế giới theo FAOSTAT(2020), đã tăng từ 745,3 triệu tấn năm 2015 đến năm 2020 là 756,7 triệu tấn, trong đó châu Á có sản lượng lúa tăng từ 672,8 triệu tan năm 2015 đến 676,6 triệu tan năm 2020, chiếm 90% sản lượng lúa toàn cầu. Diện tích lúa thế giới đã tăng từ 162,37 triệu ha năm 2015 lên 164,19 triệu ha năm 2020, trong đó châu Á có diện tích tăng từ 142,41 triệu ha năm 2015 đến 140,46 triệu ha năm 2020, chiếm 86% diện tích lúa toàn thế giới. Năng suất lúa thé giới đã tăng từ 4,59 (tắn/ha) năm 2015 đến 4,61 (tắn/ha) năm 2020.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa của Thế giới và Việt Nam (2015 — 2020) Lúa 2015 2018 2019 2020 Diện tich (1000 ha) 1623769 16575125 1617718 164192/2 Năng suất (tan/ha) 4,59 4,69 4,63 4,61 Thé gidi San lượng (triệu 745.3 759,1 749,2 756,7 tan) Diện tich (1000 ha) 1424164 6072,5 5643,4 5906,7 Chau A Năng suất (tắn/ha) 47 6,42 6,14 6,45 Sản lượng (triệutấn) 672,8 639,0 634,7 676,6 Diện tich (1000 ha) 7828,6 7570,7 7451,5 72226,2 Việ Nam Năng suất (tan/ha) 5,75 581 5,83 5,92 San luong (triéu tan) 45,09 44,05 43,50 42,76 (Nguồn: FAOSTAT, 2022) 1.2 Tinh hình sản xuất lúa ở Việt Nam So sánh diện tích canh tác và sản lượng giữa lúa và các cây lương thực khác ở Việt Nam thì lúa gạo vẫn là cây lương thực chủ lực được ưu tiên hàng đầu với diện tích nhiều nhất hơn hắn ngô và sắn, sản lượng cao hơn khoai lang và sẵn. Việt Nam vượt trội trong khu vực Đông Nam A nhờ hệ thống thủy lợi được đầu tư cải thiện đáng kể cũng như việc ứng dụng nhanh các tiến bộ kỹ thuật mới.
Theo đánh giá của BNN và PTNT (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn), việc sản xuất lúa của các địa phương đã tập trung và có bước đột phá mạnh mẽ trong khâu tô chức sản xuất, nhất là chú trọng việc xây dựng cánh đồng mẫu lớn. Lợi nhuận bình quân chung của bà con nông dân vẫn đạt được 30%.2 Bang thống kê tình hình sản xuất lúa gạo Việt Nam từ năm 2018 — 2020 theo FAOSTAT 2018 2019 SB2020 Dién tich (1000 ha) 7.279 Năng suất (tắn/ha) 5,82 5,82 5,87 Sản lượng (triệu tan) 44,05 43,50 42,76 (Nguồn: FAOSTAT, 2022) Từ thực tế trên, chiến lược phát triển của ngành hàng lúa gạo là không nên tiếp tục đi theo hướng tăng khối lượng gạo xuất khẩu. Những năm tới, cần tập trung vào tăng chất lượng dé nâng cao giá bán, đồng thời cơ cau lại chuỗi tiêu thụ lúa gạo dé tăng lợi nhuận cho nông dân. Có như vậy, sản xuất và tiêu thụ lúa gạo Việt Nam mới bền vững và ôn định lâu dai.3 Tình hình sản xuất lúa hữu cơ 1.1 Tình hình sản xuất lúa hữu cơ trên thế giới Nhu cầu sản xuất và tiêu thụ gạo hữu cơ ở nước ta cũng như trên thế giới ngày càng tăng.
Theo thống kê của FIBL (Viện Nghiên cứu nông nghiệp hữu co) và Tổ chức Nông nghiệp hữu cơ quốc tế (IFOAM) cho thay, hiện có hơn 71 triệu ha canh tác hữu 7 cơ, tương đương khoảng 1,5% tổng diện tích canh tác. Một số quốc gia như: Mỹ, Úc, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan,.có tốc độ phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ rất nhanh và đến nay trên thế giới có 186 quốc gia phát triển dòng sản phâm nông nghiệp hữu cơ. Theo Doãn Trí Tuệ (2018), ở Mỹ, người tiêu dùng rất ưa chuộng và tiêu thụ hàng chục ngàn tấn gạo hữu cơ hằng năm và con số đó vẫn không ngừng tăng. Giống lúa gạo hữu cơ được người Mỹ ưa chuộng nhất hiện nay là các giỗng gạo thơm được nhập từ các nước như: gạo của giống lúa Jasmine (Thái Lan), gạo của giống lúa Basmati (Ấn Độ và Pakistan).
Ở Ấn Độ, giống gạo hữu cơ được ưa chuộng nhất là giống Basmati thơm, ngon nổi tiếng, được trồng nhiều ở nước nay và Pakistan. Mỗi năm, người dân An Độ đều gieo trông hang chục ngàn ha giông lúa Basmati dé sử dụng trong nước va đê xuat khâu cho các nước trên thế giới theo các đơn đã đặt hàng trước. Ở Nhật Bản, việc sản xuất và sử dụng lúa gạo hữu cơ là khá phô biến. Để sản xuất ra lúa gạo hữu cơ, người nông dân Nhật Bản phải tuân thủ quy trình sản xuất nông sản phâm hữu cơ rất nghiêm khắc.
Điều mà người nông dân Nhật Bản quan tâm nhất đó là thương hiệu, chất lượng của sản phâm. Người dân Nhật Bản chủ yếu sử dụng gạo hữu cơ trong bữa ăn hằng ngày. Tat cả sản phẩm lúa gạo hữu cơ ở Nhật Bản đều được kiểm soát chặt chẽ và các sản phâm trên thị trường déu được truy xuât nguôn gôc rõ ràng. Ở Thái Lan, loại lúa gạo hữu cơ có gia tri nhất hiện nay là gạo Jasmine hữu cơ (Or-ganic Jasmine Rice).