Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lúa (Oryza sativa L.) là cây lương thực chủ lực của hơn một nửa dân số trên toàn cầu, đặc biệt tại khu vực châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, giữ vai trò cốt lõi đối với an ninh lương thực và ổn định xã hội. Theo các dự báo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), nhân loại đối mặt với nguy cơ thiếu hụt lương thực trước sự gia tăng dân số nhanh chóng, biến đổi khí hậu toàn cầu, các hình thái thiên tai hạn hán, lũ lụt và quá trình đô thị hóa thu hẹp diện tích đất canh tác. Tại Việt Nam, lúa gạo là nguồn lương thực chính và là mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng. Tuy nhiên, trước áp lực quy mô dân số gia tăng (đạt xấp xỉ gần 90 triệu người vào cuối năm 2013) cùng sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp, việc nâng cao năng suất trên một đơn vị diện tích thông qua các biện pháp thâm canh trở thành yêu cầu cấp thiết.

Về phương diện kỹ thuật thâm canh, mật độ cấy là yếu tố có ý nghĩa quyết định, tác động trực tiếp đến cấu trúc quần thể ruộng lúa, khả năng tiếp nhận ánh sáng, động thái đẻ nhánh và quá trình hình thành số bông trên một đơn vị diện tích. Giống lúa QP-05 khi đưa vào canh tác tại địa phương cần được xác định dải mật độ thích hợp nhằm phát huy tối đa tiềm năng sinh trưởng và năng suất. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài được triển khai thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

  • Xác định mật độ thích hợp cho giống lúa QP-05 tại Thái Nguyên.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):

  1. Đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu sinh trưởng của giống lúa QP-05: số lá, đẻ nhánh và thời gian sinh trưởng.
  2. Tìm hiểu ảnh hưởng của mật độ đến các chỉ tiêu sinh lý của giống lúa QP-05.
  3. Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa QP-05 ở các mật độ khác nhau.
  4. Phân tích và đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của giống lúa QP-05.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Giống lúa thuần QP-05.
  • Phạm vi không gian: Khu đất canh tác lúa tại xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (chân đất vàng trung bình, chủ động tưới tiêu).
  • Phạm vi thời gian: Vụ Xuân năm 2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của nghiên cứu dựa trên quy luật sinh trưởng, phát dục của cây lúa và các học thuyết nông học kinh điển. Về sinh lý đẻ nhánh, đề tài vận dụng thuyết của Katayama: cây lúa khi đạt 4 lá thật bắt đầu có khả năng đẻ nhánh và quy luật xuất hiện lá tương ứng với khả năng phân cành nhánh từ các mắt đẻ. Về cấu trúc quần thể, nghiên cứu kế thừa các quan điểm của Bùi Huy Đáp (1980), Togari Matsuo (1977), Nguyễn Văn Hoan (2003, 2004) về mối quan hệ giữa mật độ khóm, số dảnh cấy và khả năng điều tiết nhánh hữu hiệu. Hệ thống đánh giá tuân thủ Thang điểm đánh giá tiêu chuẩn của Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI, 1996) và Quy phạm khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng giống lúa 10 TCN 558–2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Phương pháp bố trí thí nghiệm:

  • Thí nghiệm đồng ruộng được thiết kế theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn (Randomized Complete Block Design - RCBD) với 4 công thức mật độ, lặp lại 3 lần (NL1, NL2, NL3), tương ứng 12 ô thí nghiệm. Diện tích mỗi ô là 10 m², tổng diện tích thí nghiệm đạt 120 m² (tính cả dải lúa bảo vệ là 180 m²).
  • Các công thức mật độ cấy (đều cấy 2 dảnh/khóm):
    • Công thức 1 (CT1): Mật độ 25 khóm/m² (khoảng cách 20 x 20 cm).
    • Công thức 2 (CT2): Mật độ 30 khóm/m² (khoảng cách 20 x 16 cm).
    • Công thức 3 (CT3): Mật độ 35 khóm/m² (khoảng cách 20 x 14 cm).
    • Công thức 4 (CT4): Mật độ 40 khóm/m² (khoảng cách 15 x 16 cm).

Quy trình kỹ thuật và nguồn dữ liệu thực nghiệm:

  • Kỹ thuật làm mạ: Gieo mạ khay nhựa (30 x 20 x 30 cm) với lớp đất dày 2,5 cm, che phủ vòm nilon trắng chống rét. Sau 16 ngày gieo, mạ đạt 2,5 – 3,5 lá thật thì đem cấy.
  • Nền phân bón quy đổi cho 1 ha: 8 tấn phân chuồng + 100 kg N + 90 kg P₂O₅ + 100 kg K₂O. Bón lót toàn bộ phân chuồng, 100% lân và 30% đạm. Bón thúc đợt 1 (lúa bén rễ hồi xanh): 40% đạm + 50% kali. Bón thúc đợt 2 (dưỡng đòng): 30% đạm + 50% kali.
  • Bảo vệ thực vật: Hoàn toàn không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhằm kiểm tra chính xác khả năng tự chống chịu sâu bệnh hại của giống.
  • Phương pháp lấy mẫu: Thu thập mẫu ngẫu nhiên tại 5 điểm theo 2 đường chéo góc trên từng ô (loại trừ hàng biên). Dữ liệu được đo đếm theo các giai đoạn sinh trưởng.
  • Xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tính toán bằng Microsoft Excel và phân tích phương sai, phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm Duncan ở mức ý nghĩa 95% qua phần mềm thống kê chuyên ngành IRRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh an ninh lương thực toàn cầu và chiến lược phát triển nông nghiệp của Việt Nam. Tác giả luận giải tầm quan trọng của việc hoàn thiện gói kỹ thuật thâm canh, trong đó mật độ cấy là mắt xích trực tiếp quy định cấu trúc số bông và khả năng tận dụng không gian dinh dưỡng. Trên cơ sở đó, văn bản xác định cụ thể 1 mục tiêu chung và 4 nhiệm vụ nghiên cứu định lượng đối với giống lúa thuần QP-05 tại thành phố Thái Nguyên trong vụ Xuân 2015.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện bức tranh sản xuất lúa gạo và các nghiên cứu chuyên sâu về mật độ:

  • Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới: Dẫn xuất số liệu FAO cho thấy năm 2012 sản lượng lúa toàn cầu đạt 719,7 triệu tấn, diện tích đạt 164 triệu ha, năng suất trung bình 44,3 tạ/ha. Thống kê sản lượng lúa các quốc gia hàng đầu năm 2012 chỉ ra Trung Quốc đạt năng suất 89,1 tạ/ha (sản lượng 918,7 triệu tấn trên 103,1 triệu ha diện tích canh tác), Australia đạt 67,4 tạ/ha, Nhật Bản đạt 67,3 tạ/ha, Việt Nam đạt 56,3 tạ/ha (sản lượng 43,7 triệu tấn trên 7,8 triệu ha) và Thái Lan đạt 30,0 tạ/ha.
  • Sản xuất lúa gạo tại Việt Nam: Phân tích sự phân bố của 8 vùng lúa thuộc 3 miền sinh thái nông nghiệp theo Nguyễn Văn Hoan (2004), định hướng chiến lược duy trì sản lượng 40 triệu tấn/năm, dành 1 triệu ha đất chuyên lúa xuất khẩu và mục tiêu mức tiêu thụ lương thực bình quân trên 450 kg/người/năm.
  • Đặc tính sinh học và các yếu tố ảnh hưởng: Mô tả giải phẫu bộ rễ chùm, cấu tạo thân lúa gồm 3 – 8 lóng dài có xoang lỏi, vai trò của bộ lá công năng (lá đòng đóng góp tới 75% sản lượng quang hợp tích lũy chất khô cho bông) và các quy luật phân hóa nhánh cấp 1, cấp 2, cấp 3.
  • Các công trình nghiên cứu về mật độ: Dẫn chứng các nghiên cứu tại trạm Hokkaido (Nhật Bản), nghiên cứu trên tổ hợp lai hai dòng PA64S/9311 của Yuan Qianhua và cộng sự (Trung Quốc, 2002), cùng các nguyên lý bố trí mật độ từ 27 đến 55 khóm/m² của Bùi Huy Đáp (1980), Nguyễn Văn Hoan (2003), Nguyễn Hữu Tề (1997, 2004) và Trương Đích (2002).

Phần 3: Đối tượng, vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chuẩn hóa điều kiện thực nghiệm:

  • Chi tiết vật liệu giống QP-05, hệ thống phân bón hữu cơ và vô cơ đơn (đạm, lân, kali).
  • Bản đồ mặt bằng thực địa 12 ô thí nghiệm theo sơ đồ RCBD, chi tiết hóa khoảng cách cấy của 4 công thức mật độ.
  • Kỹ thuật che phủ nilon dạng vòm cống (dài 1,7 – 2,0 m, nilon trắng khổ 1,2 – 1,4 m) giữ ấm cho mạ khay, giữ nước ngập 2/3 dõng luống mạ.
  • Chế độ tưới tiêu duy trì mức nước 3 – 5 cm từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh và không quá 10 cm ở các giai đoạn sau; chế độ làm cỏ sục bùn và tuyệt đối không phun thuốc hóa học trừ sâu bệnh.
  • Quy chuẩn hóa hệ thống 9 giai đoạn sinh trưởng phát dục và các công thức toán học tính Hệ số kinh tế (HI), Năng suất lý thuyết (NSLT = Số bông/m² x Số hạt chắc/bông x P₁₀₀₀ hạt x 10⁻⁵) và Năng suất thực thu (NSTT) quy đổi theo độ ẩm tiêu chuẩn.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương thực nghiệm cung cấp hệ thống số liệu kiểm định qua các chỉ tiêu nông học:

  • Đặc điểm nông học: Chiều cao cây của giống dao động từ 101,8 cm (CT4) đến 102,5 cm (CT3), đều thuộc nhóm chiều cao trung bình (điểm 5). Chiều dài bông biến động từ 22,3 cm (CT2) đến 23,4 cm (CT3). Độ thoát cổ bông ở cả 4 công thức đều ghi nhận ở điểm 7 (thoát một phần).
  • Thời gian sinh trưởng: Mạ gieo đến cấy mất 16 ngày; thời gian bén rễ hồi xanh là 3 ngày; thời kỳ đẻ nhánh kéo dài 30 – 33 ngày; làm đốt, làm đòng từ 26 – 27 ngày; trỗ bông tập trung trong 4 – 5 ngày; giai đoạn chín kéo dài 29 – 30 ngày. Tổng thời gian sinh trưởng biến động nhẹ giữa các mức mật độ: CT2 và CT3 đạt 119 ngày, CT1 đạt 120 ngày, CT4 dài nhất với 122 ngày.
  • Động thái ra lá: Từ ngày 12/2 đến 28/3, số lá trên thân chính tăng từ 2,1 lá lên 14,3 lá (CT1) và 14,4 lá (CT2, CT3, CT4). Giai đoạn đầu nhịp độ ra lá đạt 1,2 – 1,5 lá/3 ngày; giai đoạn sau chậm dần, đạt 1 – 1,5 lá/7 ngày. Mật độ cấy không tạo ra sai khác về tổng số lá.
  • Khả năng đẻ nhánh: Số nhánh tối đa dao động từ 10,9 đến 11,1 nhánh/khóm; số nhánh hữu hiệu đạt từ 5,4 đến 5,7 nhánh/khóm. Tỷ lệ nhánh hữu hiệu đạt cao nhất ở CT1 (51,8%), tiếp đến là CT2 (51,3%), CT3 (50,0%) và thấp nhất ở CT4 (49,5%). Xử lý thống kê Duncan ở mức tin cậy 95% cho thấy số dảnh tối đa và số dảnh hữu hiệu giữa 4 công thức đều thuộc cùng nhóm a (sai khác không có ý nghĩa).
  • Mức độ sâu bệnh hại: Do không xử lý thuốc bảo vệ thực vật, ghi nhận sâu đục thân gây hại nhẹ ở cấp 1 (chỉ rải rác một vài bông bạc). Bệnh đạo ôn biểu hiện ở cấp 3 trên cả 4 công thức trong giai đoạn kết thúc đẻ nhánh do điều kiện thời tiết vụ Xuân rét lạnh, độ ẩm thấp kết hợp tình trạng thiếu nước tưới cục bộ.
  • Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Số bông/m² tăng tỷ lệ thuận với mật độ cấy, lần lượt là 142,5 bông (CT1), 171,0 bông (CT2), 192,0 bông (CT3) và 216,0 bông (CT4), sai khác có ý nghĩa thống kê ở p = 0,05. Số hạt chắc/bông dao động từ 158,8 đến 168,4 hạt (sai khác không có ý nghĩa thống kê). Năng suất thực thu đạt cao nhất ở CT4 với 58 tạ/ha (nhóm a), trong khi các công thức còn lại đạt từ 55 đến 57 tạ/ha.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết 4 phát hiện thực nghiệm về thời gian sinh trưởng (kéo dài nhất ở mật độ 40 khóm/m² với 122 ngày), số lá và số nhánh (không bị ảnh hưởng bởi mật độ), tính chống chịu sâu bệnh hại (biểu hiện tương đương ở mức nhẹ) và khẳng định mật độ 40 khóm/m² cho năng suất thực thu tối ưu (58 tạ/ha). Tác giả đề nghị tiếp tục khảo nghiệm thêm để hoàn thiện quy trình canh tác.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và phân tích định lượng đầy đủ các chỉ số năng suất của giống lúa QP-05 vụ Xuân 2015 qua bảng tổng hợp sau:

Công thức thí nghiệm Mật độ cấy (khóm/m²) Số bông/m² (bông) Số hạt chắc/bông (hạt) Số bông/khóm (bông) Năng suất lý thuyết (tạ/ha) Năng suất thực thu (tạ/ha)
CT 1 25 142,5 d 158,8 a 5,7 a 61 a 56 ab
CT 2 30 171,0 c 159,7 a 5,7 a 61 a 57 ab
CT 3 35 192,0 b 162,4 a 5,4 a 64 a 55 b
CT 4 40 216,0 a 162,6 a 5,4 a 61 a 58 a

Ghi chú: Các chữ cái a, b, c, d biểu thị mức độ sai khác có ý nghĩa thống kê qua trắc nghiệm Duncan ở độ tin cậy 95%.

Về các yếu tố hình thành bông, số gié cấp 1 tăng dần từ 10,26 gié (CT1) lên 11,80 gié (CT4). Số gié cấp 2 đạt từ 27,26 đến 28,70 gié. Tổng số hạt trên bông biến động từ 177,8 hạt (CT1) đến 188,2 hạt (CT3). Năng suất lý thuyết giữa các công thức biến động trong khoảng 58 – 64 tạ/ha và không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê giữa các công thức.

Đối với biện pháp kỹ thuật canh tác, tác giả khuyến nghị:

  • Nhằm hạn chế nhánh vô hiệu và tối ưu hóa nhánh hữu hiệu, cần bón thúc đạm sớm và bón tập trung khi lúa đạt 3 – 4 lá thật (sau cấy 10 – 15 ngày), với liều lượng urê từ 3 – 4 kg/sào.
  • Phải kết hợp bón phân cân đối với việc giữ mực nước nông (3 – 5 cm) trong ruộng trong giai đoạn đẻ nhánh để thúc đẩy lúa đẻ sớm và tập trung.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc xác lập cơ sở thực nghiệm khẳng định giống lúa thuần QP-05 trong vụ Xuân tại Thái Nguyên có tính phản ứng rõ nét đối với mật độ cấy ở chỉ tiêu số bông/m². Mặc dù cấy thưa (25 khóm/m²) nâng tỷ lệ nhánh hữu hiệu lên 51,8%, nhưng mật độ 40 khóm/m² mới là ngưỡng đảm bảo mật độ bông tối ưu (216 bông/m²), bù đắp cho sự suy giảm nhẹ của số bông/khóm để mang lại năng suất thực thu cao nhất (58 tạ/ha).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thí nghiệm mới được bố trí trong phạm vi một vụ sản xuất duy nhất (vụ Xuân 2015) và trên một địa bàn hẹp (xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên).
  • Điều kiện canh tác thực tế gặp khó khăn do nguồn nước tưới không được cung cấp thường xuyên, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn bùng phát ở cấp 3.
  • Bản thân người thực hiện tự nhận định còn hạn chế về mặt thời gian, kinh nghiệm và nguồn lực nghiên cứu thực địa.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Cần tiếp tục bố trí các thí nghiệm lặp lại qua nhiều vụ (vụ Mùa, vụ Chiêm Xuân) và trên các loại đất khác nhau nhằm kiểm chứng độ ổn định về năng suất của giống QP-05.
  • Cần mở rộng nghiên cứu tương tác đa yếu tố giữa mật độ cấy với các mức phân bón khác nhau (đặc biệt là nghiệm thức phân bón liều lượng thấp) để xác định gói quy trình thâm canh tiết kiệm chi phí cho từng vùng sinh thái.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học, Trồng trọt làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng đề cương và thực hiện đề tài thí nghiệm đồng ruộng.
  • Kỹ thuật viên nông nghiệp, cán bộ khuyến nông tại tỉnh Thái Nguyên và vùng trung du miền núi phía Bắc trong việc định hướng cơ cấu mật độ gieo cấy giống lúa QP-05 trong vụ Xuân.

Các nội dung có giá trị tham khảo cụ thể bao gồm:

  • Phương pháp bố trí khối ngẫu nhiên hoàn toàn (RCBD) trên diện tích ô tiêu chuẩn 10 m² và quy trình xử lý phương sai, phân hạng trung bình bằng trắc nghiệm Duncan trên phần mềm IRRISTAT 5.0.
  • Khung kỹ thuật làm mạ khay che phủ vòm nilon chống rét phục vụ sản xuất lúa vụ Xuân vùng cao.
  • Hệ thống tiêu chí và thang điểm theo dõi hình thái, sinh lý và mức độ gây hại của sâu bệnh theo tiêu chuẩn IRRI (1996) và Quy phạm 10 TCN 558–2011.

Câu hỏi thường gặp

Công thức mật độ nào mang lại năng suất thực thu cao nhất cho giống lúa QP-05?

Công thức 4 (CT4) với mật độ 40 khóm/m² (khoảng cách cấy 15 x 16 cm, cấy 2 dảnh/khóm) đạt năng suất thực thu cao nhất là 58 tạ/ha, được xếp vào nhóm phân hạng a qua trắc nghiệm Duncan ở độ tin cậy 95%. Năng suất cao ở công thức này bắt nguồn trực tiếp từ số bông/m² đạt giá trị lớn nhất trong thí nghiệm (216 bông/m²).

Mật độ cấy có làm thay đổi tổng thời gian sinh trưởng và động thái ra lá của giống QP-05 không?

Mật độ cấy hầu như không ảnh hưởng đến số lá và chỉ làm biến động nhẹ tổng thời gian sinh trưởng. Giống QP-05 hoàn thành từ 14,3 đến 14,4 lá trên thân chính ở cả 4 công thức mật độ. Tổng thời gian sinh trưởng của giống dao động từ 119 ngày (ở công thức CT2: 30 khóm/m² và CT3: 35 khóm/m²) đến 122 ngày (ở công thức CT4: 40 khóm/m²), trong đó công thức cấy dày có xu hướng kéo dài thời gian sinh trưởng hơn công thức cấy thưa khoảng 2 – 3 ngày.

Liều lượng và phương pháp bón phân được tác giả áp dụng trong thí nghiệm như thế nào?

Thí nghiệm áp dụng mức phân bón quy đổi cho 1 ha gồm 8 tấn phân chuồng kết hợp 100 kg N : 90 kg P₂O₅ : 100 kg K₂O. Lượng phân được chia làm ba đợt: bón lót toàn bộ 8 tấn phân chuồng, 100% phân lân và 30% lượng đạm trước khi cấy; bón thúc đợt 1 khi lúa bén rễ hồi xanh gồm 40% đạm và 50% kali; bón thúc đợt 2 vào giai đoạn dưỡng đòng gồm 30% đạm và 50% kali còn lại.

Mức độ gây hại của sâu bệnh trên các ô thí nghiệm biểu hiện ra sao khi không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật?

Do hoàn toàn không phun thuốc bảo vệ thực vật, sâu đục thân xuất hiện và gây hại ở mức nhẹ (cấp 1) trên tất cả các công thức với triệu chứng xuất hiện rải rác một vài dảnh héo hoặc bông bạc. Bệnh đạo ôn phát sinh ở cấp 3 trên cả 4 công thức vào giai đoạn kết thúc đẻ nhánh do gặp thời tiết vụ Xuân rét lạnh, độ ẩm thấp kết hợp tình trạng thiếu nước tưới thường xuyên. Các loài sâu bệnh hại khác không ghi nhận triệu chứng gây hại rõ rệt.

Vì sao tỷ lệ nhánh hữu hiệu ở mật độ cấy thưa cao hơn nhưng năng suất thực thu lại thấp hơn mật độ cấy dày?

Ở mật độ cấy thưa 25 khóm/m² (CT1), cây lúa có lợi thế lớn về không gian, ánh sáng và dinh dưỡng nên đẻ nhánh thuận lợi, đạt tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao nhất (51,8% so với 49,5% ở CT4). Tuy nhiên, do số khóm ban đầu quá ít, tổng số bông trên một đơn vị diện tích của CT1 chỉ đạt 142,5 bông/m², trong khi CT4 đạt tới 216 bông/m². Vì số bông/m² đóng góp tới 74% vào cấu trúc năng suất lúa, số lượng bông vượt trội ở mật độ 40 khóm/m² đã bù đắp cho sự suy giảm tỷ lệ nhánh hữu hiệu, giúp CT4 đạt năng suất thực thu cao nhất (58 tạ/ha so với 56 tạ/ha của CT1).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Dương Văn Thái đã cung cấp đầy đủ số liệu thực nghiệm đánh giá ảnh hưởng của 4 mức mật độ cấy đến giống lúa QP-05 trong vụ Xuân 2015 tại xã Phúc Trìu, thành phố Thái Nguyên. Kết quả khẳng định mật độ 40 khóm/m² (khoảng cách 15 x 16 cm, 2 dảnh/khóm) là mật độ tối ưu, cho năng suất thực thu cao nhất đạt 58 tạ/ha nhờ đạt 216 bông/m². Các chỉ tiêu về số lá, thời gian sinh trưởng, mức độ nhiễm sâu bệnh hại và năng suất lý thuyết ít biến động theo mật độ, qua đó làm rõ vai trò quyết định của số bông/m² trong cấu trúc năng suất giống lúa thuần này.