Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 So lược về cây hung qué 1.1 Phân loại nguồn gốc húng quế Hung qué (Ocimum basilicum L.) còn có tên gọi khác là hing gidi, rau é, é tia, é qué hoặc hương thai, có nguồn sốc rất đa dạng ở Châu Phi. Trong tự nhiên, hing quế được phân bó chủ yếu ở Châu A, Châu Phi và mọc hoang đã ở Châu Đại Dương. Hung qué được mang từ An Độ qua Trung Quốc vào thế ki 16 và sau đó đến Châu Âu vào thế ki 17 (Tom, 1997). Húng quế là cây thuộc bộ hoa môi (/amiales), họ hoa môi (lamiaceae), chi hing qué (Ocimum), loài O.2 Đặc điểm thực vật học Rễ: Rễ húng quế phát triển từ rễ phôi, hướng ăn sâu xuống lớp đất mặt có độ sâu từ 18 - 25 cm, ngoài ra còn rễ cấp 2, cấp 3 tạo thành bộ rễ bám chặt vào đất giữ cho cây khỏi đỗ ngã, hút nước và thức ăn từ đất dé nuôi cây (Nguyễn Hữu Doanh, 2000).
Thân: Thời kỳ mọc và thời kỳ cây con, thân phát triển chậm, đến khi có mầm nhánh, thân phát triển mạnh. Thân cây húng quế thường cao từ 40 - 60 em, trên thân có mắt đốt là những điểm xuất phát của các mầm nhánh, mỗi mắt đốt có 2 lá mọc đối (Nguyễn Hữu Doanh, 2000). Thân có mau thường phinh to ở giai đoạn già, khoảng cách giữa 2 mau là 2 - 8 em. Thân non màu xanh có phot tia hoặc mau tia, tiét dién vuông hơi tròn hoặc có bốn góc lòi tròn nhẫn (Vũ Thị Hải Yến, 2018).
Lá: Lá hình thoi, có cuống dài. Lá mọc đối xứng trên cùng một mắt, gân lá hình mang lưới lông chim, mép lá nhãn (Nguyễn Hữu Doanh, 2000). Các chồi thường hay đâm ra từ các nách lá nên cành húng quế thường sum xuê. Lá màu xanh lục, có loại mau tóm đen nhạt (Mai Văn Quyền và ctv, 2000).
Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập, phiến lá hình trứng nhọn ở đầu và đáy phiến lá hình nêm men dần xuống cuốn, kích 3 thước 3 - 8 em x 2 - 5 cm, mặt trên có màu đậm hơn mặt dưới, bìa có răng cưa ca ở 2/3 phía trên, nhiều đốm tuyến. Gan lá hình lông chim, nỗi rõ ở mặt dưới, có 6 - 8 cặp gân phụ hơi cong lên ở mép lá có ít lông tơ ngắn. Cuống lá màu xanh nhạt, hình trụ hơi phẳng ở mặt trên, dai 2 - 5 cm, ít lông ngắn (Vũ Thị Hải Yến, 2018). Hoa: Hoa nhỏ màu trắng hay tía, mọc thành chùm đơn hay phân nhánh với những hoa mọc thành vòng có từ 5 - 6 hoa (Mai Văn Quyền và ctv, 2000).
Cuống hoa nằm ở phần ngọn của thân và nhánh. Hoa mọc thành chùm, mỗi chùm có 3 - 6 hoa, cánh hoa màu tím hoa cà, nhị và nhụy hoa dài hơn cánh. Hoa nở lần lược là từ đưới lên trên. Sau khi được thụ phấn, cánh hoa tàn dần, quả được hình thành, kết hạt, gia va chín (Nguyễn Hữu Doanh, 2000).
Hoa nhỏ, không đều, lưỡng tính. Cuống hoa màu xanh hoặc tia, hình trụ nhỏ, dai 0,2 - 0,5 cm, có lông thường dựng đứng áp vao trục hoa (Vũ Thị Hải Yến, 2018). Quả: Quả bế tư, màu đen, hình trứng ngược dài khoảng 1,2 mm đựng trong dai đã tồn tại (Vũ Thị Hải Yến, 2018). Quả khô tách ra, hạt tự rơi xuống đất cũng có khả năng tự mọc nhưng tỷ lệ mọc rất thấp (Nguyễn Hữu Doanh, 2000).3 Yêu cầu ngoại cảnh Húng quế thích nghi được trên nhiều loại đất khác nhau, sinh trưởng tốt nhất trên các vùng đất thịt, nhiều mùn, thoáng, xốp, và thoát nước tốt.
Đặc biệt là nơi đất trồng húng qué cần nang tốt, vì có năng hing qué mới có mùi thơm đặc trưng (Đường Hồng Dat, 2003). Nhiệt độ thích hợp cho cây hing qué sinh trưởng là 18 - 35°C, độ am đất thích hợp cho cây hing qué trong khoảng 65 - 70% và độ 4m không khí thích hợp cho cây hung qué trong khoảng 65 - 80% (Tạ Thu Cúc, 2013). Cây húng qué khá dé chịu, có khả năng thích nghi rộng có thé sinh trưởng tốt trên đất có pH từ 4,3 - 8,2 trong đó pH thích hợp nhất là 6,0 - 7,5 (Randall và ctv, 1994).4 Các loại sau bệnh hại chính 1.1 Sâu hại Sâu xanh ăn lá (Diaphania indica) can phá bông và lá non làm cây sinh trưởng chậm, biện pháp phòng trừ là cày phơi đất trước khi trồng dé tiêu diệt trứng và nhộng, 4 làm đất kỹ sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh các bờ đề hạn chế nguồn kí chủ phụ của sâu, với điện tích nhỏ có thé bắt sâu bằng tay. Rệp mềm (Aphis gossypii) tập trung chủ yếu ở mặt dưới 14 hing qué và ở các chỗồi non.
Rệp chích hút làm cho lá và dot non cây hing qué biến dang, cây còi cọc gây ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng năng suất cây khi thu hoạch. Biện pháp phòng trừ khi mật độ bị rệp hại thấp có thể lặt bỏ bằng tay, mật độ rệp cao có thể phun thuốc bảo vệ thực vật.2 Bệnh hại Bệnh nắm mốc sương (Peronospora bellbahrii) rat nguy hiém đối với cây hing qué, bệnh lây lan nhanh làm giảm năng suất cây trồng, triệu chứng lá xuất hiện các vết mốc màu đen ở mặt đưới lá sau đó lan đến mặt trên lá làm lá vàng và rụng, bệnh phát trién trong điêu kiện nhiệt độ thâp âm độ cao. Bệnh cháy lá (Pestalotia funereal) triệu chứng xuất hiện là những vết cháy loang 16, làm cho phần lá bị bệnh khô lại nếu không phòng trừ kip sẽ nhanh chóng lan trên diện rộng.3 Giá trị sử dụng Trong y học, húng quế có tác dụng chữa cảm cúm, đầy bụng khó tiêu, vấp ngã hay bị sưng đau đầu, hạt húng quế có tác dụng nhuận tràng (Trương Thị Đẹp, 2007). Trong cây hing quế có từ 0,4 - 0,8% tinh dau màu vàng nhạt, thơm nhẹ dễ chịu, có làm lượng tinh dầu cao nhất lúc cây đã ra hoa.
Tinh đầu có mùi thơm của xả và chanh, trong tinh dầu có 60% linalol, 25% cineol, 60% estragol methyl, 70% chavicol và nhiều chất khác. Tinh dau hing quế có tính kháng khuẩn, kháng nấm và kháng côn trùng. Có khả năng bảo vệ cơ thể đối với các yếu tố môi trường độc hại, giúp tinh thần thư giãn, chống stress, tram cảm (Hồ Dinh Hải, 2014). Hung qué có chứa 2 flavanoid với 2 chất orientin và vincenin.
2 flavanoid quan trọng tan trong nước. Các chất này trong húng quế bảo vệ cấu trúc tế bào cũng như nhiễm sắc thé từ bức xạ và oxi hóa tự nhiên (Vũ Thị Hải Yến, 2018). Hing qué được phát hiện là một trong những cây cung cấp lượng xanthophyll carotenoids cao nhất, có khả năng làm giảm nguy co ung thư (Laura và ctv. 3 Một kết quả nghiên cứu được thực hiện tại An Độ ghi nhận rằng húng quế giúp duy trì mức bình thường của cortisol - hormone gây stress trong co thé.
Hàm lượng chất chống oxy hóa đồi dào trong húng qué được cho là có thé hỗ trợ ngăn can quá trình phát triển bệnh ung thư vú và ung thư miệng.1 Thanh phần dinh dưỡng trong 100 g hing qué Chi téu Két qua Chi tiêu Két qua Nang luong 22 kcal Carbohydate 2,65 g Chat xo 1,62 Chat béo 0,64 g Protein 3,158 Nước 92,06 g Vitamin A 263 wg Thiamine 0,034 ng Riboflavin 0,076 mg Niacin 0,902 mg Vitamin B6 0,155 pg Folate 68 ug Choline 11,4 mg Vitamin C 18 mg Vitamin E 0,8 mg Vitamin K 414,8 ug Canxi 177 mg Sat 3,17 mg Magie 64 mg Mangan 1148 mg Photpho 56 mg Kali 295 mg Natri 4 mg Kém 0,81 mg (Nguồn: USDA Nutrient database) 1.2 Téng quan vé phan bon la 1.1 Khái niệm phan bón lá Theo Nguyễn Mạnh Chinh va ctv (2005), phân bón lá là những hợp chất dinh dưỡng gồm nhiều nguyên tố đa lượng hoặc vi lượng được hòa tan trong nước và phun lên lá cây trồng dé cây hấp thu nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây. Qua đó làm tăng năng suất, phẩm chất và mẫu mã nông sản. Theo Trần Thị Thu Hà (2009), phân bón lá là loại phân được sản xuất ở dạng nước hoặc được hòa tan trong nước và phun lên lá nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Theo Bộ NN và PTNT (2021), phân bón lá là loại phân thuộc các nhóm phân bón hóa học, phân bón hữu cơ, phân bón sinh học mà các loại phân bón này được sử dụng đề cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng thông qua thân, lá.2 Phân loại phân bón lá Phân bón lá rất đa dạng về cả thành phần các chất cũng như đa dạng cho từng loại cây trồng, từ những loại phân đơn như: P, Zn, N, Cu,.
cho đến các loại phân bón lá hỗn hợp gồm có các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng. Ngoài ra phân bón lá còn được bé sung thêm các chat kích thích sinh trưởng dé cây phát triển tốt hơn, tăng năng suất và chất lượng. Hiện nay, bên cạnh các loại phân bón lá đã được sử dụng khá phô biến, các loại phân bón lá mới vẫn được tiếp tục nghiên cứu và phát triển, đó là các loại phân bón lá có nguồn gốc từ tự nhiên như phân bón lá vi sinh, phân bón lá sinh học, không chi góp phần tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, giúp tăng cường khả năng đề kháng chống lại sâu bệnh mà còn thân thiện với môi trường. Theo Bùi Huy Hiền và ctv (2013) có thể chia phân bón lá thành các nhóm theo dạng, thành phần đinh dưỡng và theo cơ chế liên kết các nguyên tô dinh dưỡng.
- Theo dạng thì phân bón lá được chia thành: Dạng rắn va dang lỏng. - Theo thành phan có thé chia phân bón lá thành 3 nhóm: Chỉ có các yếu tố dinh dưỡng vô cơ riêng lẽ hoặc phối hợp (đa lượng, trung lượng và vi lượng), có bổ sung chất điều hòa sinh trưởng (kích thích, ức chế), có thuốc bảo vệ thực vật. - Theo cơ chế liên kết các nguyên t6 dinh dưỡng thì phân bón lá được chia thành 2 nhóm: Dạng vô cơ và dạng hữu cơ (trong đó có chelate) và hữu cơ - khoáng.3 Cơ sở sử dụng phan bón lá Phân bón lá được sử dụng như là một cách bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng một cách nhanh chóng. Việc bón phân qua lá có thể xem là cách nhanh nhất mà cây có thể hấp thụ.
Hiện nay việc sử dụng phân bón lá được xem như một công cụ quản lý hiệu quả và bền vững đối với cây trồng. Một trong những nguyên nhân cơ bản là cây trồng tiếp nhận dinh dưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15 - 20 lần diện tích đất ở | tán cây che phủ.