MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Phân hữu cơ khoáng NTR1và NTR2 là 2 sản phẩm khoa học Công nghệ của trường Đại học Nông lâm – Đại học Thái Nguyên. Phân NTR1 có hàm lượng lân tương đối cao nên dùng chuyên bón lót, còn phân NTR2 có hàm lượng N và K20 cao chuyên dùng bón thúc. Phân NTR1 và NTR2 đã nghiên cứu sử dụng cho nhiều loại cây trồng nhưng chưa nghiên cứu xậy dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho cây ăn rau. Năm 2017, Trường Đại học Nông lâm được Bộ Khoa học và Công nghệ giao nhiệm vụ thương mại hóa công nghệ sản xuất phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 cho các tỉnh Trung du miền núi phía bắc và các tỉnh thành trong cả nước.
Để thương mại hóa công nghệ thì phải thương mại hóa được sản sản phẩm phân NTR1và NTR2. Muốn thượng mại hóa sản phẩm thì phải nghiên cứu xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân NTR1và NTR2 có hiệu quả cho cây trồng trong đó có cây rau. Hiện nay, vấn đề về sản xuất rau an toàn theo quy trình Viet GAP đang được cả dư luận và xã hội quan tâm, trong đó ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng cây rau cải xanh được coi là vấn đề quan trọng nhất. Phân hữu cơ khoáng NTR1và NTR2 là sản phẩm mới gồm khoáng hữu cơ – phân hữu cơ khoáng.
Để xây dựng quy trinh kỹ thuật sử dụng phân bón này cho cây rau nói chung và cây cải xanh nói riêng cần phải nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến năng suất và chất lượng của rau cải xanh. Vùng sản xuất rau an toàn Phổ Yên – Thái Nguyên là nơi có diện tích trồng rau an toàn lớn nhất tỉnh Thái Nguyên, tuy nhiên người dân sản xuất cải xanh chưa được khoa học theo quy trình Viet GAP và rau chưa đảm bảo chất c 2 lượng như bà con thiên về sử dụng phân chuồng tươi và sử dụng nhiều phân khoáng. Trong quá trình sản xuất, nông dân thường bón phân chưa cân đối, bón nhiều đạm (ure) làm cây mất cân đối về dinh dưỡng (gây ra thừa đạm) ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, cây dễ bị nhiễm các loại sâu bệnh hại dẫn đến năng suất còn hạn chế, chất lượng sản phẩm chưa cao. Đặc biệt việc bón quá nhiều đạm hoặc bón quá gần ngày thu hoạch và dư lượng nitrat tích lũy trong cây cải xanh vượt quá mức cho phép, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người sử dụng.
Tuy nhiên vẫn chưa có nghiên cứu nào được tiến hành trên cây rau cải xanh tại vùng sản xuất rau an toàn – Phổ Yên – Thái Nguyên. Xuất phát từ các vấn đề trên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng phân hữu cơ khoáng NTR1 và NTR2 đến sinh trưởng cây rau cải xanh ở thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên”.Mục đích và yêu cầu của đề tài 1.Mục đích của đề tài - Xác định khối lượng tổ hợp phân hữu cơ khoáng NTR1và NTR2 thích hợp cho cây rau cải xanh đạt hiệu quả kinh tế cao trồng tại xã Đông Cao - Thị xã Phổ Yên – Tỉnh Thái Nguyên.Yêu cầu của đề tài + Đánh giá được khả năng sinh trưởng và phát triển của rau cải xanh. + Đánh giá được mức độ biểu hiện sâu bệnh hại. + Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng của giống cải xanh ở các mức bón phân khác nhau.
+ Xác định được liều lượng bón phân hữu cơ khoáng NTR1và NTR2 hợp lý cho sản xuất rau cải xanh an toàn và hiệu quả. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Là cơ sở khoa học để xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân NTR1 và NTR2 cho cây cải xanh vào sản xuất nông nghiệp. - Kết quả của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật bón phân, bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu và giảng dạy về cây rau cải xanh.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần xây dựng kỹ thuật trồng rau tại vùng sản xuất rau an toàn Phổ Yên – Thái Nguyên thông qua biện pháp kỹ thuật bón phân, đồng thời đảm bảo an toàn về dư lượng NO3- trong sản phẩm. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa họccủa đề tài 2. Cơ sở lý luận Bằng kinh nghiệm sản xuất của mình nhân dân ta đã đúc kết “nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống” câu nông dao trên đã khẳng định vai trò của phân bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng.
Phân hóa học không chỉ có nhiệm vụ cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng sinh trưởng, phát triển mà còn có tác dụng tăng chất hữu cơ cho đất thông qua việc làm tăng sinh khối cây trồng. Nếu toàn bộ sản phẩm của cây trồng được trả lại cho đất thì độ phì của đất được ổn định và nâng cao dần. Trong mấy thập kỉ qua, năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới, phân bón cũng có vai trò quyết định. Giống mới chỉ có thể phát huy được tiềm năng, cho năng suất cao nhất khi được bón đầy đủ và hợp lí.
FAO đã tổng kết bón phân không cân đối làm giảm hiệu suất sử dụng 20-50% (Nguyễn Ngọc Nông,1999)[8]. Khi bón phân phải kết hợp giữa phân vô cơ và phân hữu cơ thì mới phát huy được hiệu quả cao và bền vững. Việc sử dụng phân bón thông thường cây hấp thu nhờ lông hút của bộ rễ và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: đất, nước, giống, thời tiết, vi sinh vật, phân chuồng… Mặt khác, chi phí phân bón trong nông nghiệp chiếm đến 30% - 50%. Trong đó mục đích của người sản xuất không chỉ nhằm đặt năng suất tối đa mà còn tìm lợi nhuận cao nhất.
Cho nên con người phải tìm đến những biện pháp kỹ thuật bón phân cân đối hợp lý cho từng loại cây trồng khác nhau. Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, tuy nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng, thời gian cách ly không đảm c 5 bảo sẽ dẫn đến tình trạng dư lượng NO3- trong sản phẩm vượt quá ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khoẻ người tiêu dùng. Vì vậy, trong việc sử dụng phân đạm hay bất cứ loại phân nào khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng, giai đoạn sinh trưởng, loại đất, nước, vi sinh vật và mùa vụ khác nhau…đồng thời bón đúng chủng loại, đúng lúc đúng cách đúng nồng độ, liều lượng, đảm bảo thời gian cách ly. Như vậy sẽ góp phần tăng hiệu suất sử dụng phân bón, tránh lãng phí và bảo vệ môi trường.
Cơ sở thực tiễn. Sản xuất rau nói chung và rau cải xanh nói rêng ở xã Đông Cao thị xã Phổ Yên cũng như các vùng rau khác trong cả nước đều thiếu phân bón hữu cơ trầm trọng. Trong canh tác rau truyền thống, phân chuồng là giải pháp chủ yếu của phân bón cho rau, tuy nhiên hiện nay, lượng phân chuồng trong chăn nuôi hiện có trong các nông hộ không thể đáp ứng nổi cho sự mở rộng diện tích trồng và thâm canh rau nhằm tăng tổng sản lượng cung cấp cho nhu cầu của thị trường ngày càng lớn. Quá trình thâm canh rau với sự có mặt tràn lan, mất cân đối của các chất hóa học như phân hóa học, phân chuồng tươi, thuốc bảo vệ thực vật đã làm tăng lượng Nitrat và các chất độc hại dư thừa trong rau, tạo ra sự mất vệ sinh an toàn thực phẩm, gây hại cho sức khỏe người sử dụng.
Về lâu dài, đất càng ngày càng bị chai cứng hơn do dung nhiều phân hóa học, tính đệm của đất giảm nhiều do thiếu mùn, sự ô nhiễm nặng nề về môi trường sản xuất đã dẫn đến hệ sinh vật đất và thiên địch có lợi cho cây trồng bị tiêu diệt. Nguồn nước ngầm đang dần dần bị ô nhiễm làm tăng nguy cơ thiếu tài nguyên nước sạch xung quanh đô thị. Vì vậy, việc sử dụng phân hữu cơ sinh học bón cho rau là biện pháp có hiệu quả nhất hiện nay để bổ sung chất hữu cơ cho đất, nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón, tăng cường hoạt động của các chủng vi sinh vật hữu ích, thúc c 6 đẩy nhanh quá trình phân giải chất hữu cơ từ phế phụ phẩm nông nghiệp, cung cấp mùn cho đất, cải tạo và bồi dưỡng đất, tiến tới nền sản xuất nông nghiệp hữu cơ, giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao năng suất và chất lượng rau. Khái quát tình hình sản xuất rau xanh trên thế giới và ở Việt Nam 2.
Tình hình sản xuất rau xanh trên thế giới. Tình hình sản xuất rau trên thế giới được thể hiện qua bảng 2.1: Diện tích, năng suất, sản lƣợng rau trên thế giới giai đoạn 2010 - 2014 Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2010 2.778,764 Nguồn: FAOSTAT 2017 [15] Qua bảng 2.1 cho ta thấy: Về diện tích: Diện tích trồng rau trên thế giới có sự biến động qua các năm. Nhìn chung từ năm 2010 đến năm 2011, diện tích trồng rau trên thế giới có xu hướng tăng, năm 2012 và năm 2013 diện tích trồng có giảm so với năm 2011. Năm 2014, diện tích trồng bí đỏ là cao nhất trong 5 năm, đạt 2.
Về năng suất: năm 2014 có năng suất cao nhất trong 5 năm, đạt 290,570 tạ/ha. Năm 2012, năng suất thấp nhất (280,557 tạ/ha) và giảm 4,334 tạ/ha so với năm 2011. Từ năm 2012 đến năm 2014, năng suất có xu hướng tăng. Về sản lượng: từ năm 2010 đến năm 2014, sản lượng bí ngô trên thế giới đều đạt trên 65 nghìn tấn.
Năm 2014, sản lượng bí đỏ lớn nhất đạt 71.2: Diện tích, năng suất, sản lƣợng rau của các châu lục trên thế giới giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014 Châu Năm Chỉ tiêu lục 2010 2011 2012 2013 2014 DT(1000 ha) 1.824,564 Nguồn: FAOSTAT 2017[15] Qua bảng 2.2 cho ta thấy: Về diện tích: Châu Á có diện tích trồng rau cao nhất thế giới, từ năm 2010 đến 2014 diện tích trồng rau của châu Á có xu hướng tăng, cao nhất là năm 2014 đạt 1.792,819 nghìn ha chiếm 72,58% diện tích trồng rau của thế giới. Diện tích trồng rau của châu Âu lớn thứ 2 sau châu Á, cao nhất là năm 2011 đạt 430,278 nghìn ha chiếm 17,47% diện tích trồng rau của thế giới. Từ năm 2010 đến năm 2013 diện tích trồng rau của châu Phi đều tăng nhưng từ năm 2014 lại có xu hướng giảm, năm 2013 có diện tích lớn nhất là 215,306 nghìn ha chiếm 8,91% diện tích trồng rau của thế giới.