Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU z RhoA 1.1 Tông quan về cây cao su 1.1 Nguồn gốc cây cao su Cây cao su có tên khoa học là Hevea brasiliensis là cây công nghiệp lay mủ thuộc họ Eupphorbiacae (họ thầu dau). Cây cao su được tim thấy trong tự nhiên ở vùng châu thô sông Amazon (Nam Mỹ) đây là vùng có đầy đủ các điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu thích hợp cho cây cao su phát triển, lượng mưa trung bình năm khoảng trên 2000mm/năm, đất thuộc loại sét tương đối giàu dinh dưỡng, độ pH từ 4,5 đến 5,5 và tầng đất sâu thoát nước trung bình.000 hạt cao su đem gieo ở Culcutta - Ấn Độ sống được 12 cây nhưng sau đó bị chết. Đến năm 1876, Henry Wickham (người Anh) mang 70.000 hạt đem gieo tại vườn bách thảo Kew (Anh) mọc được 24 cây, số cây này được đem trồng tại Colombo — Srilanka sau đó phát triển rộng khắp Đông Nam Á, Châu Phi và trở lại Châu Mỹ. Năm 1883 có 22 cây cao su giống từ vườn thực vật Ceylon được phân phối dé nhân trồng trên thé giới.
Cho đến nay từ nhiều tài liệu, có thể nói nguồn gốc cây cao su thiên nhiên trồng trên thế giới hiện nay là cây cao su của Henry Wickham mà nguồn gốc từ thượng nguồn sông Amazon (Nguyễn Thị Huệ, 1997). Cây cao su đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam do Pierre đưa vào được trồng tại vườn Bách Thảo Saigon năm 1878 nhưng không sống được cây nào. Năm 1897, ông Edovard Raoul, một được sĩ hải quan người Pháp du nhập một lượng lớn hạt giống cao su (Heveabrasiliensis) từ vườn thực nghiệm Buitenzoorg (Java) Indonesia vào Việt Nam, trồng tại trại thí nghiệm Ông Yém (huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) và một sỐ gửi đến bác sĩ Yersin cùng với các hạt giống do bác sĩ Yersin xin được từ Colombo (Si Lanka) đem trồng tai trai thí nghiệm Suối Dau của viện Pasteur Nha Trang dé t6 chức 4 nhân trồng. Như vậy, năm 1897 được công nhận là năm di nhập chính thức của cây cao su vào Việt Nam (Nguyễn Thị Huệ, 1997).2 Đặc điểm thực vật học Cây cao su xuất xứ là cây rừng hoang đại, thân cao trên 30 m, vanh thân có thể đạt tới 5 m, tán lá rộng và có thể sống trên 100 năm.
Hiện nay cây cao su trồng trong sản xuất đại trà thường là cây đã được ghép của những dòng vô tính đã được chọn lọc đê bảo đảm tính tương đôi và đông nhât của vườn cây và ôn định năng suât. Rê: Cây cao su vừa có ré cọc vừa có ré bàng, ré cọc căm sâu vào dat, chong đô ngã va hút nước, dinh dưỡng từ tang đất sâu. Hệ thống rễ bang phát triển rat rộng và phần lớn tập trung ở tầng canh tác, nhiệm vụ chủ yếu là hút nước và hút dinh đưỡng. Thân: Bộ phận kinh tế nhất của cây cao su là phần thân cây với lớp vỏ mang những ống chứa mủ, đây là nơi khai thác mủ sau đó là khai thác gỗ.
Lá: Loại lá kép có ba lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách và mọc thành từng tầng. Từ năm thứ 3 trở đi, cây có giai đoạn rụng lá qua đông tập trung ở những vùng có mùa khô rõ rệt. Hoa, quả và hạt: Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu, phát hoa hình chùm mọc ở đầu cảnh sau giai đoạn thay lá hằng năm, tỷ lệ 1 hoa cai/60 hoa đực, hoa đực thường nở trước hoa cái một thời gian nên phan lớn hoa thu tinh bằng giao phan chéo thông qua trung gian gió và côn trùng. Quả hình tròn hơi dẹp, quả có 3 ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt, hạt cao su có chứa tỷ lệ dầu khá cao nên thời gian bao quản hạt trước khi gieo tương đối ngắn.3 Đặc điểm sinh học của cây cao su Cây cao su khi được nhân trồng trong sản xuất với mật độ từ 400 — 571 cây/ha và chu kỳ sông được giới han lại từ 30 — 40 năm, chia làm 2 thời kỳ: Thời kỳ kiến thiết cơ bản (TKKTCB): Là khoảng thời gian 07 năm của cây cao su tính từ khi trồng cây.
Đây là khoảng thời gian cần thiết để vanh thân cây cao su đạt 50 em đo cách mặt dat 1 m. Tuy điều kiện sinh thái, chăm sóc và giống, ở điều kiện sinh thái đặc thù của vùng duyên hải miền Trung, thời gian KTCB phổ biến là từ 7 — 8 năm. Tuy nhiên, với điều kiện chăm 3 sóc, quản lý vườn cây đúng quy trình, chọn giống và vật liệu trồng thích hợp thì có thể rút ngắn thời gian KTCB từ 06 tháng đến 01 năm. Thời kỳ kinh doanh (TKKD): Là khoảng thời gian khai thác mủ cao su, cây cao su được khai thác khi có trên 70% tổng số cây có vanh thân đạt từ 50 cm trở lên, giai đoạn kinh doanh có thé dai từ 25 — 30 năm.
Trong giai đoạn này cây vẫn tiếp tục tăng trưởng nhưng ở mức thấp hơn nhiều so với giai đoạn KTCB. Năng suất mủ thấp ở những năm đầu tiên, sau đó cao dần ở những năm cạo thứ ba, thứ tư đến năm thứ năm, năm thứ sáu năng suất đạt cao dần và ôn định. Sau giai đoạn trung niên khi cây ở tuổi cạo từ năm thứ 18 trở đi năng suất giảm nhanh do ảnh hưởng tới các yếu tố sinh lý, gãy đồ do mưa bão, bệnh. làm giảm mật độ vườn cây đồng thời năng lực tái tạo mủ của cây cũng giảm sút.
Các yếu tố này là nguyên nhân trực tiếp làm giảm năng suất mủ cao su.4 Đặc tính của mủ cao su. Mu nước là sản pham chính thu được từ mủ cao su. Mu nước là một dung dich thể keo, màu trắng đục như sữa hoặc có màu hơi vàng hoặc hơi hồng tuỳ theo giống cây. Mủ nước có tỷ trọng từ 0,974 (khi mủ có độ DRC = 40%) đến 0,991 (khi DRC = 259).
Thành phần mủ nước trung bình gồm: cao su = 30 - 40%, nhựa (Resine) = 1,5 - 2%, nước = 55 - 60%, đường, Indositol = 1%, Protein = 2%, chất khoáng = 0,5 - 1%. Trong mủ nước có nhiều loại hạt như: phân tử cao su, hạt Lutoid, hạt Frey - Wyssling. chứa trong 1 dung dich gọi là mủ thanh. Mu thanh có cấu tạo gồm nước có hoà tan nhiều chất muối khoáng, acid, đường, muối hữu cơ, kích thích tố, sắc tố, enzym, có pH = 6,9 và có điểm dang điện thấp.
Kết quả theo dõi cho thay mủ nước thu được vào buổi trưa có chứa hàm lượng đường, protein và tro là 300%, 100% và 50% so với mủ nước buổi sáng (Nguyễn Thị Huệ, 2007).5 Vai trò kinh tế của cây cao su Cây cao su từ khi trở thành hàng hoá, công dụng của nó ngày càng được mở rộng. Hiện nay mủ cao su trở thành một trong bốn nguyên liệu chính của Ngành công nghiệp thế giới, nó đứng sau gang thép, than đá và dầu mỏ. Sản phâm cần dùng đến cao su có thê kê đên các loại sau: lôp ô tô chiêm 70% sản lượng cao su thê giới, kê đên là cao su dùng đê làm ông băng truyên, đệm giảm xóc, vật liệu chông mài mòn, các thiết bị hàng không, dụng cụ gia đình và dụng cụ thê thao. Ngoài giá trị mủ cao su, cây cao su còn có thể cung cấp một lượng gỗ lớn, mặt hàng đồ gỗ cao su Việt Nam chiếm khoảng 10% trong tổng giá trị đồ gỗ xuất khâu.
Hàng năm sau năm thứ 7, cây cao su có thể cung cấp khoảng 200 - 300 kg hạt/ha với hàm lượng dầu khoảng 10 - 20% trọng lượng hạt; lượng protein trong hạt, dầu cao su có thé dùng trong công nghệ son, vecni, xà phòng, làm chất độn pha thuốc kích thích mủ cao su hoặc nếu được xử lý thích hợp có thé dùng làm dầu thực phẩm; cuối cùng việc trồng cao su đem lại những lợi ích về môi trường, về rừng phòng hộ, phủ xanh đất trống đổi núi trọc, chống xói mòn dat góp phần xây dựng chương trình xóa đói giảm nghèo, ôn định xã hội thông qua việc tạo công ăn việc làm cho đồng bào dân tộc ở các vùng sâu, vùng xa và là môi trường tôt đê nuôi ong lây mật. Về giá trị thương mại của mủ cao su thiên nhiên là loại nguyên liệu độc quyền trong thời gian đầu của thế kỷ XX, sau chiến tranh thế giới thứ II sự xuất hiện của cao su nhân tạo làm từ dau mỏ, cao su thiên nhiên bị cạnh tranh gay gắt trong nhiều thập kỷ. Do cao su là sản phẩm quan trọng cho nhiều ngành công nghiệp nên giá mủ cao su luôn ổn định trong thời gian dài. Tuy vậy, những năm gan đây cùng với thị trường Trung Quốc rộng lớn nhập khâu cao su Việt Nam trên 70% kế đến là thị trường Nga, Hàn Quốc, EU, Hoa Ky và một số nước khác.2 Yêu cầu sinh thái Dé cây cao su phát triên tot và cho hiệu quả cao cân chú ý đên các yêu câu vê kỹ thuật trồng.
Các yêu cầu đó là: Nhiệt độ: Cây cao su cần nhiệt độ cao và đều với nhiệt độ thích hợp từ 25 - 30°C. Các vùng trồng cao su trên thế giới hiện nay phần lớn ở vùng khí hậu nhiệt đới có nhiệt độ bình quân năm bằng 28°C + 2°C và biên độ nhiệt trong ngày là Te» eo. Ở nhiệt độ 25°C năng suất cây dat mức tối hảo, nhiệt độ mát dịu vào buổi sáng sớm (1 - 5 giờ sáng) giúp cây sản xuất mủ cao nhất. Lượng mưa: Cây cao su có thê trồng ở các vùng đất có lượng mưa từ 1.
Ở những nơi không có điều kiện đất thuận lợi, cây cao su cần 7 lượng mưa từ 1. Các trận mưa lớn kéo dài nhất là các trận mưa buổi sáng gây trở ngại cho việc cạo mủ và đồng thời làm tăng khả năng lây lan, phát triên của các loại nâm bệnh gây hại trên mặt cạo cây cao su. G1ó: Gió nhẹ | - 2 m/s có lợi cho cây cao su vì gió giúp cho vườn cây thông thoáng, hạn chế được bệnh và giúp cho vỏ cây mau khô sau khi mưa. Trồng cao su ở nơi có gió mạnh thường xuyên, gió bão, gió lốc sẽ gây hư hại cho cây cao su, làm bị gãy cành, gãy thân, đồ cây, rễ cây cao su không phát triển sâu và rộng được.
Gio chiêu sáng, sương mu: Giờ chiếu sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp của cây và như thế ảnh hưởng đến mức tăng trưởng và sản xuất mủ của cây. Ánh sáng đầy đủ giúp cây ít bệnh, tăng trưởng nhanh và sản lượng cao. Giờ chiếu sáng được ghi nhận tốt cho cây cao su bình quân là 1.800 giờ/năm và tối thiêu khoảng 1.