Chương 1. Trình bày nghiên cứu tổng quan: lí do chọn đề tài, tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, mục tiêu và hướng nghiên cứu của luận văn. Trình bày cơ sở lý thuyết về vải dệt thoi, vải lụa tơ tằm và độ bền đường may, các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền đường may Chương 3. Trình bày nghiên cứu thực nghiệm Chương 4.
Trình bày kết quả nghiên cứu và biện luận Kết luận Nguyễn Hoàng Thi Phụng Luận văn cao học 5 CHƢƠNG 2. Giới thiệu chung về vải dệt thoi Theo phương pháp sản xuất, vải dệt được chia thành ba loại: vải dệt thoi, vải dệt kim và vải không dệt mà thành phần cơ bản chủ yếu là sợi. Hệ thống sợi được đan thẳng góc với nhau (như vải dệt thoi), hay vòng sợi móc nối nhau (như vải dệt kim) hoặc sợi được liên kết với nhau bởi lực nén, lực ma sát, lực kết dính (như vải không dệt). Trong số các loại vải dệt, vải dệt thoi được phát minh sớm nhất, được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực và cũng có nhiều chủng loại nhất.
Cấu trúc của vải dệt thoi [14] 2. Khái niệm Vải dệt thoi là sản phẩm dạng tấm, được sản xuất dựa trên nguyên lý liên kết giữa các sợi ngang và sợi dọc được đan theo phương thẳng góc. Hệ thống sợi nằm dọc theo chiều dài tấm vải gọi là sợi dọc, còn hệ thống kia gọi là sợi ngang. Tuỳ theo thành phần xơ, sợi mà vải thuộc loại đồng nhất, không đồng nhất hoặc pha.
Vải đồng nhất chỉ dệt bằng một loại xơ, sợi duy nhất như vải bông, vải len, lụa tơ tằm hoặc lụa tơ hoá học. Vải không đồng nhất có các hệ sợi đồng nhất nhưng khác loại như sợi bông với sợi len, sợi tơ tằm với tơ hoá học. Vải pha được dệt từ sợi pha, ví dụ sợi bông pha polyester. Vải có ba kích thước: dài, rộng và dày.
Với chiều dài tùy ý, chiều rộng hay còn gọi là khổ vải tùy thuộc vào công dụng của vải và thiết bị dệt vải. Chiều dày tấm vải quyết định bởi cỡ sợi và kết cấu của vải. Đặc trƣng cấu trúc Cấu trúc vải được đặc trưng bởi: quy cách sợi, kiểu dệt, mật độ sợi trong vải,… thể hiện qua các kích thước, các dạng, sự bố trí và liên kết của hai hệ sợi tạo nên vải. Quy cách của sợi Chủ yếu do cỡ sợi quyết định, nó ảnh hưởng trực tiếp đến khối lượng 1 m2 của vải và các tính chất sử dụng của vải sau này, sau đó là độ xoắn của sợi.
Với độ xoắn cao, sợi sẽ bền, ảnh hưởng tốt đến độ đứt sợi khi dệt và các tính chất sử dụng của Nguyễn Hoàng Thi Phụng Luận văn cao học 6 vải. Về tính chất, độ đều và độ bền kéo của sợi rất quan trọng. Độ sạch và một số tính chất khác là thứ yếu. Sợi dọc có yêu cầu cao hơn sợi ngang về chất lượng.
Kiểu dệt Kiểu dệt thể hiện vị trí tương đối của sợi dọc và sợi ngang với nhau trong vải. Kiểu dệt quyết định hình thức của mặt vải và có ảnh hưởng đến các tính chất sử dụng của vải. - Rappo kiểu dệt (ký hiệu R) là hình dệt nhỏ nhất được lặp lại, chứa số sợi dọc và sợi ngang tối thiểu trên đó các sợi dọc và sợi ngang đan theo một quy luật nhất định. Rappo kiểu dệt càng lớn thì hình hoa của vải càng phong phú và phức tạp.
Vì vậy, rappo kiểu dệt quyết định hình dạng bên ngoài của vải. + Số sợi dọc trong rappo gọi là rappo sợi dọc, ký hiệu Rd + Số sợi ngang trong rappo gọi là rappo sợi ngang, ký hiệu Rn - Điểm nổi: là giao điểm giữa sợi dọc và sợi ngang + Điểm nổi dọc: vị trí sợi dọc nằm trên sợi ngang. + Điểm nổi ngang: vị trí sợi ngang nằm trên sợi dọc. - Bước chuyển: khoảng cách tính bằng đơn vị ô từ điểm nổi này sang điểm nổi khác, ký hiệu S.
+ Bước chuyển dọc (Sd): là khoảng cách giữa hai điểm nổi dọc kế cận. + Bước chuyển ngang (Sn): là khoảng cách giữa hai điểm nổi ngang kế cận. - Các kiểu dệt cơ bản: có thể chia kiểu dệt ra thành các nhóm sau: Bảng 2. Đặc điểm các kiểu dệt cơ bản Kiểu dệt vân điểm Kiểu dệt vân chéo Kiểu dệt vân đoạn Hình mô tả kiểu dệt Nguyễn Hoàng Thi Phụng Luận văn cao học 7 Biểu diễn Vân điểm Vân chéo 1/3 Vân đoạn 5/3 kiểu dệt Mô tả - Là kiểu dệt đơn - Mặt vải có các đường - Số sợi dọc và sợi giản nhất.
dệt chéo theo góc ngang trong rappo - R = 2 (hay Rd= Rn= khoảng 45o so với phải lớn hơn hoặc 2) biên vải. bằng 5, bước chuyển - S = 1 (hay -1) - Rd= Rn 3 lớn hơn 1 và nhỏ hơn - Vải có hai mặt - Sd= Sn= 1 (dấu R-1. của bước chuyển thể - Rd= Rn 5 - Tương đối bền hiện hướng nghiêng - 1 S R-1. nhưng hơi cứng của đường chéo, +1 - Thường ký hiệu bằng đường dệt chéo phân số, tử số là số nghiêng về bên phải sợi theo mỗi hướng và ngược lại.
trong rappo, mẫu số - Ký hiệu kiểu dệt là bước chuyển dọc. bằng phân số, trong - Hai mặt vải khác đó tử số chỉ số điểm nhau rõ rệt, mặt phải nổi dọc, mẫu số chỉ trơn bóng, chất lượng số điểm nổi ngang. cao; mặt trái không Tổng của tử và mẫu bóng. số bằng số sợi theo - Liên kết giữa các sợi mỗi hướng trong là yếu nhất, nhưng vải rappo.
Ví dụ, ta có mềm mại, có độ bền vân chéo khá. - Vải mềm nhưng kém Nguyễn Hoàng Thi Phụng Luận văn cao học 8 bền hơn vân điểm. Ứng dụng - Phổ biến với các - Dùng để dệt vải lót - Phổ biến để dệt lụa và mặt hàng vải phin, hoặc vải dày như vải bông calico, katé, toile de kaki, denim,… lin,… Mật độ sợi trong vải Mật độ sợi thể hiện sự bố trí sợi nhiều hay ít trên đơn vị dài của vải. Mật độ sợi trong vải có ảnh hưởng đến các tính chất bề mặt, tính chất sử dụng của vải.
Mật độ tuyệt đối: là số sợi có trên đơn vị dài của vải, quy ước lấy 100 mm, ký hiệu: Pd: mật độ sợi dọc, là số sợi dọc có trên 100 mm đo theo chiều ngang vải; Pn: mật độ sợi ngang, là số sợi ngang có trên 100 mm đo theo chiều dọc vải. Phần lớn mật độ sợi nằm trong khoảng 100 – 500. Đặc trƣng độ bền cơ học của vải [12] Đặc trưng độ bền cơ học của vải là đặc trưng cơ bản thể hiện sức đề kháng của vải khi chịu tác động ngoại lực lên vải theo các hướng hoặc theo hướng dọc của tấm vải, hoặc theo hướng ngang của tấm vải. Ngoài ra lực tác động còn có thể xảy ra trên một diện tích nhất định làm cho sợi dọc và sợi ngang cùng đồng thời chịu lực trực tiếp.
Tuỳ theo hướng tác động lực và cách tác dụng của lực lên vải, gồm độ bền kéo đứt băng vải theo chiều dọc hoặc theo chiều ngang của vải, độ bền xé, độ bền nổ, độ bền chọc thủng vải. Khi vải chịu tác động của lực, xảy ra sự biến dạng của vải, vải bị giãn cho đến khi bị đứt hoặc bị thủng trong các thí nghiệm phá huỷ vật liệu. Độ bền kéo đứt băng vải Mẫu vải để thử nghiệm độ bền kéo đứt thường có kích thước 200 x 50 mm. Hai đầu của miếng vải được lắp và được giữ chặt vào hai hàm kẹp trên và dưới.
Khi lực đặt lên băng vải, các sợi theo chiều lực tác dụng chịu kéo và giãn ra, đóng góp vào độ bền băng vải. Ngoài ra còn có lực ma sát giữa các sợi, lực nén ép của hai hệ Nguyễn Hoàng Thi Phụng Luận văn cao học 9 sợi cũng góp phần tạo ra độ bền băng vải. Độ bền kéo của sợi, mật độ sợi, kiểu dệt là những yếu tố chính ảnh hưởng độ bền kéo băng vải. Độ bền xé băng vải Thí nghiệm độ bền xé rách vải cho biết khả năng kháng lại lực xé vải.
Thực hiện đo độ bền xé rách vải trên cùng máy thí nghiệm độ bền băng vải. Mẫu vải thử nghiệm có kích thước hình chữ nhật. Để thí nghiệm xé, mẫu vải được cắt mồi một đoạn dài ở giữa mẫu thử theo chiều dọc mẫu. Hai đầu rẻo vải được kẹp vào hai hàm kẹp trên và dưới của máy kéo đứt.
Khi bắt đầu xé, hàm kẹp dưới hoặc hàm kẹp trên kéo rẻo vải và làm rách mẫu vải tại chỗ có đường cắt mồi. Ngoài thiết bị đo độ bền kéo đứt băng vải, để thực hiện thí nghiệm độ bền xé vải có thể sử dụng thiết bị con lắc Elmendorf. Mẫu vải được lắp vào hai kẹp trên di động lên trên khi thử với mức độ giãn không đổi. Hàm kẹp dưới cố định.
Kích thước mẫu, tốc độ kẹp, tải trọng sức căng ban đầu lên mẫu được quy định trong các phương pháp thử tiêu chuẩn trong nước cũng như quốc tế. Trên cùng máy kéo đứt băng vải có thể thử một dạng mẫu khác bằng cách sử dụng bộ gá mẫu khác. Phương pháp này gọi là phương pháp thử Grab. Kẹp trên giữ một phần mẫu và xé rách vải theo hướng lên trên.
Kẹp dưới giữ chặt phần dưới của mẫu. Thực chất lực xé rách vải là lực tiếp tục làm rách miếng vải đã cắt một đoạn mồi sẵn mà không phải lực xé rách ngay từ đầu. Hình mô phỏng máy kéo đứt băng vải Nguyễn Hoàng Thi Phụng Luận văn cao học 10 2. Giới thiệu chung về vải lụa tơ tằm Vải lụa tơ tằm là một trong những loại vải dệt thoi có thành phần nguyên liệu là xơ, sợi thiên nhiên có nguồn gốc từ động vật.
Cùng với kiểu dệt đa dạng và quy trình sản xuất cầu kỳ, phức tạp để cho ra đời các tấm vải lụa óng ánh, kiêu sa cho nên lụa tơ tằm được xem là “nữ hoàng” trong các loại vải sợi. Khái quát về tơ tằm [14] Nghề nuôi tằm có từ rất sớm và tồn tại cách đây 5000 năm tại các quốc gia châu Á, trong đó Trung Quốc là nước đầu tiên phát triển nghề nuôi tằm, dệt lụa. Đầu tiên loại vải xa xỉ này chỉ dành cho giới thượng lưu, quý tộc của Trung Quốc và nghề nuôi tằm dệt lụa được giữ bí mật trong suốt gần 1000 năm. Sau đó mới được tiết lộ và truyền sang các quốc gia lân cận bằng con đường tơ lụa.