Chương 1. Tổng quan tài liệu: Gồm 22 trang (từ trang 4 đến trang 25) Chương 2. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu: Gồm 11 trang (từ trang 26 đến trang 36) Chương 3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận: Gồm 41 trang (từ trang 37 đến trang 77) Kết luận và đề nghị: Gồm 2 trang (từ trang 78 đến trang 79) Tài liệu tham khảo: Gồm 6 trang (từ trang 81 đến trang 85) 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÂY HOA DẠ YẾN THẢO 1. Nguồn gốc - Cây hoa dạ yến thảo có tên tiếng anh là Petunia, thuộc họ cà (Solanaceae) [18], có nguồn gốc từ Nam Mỹ và có hai loài là Petunia intergrifolia (P. intergrifolia) và Petunia axillaris (P. Đây là hai loài dạ yến thảo đặc hữu cho Nam Mỹ: Argentina, Uruguay, Paraguay, Bolivia và Brazil và một trung tâm của Deversity ở miền Nam Brazil [37].
Ở Việt Nam hoa dạ yến thảo đƣợc trồng để trang trí trong nhà, ban công, quán cà phê, công viên và các vƣờn hoa. Ở miền Bắc, hoa nở vào dịp hè thu, còn ở miền Nam hoa nở vào dịp tết. Cây có nhiều tên gọi khác nhau, theo Phạm Hoàng Hộ (2000) [4] cây có tên là dã yên, theo Trần Hợp (2000) [5] cây có tên là hoa cà. Đây là một loài cây lai mà tổ tiên có từ nhiều loài khác của chi Petunia, ví nhƣ P.axillaris bsp (large white petunia) hoa dạng ống hẹp, màu trắng, hoặc P.violacea Lindl (Violet-flowered Petunia) hoa dạng ống dài, thùy rộng, màu tím.
Ngày nay các nhà làm vƣờn lai tạo ra nhiều dạng hoa kép hay cánh hoa xòe rất đẹp [14]. Vị trí phân loại Theo các nhà phân loại thực vật học thì hoa dạ yến thảo có vị trí phân loại nhƣ sau : Dạ yến thảo là loại cây hai lá mầm (Dicotyledonace) thuộc phân lớp cúc (Asterydae), bộ cà (Solanales), họ cà (Solanaseae), chi Petunia Juss [18]. Tên khoa học : Petunia hybrid. Gọi tắt là Petunia.
Ở Việt Nam hoa có tên phổ thông là dạ yến thảo, dạ yên thảo, dã yên thảo, dã yến thảo hay yên thảo hoa… 5 Tên gọi "petunia" xuất phát từ từ "petum" hoặc "betum", đây là tên gọi bản địa của cây thuốc lá, Nicotiana tabacum L [37]. Chi dạ yến thảo đƣợc thành lập bởi Jussieu năm 1803 dựa trên mẫu vật đƣợc thu thập tại Montevideo, Uruguay. Năm 1846, Miers công bố một sửa đổi về họ cà (solanaseae) ở Nam Mỹ, trong đó ông đã công nhận 10 loài dạ yến thảo. Năm 1850, Sendtner công bố bản sửa đổi của ông về họ Cà ở Flora Brasiliensis với 13 loài dạ yến thảo.
Trong cuốn Candolle's Prodromus, xuất bản năm 1852, Dunal trình bày 16 loài dạ yến thảo, và mô tả thêm một chi mới là Leptophragma đƣợc gọi là hoa triệu chuông [37]. Petchoa là một giống lai đƣợc lai tạo từ triệu chuông và dạ yến thảo [50]. Fries (1911) xuất bản bản khảo sát đầu tiên của dạ yến thảo, chấp nhận 27 loài dạ yến thảo. Việc phân loại này đã cung cấp các đặc điểm chi tiết về hình thái học, giới hạn, phân bố địa lý và các mối quan hệ của dạ yến thảo với các giống khác.
Năm 1984, Sink cung cấp đầy đủ công trình phân loại dạ yến thảo vào thời điểm đó [37]. * Một số loài hoa dạ yến thảo đƣợc trồng phổ biến hiện nay [42]: + Grandifloras: hoa lớn, nhiều hoa, hoa có đƣờng kính đến 12,5 cm, gồm cả dạng hoa đơn và hoa kép. Một vài giống hoa đơn có cánh gợn sóng hoặc viền, thân leo, có xu hƣớng lan rộng ra xung quanh. Những dạng hoa Grandifloras phổ biến: Supercascade, Super magic, Ultra, Storm và Falcon; + Multifloras: hoa nhỏ, đƣờng kính khoảng 5 – 7,5 cm, nhiều hoa, gồm cả dạng hoa đơn và hoa kép.
Những dạng hoa Multifloras đẹp nhƣ: Carpet, Primetime, Heavenly Lavender; + Floribundas: đây là dạng trung gian giữa Grandifloras và Multifloras. Nhóm này trổ hoa nhiều nhƣ Grandifloras và kích thƣớc hoa trung bình nhƣ Multifloras. Một số dạng hoa phổ biến nhƣ: Celebrity, Madness, Double Madness; 6 + Millifloras: cây nhỏ, dạng bụi rậm rạp, cho nhiều hoa có đƣờng kính từ 2,5 – 3,5 cm. Fantasy là một dạng trong nhóm này; + Spreading Petunias: loại này phát triển chậm nhƣng có thể trải rộng ra từ 0,9 – 1,2 m.
Hoa có nhiều màu sắc, thích hợp để trồng ở bồn hoa, cửa sổ hoặc trong các giỏ treo. Spreading Petunias chịu đƣợc khô hạn và rất dễ trồng. Một số dạng hoa phổ biến nhƣ: Purple Wave, Wave, Laura Bush. Đặc điểm thực vật học - Thân và lá: Cây thân cỏ, có 2 dạng cây: cây bụi đứng và cây bụi rũ.
Dạ yến thảo là cây sống hằng năm hoặc một năm, cây cao 15 – 30 cm. Thân có lông mịn bao quanh, phân nhánh từ các nách lá thật, một nách có thể phân nhiều nhánh. Lá đơn mọc đối hay luân phiên, mặt trên và dƣới của lá có phủ lớp lông mịn. Lá hình oval, mềm mại, mép nguyên không có răng cƣa [37]; - Hoa và quả: + Hoa nở bốn mùa, có ba cỡ: hoa nhỏ sấp sỉ 5 cm, nhỡ 8 cm, lớn 13 cm.
Hoa lớn, đơn độc mọc trên một nhánh dài 2 – 3 cm, đài hoa cao 1 - 2,5 cm. Hoa lƣỡng tính gồm 5 tiểu nhụy gắn ở phần dƣới của ống vành. Cánh tràng hợp thành ống loe rộng ở đỉnh, nổi rõ các gân thùy. Hoa dạ yến thảo nguyên thủy có hình phễu.
Tuy nhiên, sự lai tạo đã cho ra nhiều dạng hoa khác nhau nhƣ: hoa cánh đơn, hoa cánh kép với mép có viền và gợn sóng, mép hình cung nhọn ở giữa. Trên thế giới có khoảng 150 màu hoa: màu sắc hoa có thể thay đổi từ tía đến trắng, tía đến đỏ, đỏ đến cam, tím đến tím nhạt. Đặc biệt nhiều loại dạ yến thảo trắng thuần khiết hay xanh nhạt pha hơi đỏ (màu hoa oải hƣơng) [4], [37], [42]; + Mùi: Hoa dạ yến thảo có mùi thơm dịu dàng, là mùi hỗn hợp của một số hợp chất chủ yếu: ethylbenzoate, benzaldehyde, và rƣợu benzyl [37]; + Quả thuộc dạng quả nang 2 mảnh, trong mỗi quả có khoảng 100 - 300 hạt có kích thƣớc nhỏ [4]. Yêu cầu sinh thái 1.
Phản ứng quang chu kì của cây hoa dạ yến thảo Dạ yến thảo là cây ngày dài, chúng có thể sống trong bất kỳ thời gian chiếu sáng nào nhƣng cây sẽ ra nhanh hoa hơn trong ngày dài. Thời gian chiếu sáng dài (trên 13h/ngày) dẫn đến sự ra hoa, cây phát triển về chiều cao và ít xuất hiện nhánh. Thời gian chiếu sáng ngắn (8- 10 h/ngày) làm chậm thời gian từ gieo đến ra hoa, làm chậm sự kéo dài thân chính và tăng sự phân nhánh ở cây [44]. Tuy nhiên phản ứng quang chu kì của dạ yến thảo cũng bị ảnh hƣởng bởi nhiệt độ.
Ở nhiệt độ trung bình ngày dƣới 680F (200C), cây rất nhỏ và phân nhánh tốt bất kể ngày dài hay ngắn, tuy nhiên cây sẽ nhỏ hơn và phân nhánh kém hơn nếu là ngày dài. Ở nhiệt độ trên 680F (200C) trong những ngày ngắn, cây có nhiều cành hơn là trong những ngày dài và việc ra hoa bị trì hoãn. Sự ra hoa nhanh nhất xảy ra ở nhiệt độ trung bình ngày cao hơn 68 0F (200C) và thời gian chiếu sáng dài (trên 13 h/ngày), tuy nhiên chiều cao thân chính đƣợc kéo dài, sự phân nhánh bị hạn chế và kích thƣớc lá nhỏ hơn [44]. Yêu cầu về nhiệt độ.
Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trƣởng, phát triển của dạ yến thảo: nở hoa, chiều cao cây, sự phân nhánh,… Nhiệt độ thích hợp cho dạ yến thảo trong khoảng từ 50 – 770F (10 – 250C), còn dƣới 4oC hoặc cao hơn 35oC thì cây gần nhƣ ngừng sinh trƣởng, phát triển. Nhiệt độ trung bình ngày cao hơn sẽ giúp cây nhanh ra hoa hơn, cây cao, lá nhỏ và phân nhánh ít hơn. Sau khi trồng, nên để dạ yến thảo ở nhiệt độ ban ngày 70 – 750F (21 - 240C), ban đêm từ 60 - 630F (15 - 170C) cây sẽ sinh trƣởng và phát triển tốt. Nên duy trì nhiệt độ ban đêm 63 0F (170C) trong một tuần hoặc 10 ngày sau khi trồng, sau đó giảm xuống 600F (150C) nếu cần [44].
Yêu cầu về độ ẩm Dạ yến thảo là loài cây ƣa ẩm nên phải tƣới nƣớc thƣờng xuyên và vừa phải, không quá nhiều nhƣng cũng không để đất quá khô. Tùy thuộc vào từng giai doạn phát triển mà điều chỉnh độ ẩm cho phù hợp : giai đoạn gieo hạt cần đảm bảo độ ẩm bão hòa nhƣng khi cây phát triển đến giai đoạn tiếp theo cần giảm độ ẩm để tăng khả năng hoạt động của rễ trong việc chủ động tìm nguồn nƣớc, kích thích sự phát triển của rễ [44]. Yêu cầu về đất đai và dinh dưỡng: - Đất: Dạ yến thảo trồng đƣợc trên hầu hết các loại đất, nhƣng tốt nhất là đất màu mỡ, thoát nƣớc tốt, không dịch bệnh, pH thích hợp từ 6,0 – 7,0 và độ dẫn điện ban đầu khoảng 0,75 ms/cm [44]. - Dinh dưỡng: Không cung cấp chất dinh dƣỡng trong 7 – 10 ngày sau khi trồng để rễ có thể phát triển đến đáy chậu.
Sử dụng phân bón cung cấp N ở mức 150 – 200 ppm, nên xen kẽ phân bón hoàn chỉnh 20-10-20 với phân bón cơ sở 15-0-15 hoặc canxi nitrat (15,5-0-0) và kali nitrat (13-0-44).1 dƣới đây liệt kê các mức phân bón khuyến cáo nên dùng cho dạ yến thảo. Tỷ lệ phân bón đƣợc giảm xuống một nửa trong một tuần hoặc hai tuần trƣớc khi bán ra thị trƣờng để cây cứng cáp hơn [44]. Liều lƣợng phân bón cho hoa dạ yến thảo Nguyên tố Phần trăm (%) Nguyên tố ppm N 3,85 – 7,60 Fe 84 – 168 P 0,47 – 0,93 Mn 44 – 177 K 3,13 – 6,65 Zn 33 – 85 Ca 1,20 – 2,81 Cu 3 – 19 Mg 0,36 – 1,37 B 18 – 43 S 0,33 – 0,80 Mo 0,19 – 0,46 Nguồn: Plant Analysis Handbook II, MicroMacro Publishing, 1996. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế của hoa dạ yến thảo - Giá trị sử dụng: Hoa dạ yến thảo cho hoa nhiều và thân có tính năng 9 buông rũ nên trồng ở ban công rất đẹp.
Dạ yến thảo có hoa liên tục, hết đợt này đến đợt khác, dễ tìm các loại giống và hoa có một mùi thơm rất đặc biệt, ít bị ảnh hƣởng bởi sâu bọ và quan trọng nhất là dễ trồng và dễ chăm sóc - Giá trị kinh tế: Bên cạnh các loại hoa kiểng chủ lực, nhiều nông dân, nhà vƣờn ở Bến Tre, Đồng Tháp, Hƣng Yên,. còn trồng hoa treo, rất bắt mắt, thu hút nhiều ngƣời chơi hoa. Đó là các loài hoa: dạ yến thảo, dừa cạn, son môi, sò,… Hoa treo giá bán từ 25 ngàn - 40 ngàn đồng/chậu, mỗi đợt ra hoa kéo dài 2-3 tháng.