MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số thế giới, tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh. Lúa gạo có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội. Theo dự báo của FAO - Food and Agricuture Organization, thế giới đang nguy cơ thiếu hụt lương thực do dân số tăng nhanh (khoảng bảy tỷ người năm 2010), sức mua lương thực, thực phẩm tại nhiều nước tăng, biến đổi khí hậu toàn cầu gây hiểm họa khô hạn, bão lụt, quá trình đô thị hoá làm giảm đất lúa, nhiều nước phải dành đất, nước để trồng cây nhiên liệu sinh học vì sự khan hiếm nguồn nhiên liệu rất cần thiết cho nhu cầu đời sống và công nghiệp phát triển.
Chính vì vậy, an ninh lương thực là vấn đề cấp thiết hàng đầu của thế giới ở hiện tại và trong tương lai. Việt Nam là một quốc gia sử dụng lúa gạo làm lương thực chính, và là nước xuất khẩu lúa gạo đứng thứ hai trên thế giới. Việc nghiên cứu và phát triển cây lúa là rất cấp thiết. về mặt lý thuyết ,lúa có khả năng cho sản lượng cao hơn nếu hệ thống canh tác như tưới tiêu,chất lượng đất,biện pháp thâm canh và giống được cải thiện.chính vì vậy,ngày nay các nhà nghiên cứu luôn tìm hiểu và nghiêm cứu để tìm ra những biện pháp canh tác tốt nhất phù hợp với từng giống lúa nhằm tăng khả năng sinh trưởng cũng như năng suất của cây lúa.cùng với công tác chọn tạo giống,kỹ thuật thâm canh cây lúa đã góp phần tăng năng suất,sản lượng lúa của Việt Nam.Trong kỹ thuật thâm canh việc xác định mật độ hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng,mật độ có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hình thành số bông,quyết định trực tiếp tới năng suất.Chính vì vậy việc nghiên cứu về mật độ thích hợp đối với cây trồng có vai trò rất quan trọng trong sản xuất nông nghiệp.
Xuất phát từ những thực tế đó và được sự đồng ý của Khoa Nông Học trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự hướng dẫn của thầy TS.Phạm Văn Ngọc và cô Đỗ Thị Ngọc Oanh,chúng tôi tiến hành thực hiện đề 2 tài: “nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và phát triền của giống lúa QP-05 trong vụ đông xuân nắm 2015 tại Thái Nguyên” 1. Mục tiêu đề tài và yêu cầu của đề tài 1.1 Mục tiêu đề tài - Xác định mật độ thích hợp cho giống lúa QP-05 tại Thái Nguyên 1.2 Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống lúa QP-05: số lá,đẻ nhánh và thời gian sinh trưởng. - Tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu sinh lý của giống lúa QP-05 - Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa QP-05 ở các mật độ khác nhau. - Phân tích và đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất,năng suất của giống lúa QP-05.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 2. Sản xuất lúa gạo trên thế giới Theo Tổ chức Lương nông Quốc tế FAO sản lượng lúa thế giới năm 2012 đạt 719,7 triệu tấn (tương đương 480 triệu tấn gạo) so với 672 triệu tấn năm 2010, tăng 3%. Sản lượng tăng cao do mở rộng diện tích canh tác lên đến 164 triệu ha, chủ yếu diễn ra ở các nước châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia là 3 nước chiếm 2/3 sản lượng gạo thế giới trên thị trường.
Nguyên nhân do giá lúa tăng vọt đã khiến nông dân mạnh dạng đầu tư vượt qua trở ngại bất lợi thời tiết ở nhiều nơi và giá cả đầu vào tăng vọt.diện tích,năng suất và sản lượng lúa của thế giới được thể hiện qua bảng 2.1: Diện tích, năng suất và sản lƣợng lúa toàn thế giới giai đoạn từ năm 2001 – 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu/ha) (tạ/ha) (triệu/tấn) 2001 151,9 39,5 599,8 2002 147,6 38,7 571,4 2003 148,5 39,5 587,1 2004 150,6 40,4 608,0 2005 154,9 40,9 634,4 2006 155,3 41,3 641,2 2007 155,0 42,4 657,2 2008 157,7 43,7 689,0 2009 158,4 43,2 684,8 2010 153,7 43,7 672,0 2011 163,6 44,3 734.1 ta cũng thấy rằng: diện tích, năng suất và sản lượng lúa qua các năm có xu hướng tăng lên. Tuy nhiên, diện tích năm 2010 so với năm 2009 đã giảm đi 4,7 triệu ha nhưng năng suất tăng thêm 0,5 tạ/ha. Nguyên nhân của việc này do năm 2010 chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, nhiều thiên tai xảy ra liên tiếp (lũ lụt, hạn hán, rầy nâu, khô vằn…) làm cho diện tích bị thu hẹp đáng kể. Xong đến năm 2012 diện tích tăng 9,6 triệu ha, năng suất tăng 0,4 tạ/ha.Với việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, diện tích trồng lúa lai được mở rộng làm cho năng suất lúa ngày một nâng cao.
Tại châu Á sản lượng lúa đạt 653 triệu tấn, tăng 10% so với năm 2011 do trúng mùa diển ra ở Pakistan, Campuchia, Nepal, Philippines và Việt Nam hoặc mở rộng diện tích canh tác ở Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam. Nhưng cũng có nước mất mùa như Indonesia, Hàn Quốc, Miến Điện, Sri Lanka và Thái Lan. Trong những nước trồng lúa có sản lượng lớn nhất thế giới có tới 9 nước nằm ở khu vực châu Á, chỉ có Australia nằm ở châu Úc, Brazil nằm ở châu Mỹ. Riêng Australia và Trung Quốc là 2 nước có năng suất lúa cao hơn hẳn các nước còn lại 89,1 tạ/ha (Australia) và 67,4 tạ/ha (Trung Quốc).
Điều này có thể lý giải như sau: Trung Quốc là nước đi đầu trong lĩnh vực lúa lai, trình độ thâm canh cao. Thái Lan và Việt Nam là 2 nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, năm 2013 là 6,68 triệu tấn (Thái Lan) và 6,61 triệu tấn (Việt Nam), nhưng về cơ bản năng suất lúa còn thấp. Năng suất lúa của Thái Lan đạt 30 tạ/ha năm 2012. Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng từ trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng 1 vụ/năm), hạt gạo dài, trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất… Chính vì lý do đó ta thấy rằng giá gạo Thái Lan luôn cao hơn giá gạo Việt Nam.
Năng suất lúa ở Việt Nam là 56,3 tạ/ha (2012).Tất cả được thể hiện rõ qua bảng 2.2: Diện tích, năng suất và sản lƣợng của các nƣớc có sản lƣợng lúa đứng đầu thế giới năm 2012 Diện tích Năng suất Sản lượng Nước (triệu/ha) (tạ/ha) (triệu/tấn) Trung Quốc 103,1 89,1 918,7 Australia 30,3 67,4 204,3 Ấn Độ 42,5 35,9 152,6 Indonesia 13,4 51,4 69,0 Banglasech 11,6 29,3 33,9 Viet Nam 7,8 56,3 43,7 Mianma 8,2 40,5 33 Thai Lan 12,6 30 37,8 Philipin 4,7 38,4 18 Barazil 2,4 47,8 11,5 Nhat Bản 1,6 67,3 10,7 (Nguồn: FAOSTAT năm 2013) Theo dự báo của Ban nghiên cứu kinh tế - Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, trong giai đoạn 2007 – 2017, các nước sản xuất gạo ở châu Á sẽ tiếp tục là nguồn xuất khẩu gạo chính của thế giới bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ. Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng 50% tổng sản lượng gạo xuất khẩu của thế giới. Trong “Báo cáo chiến lược về an ninh lương thực Quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn 2030” Bộ Nông nghiệp và PTNT năm 2008 đã dự báo tình hình sản xuất và tiêu thụ gạo trên thế giới đến năm 2020 như sau: - Trong 10 năm tới, sản xuất lúa gạo trên thế giới tăng chậm do hạn chế việc mở rộng diện tích gieo cấy, một số nước có diện tích trồng lúa lớn có xu hướng giảm và năng suất lúa kém ổn định khi phải chịu ảnh hưởng của thiên tai dịch bệnh. 6 - Tiêu dùng gạo trên thế giới tiếp tục tăng do tăng dân số, đặc biệt ở châu Á, châu Phi là hai khu vực sử dụng nhiều lúa gạo.
Khu vực Tây bán cầu và Trung Đông tăng mức tiêu thụ gạo trên đầu người. - Nhiều quốc gia xuất khẩu gạo lớn giảm lượng gạo xuất khẩu, trong khi nhu cầu nhập khẩu gạo tăng, nguồn cung thị trường gạo sẽ thiếu hụt so với cầu, giá gạo trên thị trường thế giới giữ ở mức cao. Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới đang có xu hướng tăng lên nhưng cùng với đó là tốc độ gia tăng dân số hiện nay thì để đảm bảo an ninh lương thực thì cần phải nâng cao hơn nữa cả về năng suất và sản lượng lúa gạo. Tình hình sản xuất lúa gạo trong nước Việt Nam Cây lúa nước giữ vai trò chủ đạo trong việc cung cấp lương thực cho con người ở nhiều nước trên thế giới nói chung và ở nước ta lúa còn là một nông sản xuất khẩu mang lại giá trị cao cho nông nghiệp.
Phương hướng sản xuất lúa của Việt Nam là tập trung khai thác, đầu tư thâm canh cho những vùng có điều kiện thuận lợi để cây lúa có thể phát huy tối đa tiềm năng của giống. Là nước có truyền thống sản xuất nông nghiệp gắn bó với cây lúa từ xa xưa.Với điều kiện tự nhiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, những đồng bằng châu thổ phì nhiêu, Việt Nam đã trở thành cái nôi sản xuất lúa gạo hàng đầu trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam là một nước nông nghiệp, có tới 75% dân số sản xuất nôngnghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người. Lúa gạo không chỉ giữ vai trò trong việc cung cấp lương thực nuôi sống mọi người mà còn là mặt hàng xuất khẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác, do có điều kiện tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng ở khắp mọi miềncủa đất nước. Theo Nguyễn Văn Hoan (2004),các vùng trồng lúa nước ta được phân chia theo đặc điểm khí hậu và đất đai. Khí hậu, đất đai là hai yếu tố chính chi phối các vụ lúa, trà lúa và hình thành nên các vùng trồng lúa của nước ta. 7 Theo cách phân chia này nước ta có 8 vùng lúa phân bố theo 3 miền sinh thái nông nghiệp như sau: + Miền sinh thái nông nghiệp Bắc Bộ có 3 vùng lúa:Vùng Đông Bắc,Vùng Tây Bắc và Vùng Đồng bằng Bắc Bộ (Đồng bằng Sông Hồng).
+ Miền sinh thái nông nghiệp Đông Trường Sơn có hai vùng:Vùng Bắc Trung Bộ và Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ.