CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cấu tạo buồng trứng Buồng trứng bò gồm một đôi treo ở cạnh trước dây chằng rộng gần mút sừng tử cung nằm trong xoang bụng của gia súc cái. Nó có chức năng sản sinh, dự trữ các tế bào sinh dục cái (trứng) và tiết hormon sinh dục cái (estrogen và progesteron). Buồng trứng bò có hình bầu dục, hình ô van dẹt.Lúc mới sinh buồng trứng có khối lượng khoảng 0,3g, khi trưởng thành có khối lượng từ 10 - 20g.
Kích thước buồng trứng cũng thay đổi tùy thuộc vào cá thể, tuổi tác, trạng thái hoạt động, chế độ dinh dưỡng…Kích thước trung bình của buồng trứng theo 3 chiều dài x rộng x dày lần lượt là 35 x 25 x 15 mm (Bearden và cs., 2000) [9] Nang trứng sắp rụng Nang trứng nguyên Nang trứng rụng thủy Nang trứng Tế bào Đang phát triển trứng (Tertiary) Nang trứng thứ cấp Nang trứng thoái Thể huyết hóa Thể vàng Thể bạch Hình 1. Cấu tạo của buồng trứng (Nguồn: Bearden và Fuquay, 2000) [9] Buồng trứng được chia làm 2 miền: miền vỏ (ở bên ngoài) và miền tủy (ở bên trong). Miền vỏ có chức năng sinh lý sinh sản là sản sinh tế bào trứng, e 4 được cấu tạo từ nhiều lớp tế bào. Lớp ngoài cùng của miền vỏ là lớp biểu mô, gồm nhiếu tế bào có dạng lập phương.
Bên dưới lớp biểu mô là một lớp mỏng, gồm nhiều mô liên kết (còn gọi là lớp áo trắng buồng trứng). Phía dưới lớp áo trắng buồng trứng là lớp nhu mô. Lớp này chứa các nang trứng nên được gọi là lớp chức năng. Miền vỏ có các nang trứng phát triển ở các giai đoạn khác nhau, có thể có thể vàng, thể bạch…Miền tủy nằm ở phía trong miền vỏ, có chứa nhiều dây thần kinh, mạch máu và tổ chức liên kết, có nhiệm vụ nuôi dưỡng, bảo vệ các tế bào trứng nguyên thủy.
Chức năng của buồng trứng Buồng trứng bò là cơ quan sinh sản của gia súc cái, sản sinh ra tế bào trứng và các hormone sinh sản của gia súc cái (oestrogen và progestins). Khi buồng trứng có các nang trứng thành thục, các tế bào hạt trong biểu mô nang trứng tiết ra nhiều oestrogen, oestrogen tạo nên các đặc tính sinh dục thứ cấp của gia súc cái làm âm đạo tiết ra nhiều dịch nhầy, âm hộ xung huyết đỏ, sừng tử cung và ống dẫn trứng dinh dưỡng được tăng cường, tuyến vú phát triển, vỏ não hưng phấn con vật xuất hiện động dục. Đồng thời tiết ra hormone progesterone từ thể vàng đi vào máu sau khi rụng trứng, có tác dụng kích thích niêm mạc tử cung, tăng cường dinh dưỡng, màng nhầy phát triển để trứng được thụ tinh về nơi làm tổ, đồng thời còn tác dụng tới tế bào biểu mô màng nhầy tử cung tiết ra nhiều glycogen và các chất dinh dưỡng nuôi phôi, giúp phôi bám chặt vào thành tử cung và phát triển. Progesterone còn ức chế nang trứng chín trên buồng trứng, thông qua sự ức chế của FSH ức chế cơ trơn tử cung làm giảm co bóp, giảm hormone thùy sau tuyến yên làm cho tử cung yên tĩnh trong thời gian mang thai.
Ngoài ra, progesterone còn kích thích tuyến vú phát triển. Lớp ngoài cùng của miền vỏ buồng trứng là biểu mô bề mặt, ngay bên dưới biểu mổ bề mặt là một lớp mỏng, dày đặc các mô liên kết, phía e 5 dưới lớp mô dày đặc là nhu mô có chứa nang trứng và các tế bào phân tiết hormone buồng trứng. Chu kỳ của buồng trứng Chu kỳ của buồng trứng có quan hệ chặt chẽ và quyết định chu kỳ động dục của cơ thể gia súc. Chu kỳ của buồng trứng bò trung bình là 21 ngày (dao động từ 17 – 24).
Chu kỳ buồng trứng gồm 2 pha: pha nang trứng và pha thể vàng. Buồng trứng bắt đầu hoạt động theo chu kỳ khi gia súc thành thục về tính, ở bò là 10 – 24 tháng. Trong đó bò sữa với điều kiện nuôi tốt là 10 – 12 tháng, bò vàng địa phương là 10 – 20 tháng, ở bò Holstein là 11 tháng. Ở bò có 2 - 3 đợt sóng nang phát triển trong một chu kỳ tính.
Trong mỗi sóng có một nang trứng phát triển nhanh hơn các nang trứng khác và trở thành nang trội. Mặc dù nang trội của mỗi đợt sóng nang có khả năng phát triển đến rụng trứng, nhưng do bị progesterone của thể vàng ức chế nên không phát triển đến giai đoạn rụng trứng mà bị thoái hóa, chỉ có một nang trội của đợt sóng nang cuối cùng phát triển đến giai đoạn rụng trứng do thể vàng thoái hóa làm progesterone giảm xuống mức thấp. Độ dài pha thể vàng của chu kỳ động dục sử dụng progesterone ngoại sinh làm kéo dài chu kỳ động dục và tạo ra sự luân chuyển của nang trội. Nồng độ progesterone cao hơn ức chế sự liên tục của sóng LH (Luteinising Hormone), hormone hoàng thể hóa do tuyến yên tiết ra, có tác dụng kích thích rụng trứng và phát triển thể vàng ở con cái làm cho nang trội có thời gian sống ngắn hơn.
Progesterone ức chế sự ảnh hưởng lên sự phát triển của pha nang trội do vậy các mức độ progesterone của thể vàng bình thường thúc đẩy sự thoái hóa của các nang trội và tạo ra sóng nang mới (Adams và cs,1992) [6]. Tăng tính liên tục của nhịp LH kéo dài sự phát triển của nang trội và tạo ra các cơ chất để tổng hợp estradiol, tăng nồng độ estradiol trong máu từ nang e 6 trội. Nồng độ estradiol trong máu cao ức chế các sóng FSH và làm cho các nang trứng có kích thước từ 5mm hay lớn hơn không xuất hiện và hình thành các nang trội mới (Sirois và Fortune, 1990) [50]. Ở chu kỳ động dục thường có 2 đợt sóng nang, các nang trứng rụng phát triển ở trong trạng thái progesterone cao hơn so với chu kỳ động dục có 3 đợt sóng nang.
Tương tự ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang, sự phát triển của các nang trứng đến giai đoạn rụng trứng dài hơn chu kỳ động dục có 3 đợt sóng nang (11 ngày so với 7 ngày) và do vậy, nang trứng rụng ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang có kích thước to hơn (17mm so với 14mm) (Ginther và cs, 1989) [18]. Do thời gian phát triển của nang trứng ở chu kỳ động dục có 2 đợt sóng nang, dài hơn chu kỳ động dục có 3 đợt sóng nang, do vậy các nhà khoa học đã nghiên cứu và so sánh tỉ lệ có chửa và một số các tác giả cho rằng, ở chu kỳ có hai đợt sóng nang tỉ lệ có chửa thấp hơn (Townson và cs, 2002) [51]. Song, một số tác giả khác lại cho thấy không có sự khác nhau về tỉ lệ có chửa ở bò có hai đợt sóng nang trong chu kỳ động dục (Ahmad và cs, 1997) [7]. Sự hình thành nang trứng bò Sự hình thành nang trứng trải qua nhiều giai đoạn khác nhau.
Lúc đầu, vỏ buồng trứng có tế bào mầm, các tế bào này nguyên phân nhiều lần tạo ra liên bào mầm. Ở giai đoạn bào thai của gia súc cái, những nang trứng ở giai đoạn phát triển thấp xuất hiện từ sự phát triển của liên bào mầm, gọi là nang sơ cấp (nang bậc I). Ở bê, từ 111 – 130 ngày của giai đoạn phôi thai, số nang sơ cấp đạt số lượng lớn nhất. Nang sơ cấp gồm 1 tế bào sinh dục được bao quanh bởi 1 lớp tế bào hạt.
Nang sơ cấp nằm trong lớp nhu mô của vỏ buồng trứng. Các e 7 tế bào hạt của nang sơ cấp tăng sinh tạo thành 2 hay nhiều lớp tế bào hạt bọc quanh 1 tế bào trứng có khả năng phát triển để tạo thành nang thứ cấp (nang bậc II). Trong quá trình phát triển, các tế bào hạt của nang thứ cấp tiết ra dịch nang trứng, đẩy chúng tách khỏi tế bào trứng và tạo thành một xoang. Xoang này hình thành vào khoảng ngày 130 của thời kỳ phôi thai (Bearden va cs, 2000) [9].
Nang trứng lúc này là nang bậc III. Dịch nang trứng nhớt và chứa nhiều hormon. Nang bậc III phát triển thành thục chứa đầy dịch và nổi lên bề mặt lớp vỏ buồng trứng, được gọi là nang Graff. Nang Graff cấu tạo từ nhiều lớp tế bào bao quanh 1 tế bào trứng có khả năng phát triển: ngoài cùng là lớp tế bào sợi (tế bào vỏ bên ngoài), tiếp đến là lớp tế bào vỏ bên trong.
Có nhiều mạch máu ở giữa lớp tế bào vỏ bên ngoài và lớp tế bào vỏ bên trong. Hai lớp tế bào này có chức năng sản sinh và tiết hormon estrogen. Dưới lớp tế bào vỏ bên trong là lớp tế bào mềm, có chức năng ngăn cách, không cho các mạch máu di chuyển vào lớp tế bào bên trong. Bao quanh xoang nang là các tế bào hạt.
Những tế bào hạt tiếp xúc trực tiếp với tế bào trứng tạo thành vành phóng xạ. Tế bào hạt có vai trò chủ đạo trong việc tiết progesterone của thể vàng sau này. Phía trong cùng là một tế bào sinh dục cái (trứng). Trứng nằm trong khối tế bào cumulus với các tế bào hạt bao quanh.
Sự lớn lên của nang trứng chậm hơn so với tế bào trứng: nang trứng tăng hơn 50% kích thước thì tế bào trứng tăng trên 80% (Bearden và cs, 2000) [9]. Sự rụng trứng xảy ra sau khi nang trứng đã thành thục. Chức năng của nang trứng Nang trứng là một khối thống nhất chặt chẽ, có nhiều loại tế bào riêng biệt. Nang trứng bao gồm một số lớp tế bào xôma bao quanh, bên trong chứa đầy dịch, trong dịch có chứa tế bào trứng.
Dịch trong xoang của nang trứng được gọi là dịch nang trứng. Nang trứng cung cấp tiểu môi trường để tế bào e 8 trứng phát triển từ giai đoạn nguyên thủy đến giai đoạn tiền rụng trứng và chịu trách nhiệm sản suất ra các loại hormone. Lớp vỏ của nang trứng tiền rụng trứng bao gồm màng tế bào hạt, tế bào theca interna và tế bào theca externa. Các tế bào hạt là các tế bào có nguồn gốc từ các tế bào biểu mô, rất cần thiết cho quá trình phát triển và sự sống sót của tế bào trứng.
Các tế bào hạt không phải là các mô đồng nhất mà là các tập hợp con đặc biệt bao gồm vành phóng xạ, tế bào cumulus và các tế bào hạt của nang phát triển. Tế bào cumulus là tập hợp con của tế bào hạt bao bọc xung quanh tế bào trứng. Các tế bào cumulus có mối liên kết chặt chẽ với tế bào trứng và được biết đến như vành phóng xạ. Chúng liên kết chặt chẽ với các tế bào trứng qua khe liên kết của tế bào chất qua vòng trong suốt (zona pellucida).