MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Du lịch thế giới phát triển mạnh và trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước. Năm 2013 trên thế giới có trên 1 tỷ người đi du lịch. Du lịch đã thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống dân cư, trong xã hội và là một trong những ngành kinh tế phát triển nhất trên thế giới[24]. Ở nước ta, nhờ thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế, trong những năm gần đây, ngành du lịch Việt Nam đã khởi sắc và ngày càng có tác động tích cực đến đời sống kinh tế xã hội của đất nước.
Số doanh nghiệp du lịch tăng đặc biệt là hệ thống cơ sở lưu trú du lịch với sự góp mặt của nhiều thành phần kinh tế đã phát huy được hiệu quả tích cực góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực của du lịch mang lại, nó cũng ẩn chứa những ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường cũng như cuộc sống của người dân, đặc biệt là môi trường tại các khu bảo tồn, VQG trọng điểm. Sự nổ rộ của du lịch và các hoạt động khai thác lâm thổ sản của người dân, VQG đứng trước nguy cơ bị xâm hại, biến thành bãi rác do nhiều khách tự phát cây mở lối đi, hạ trại,xả rác…Báo cáo UBND huyện Sa Pa cho biết hiện nay diện tích rừng nguyên sinh trong VQG Hoàng Liên chỉ còn khoảng 30%, tốc độ suy thoái tăng nhanh, trong đó có nguyên nhân can thiệp khá sâu và không có kế hoạch của con người. Ngoài ra, cùng với các hoạt động sống của người dân như làm nương rẫy, chăn nuôi, trồng thảo quả dưới tán rừng …việc người dân vẫn tự ý đi vào rừng khai thác, bắt thú rừng…đã phản ánh phần nào sự yếu kém trong công tác quản lý VQG Hoàng Liên.
n 2 Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ cấp bách không chỉ của ngành du lịch mà của các cấp, các ngành, toàn xã hội, của các quốc gia để phát triển du lịch bền vững, nâng cao đời sống xã hội của từng địa phương, từng ngành và của từng người dân trong xã hội. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của du lịch và các hoạt động của người dân đến Môi trường sinh thái tại Vườn quốc gia Hoàng Liên – huyện SaPa – tỉnh Lào Cai trong giai đoạn 2008 - 2013”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.1 Mục tiêu chung Góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái của VQG Hoàng Liên 1. Mục tiêu cụ thể - Xác định ảnh hưởng của hoạt động du lịch và hoạt động sống của người dân tới nguồn tài nguyên thiên nhiên của VQG Hoàng Liên tại huyện Sa Pa đặc biệt tài nguyên đa dạng sinh học.
- Đề xuất những giải pháp quản lý nhằm hạn chế những tác động do hoạt động du lịch và tác động do người dân. Yêu cầu - Khái quát chung Vườn quốc gia Hoàng Liên. - Tìm hiểu thực trạng nguồn tài nguyên sinh học Vườn quốc gia Hoàng Liên tại Sa Pa. - Tìm hiểu ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến nguồn tài nguyên sinh học Vườn quốc gia Hoàng Liên.
- Tìm hiểu và đánh giá công tác quản lý tài nguyên sinh học Vườn quốc gia Hoàng Liên. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Ý nghĩa của Vườn quốc gia trong việc bảo tồn tài nguyên sinh học và bảo vệ môi trường 2.
Vườn quốc gia (National Park) Vườn quốc gia (VQG) là một khu vực đất hay biển được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. VQG thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái (HST) phong phú, có nhiều loài động - thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ. Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) thì VQG là: Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển được chọn để: - Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều HST cho các thế hệ hiện tại và tương lai. - Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc lựa chọn khu vực.
- Chuẩn bị cơ sở cho các giá trị tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và thăm quan, tất cả các giá trị đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường. Theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam , thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ- TTg ngày 11 tháng 1 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì VQG là một loại rừng đặc dụng, được xác định dựa trên các tiêu chí sau: n 4 - VQG là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều HST đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp. - VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và HST rừng, nghiên cứu khoa học (NCKH), giáo dục môi trường và du lịch sinh thái (DLST). - VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về HST đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn.
Các VQG thông thường nằm tại các khu vực chủ yếu là chưa phát triển, thường là những khu vực với động – thực vật bản địa quý hiếm và các HST đặc biệt, cụ thể như các loài đang trong tình trạng nguy cấp, sự đa dạng sinh học (ĐDSH), hay các đặc trưng địa chất đặc biệt. Đôi khi, các VQG cũng được thành lập tại các khu vực đã phát triển với mục tiêu làm cho khu vực đó trở lại gần giống như tình trạng ban đầu của nó. Vai trò của vườn quốc gia 2. VQG trong bảo tồn tài nguyên sinh học Tài nguyên sinh học (TNSH) bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật, sinh sống trong môi trường (MT) đất, MT không khí, và MT nước.
Đến nay, con người đã nhận biết và gọi tên được hơn 1,4 triệu loài sinh vật trên thế giới, chủ yếu là các loài côn trùng và thực vật , nhưng trong những khu rừng nhiệt đới hay trong lòng đại dương bao la vẫn còn nhiều loài sinh vật mà con người chưa từng biết về chúng. Tuy nhiên, sự đa dạng của các loài sinh vật trên thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy cần phải bảo tồn TNSH hay chính là bảo tồn sự đa dạng của TNSH trên thế giới nói chung hay ở từng quốc gia nói riêng. n 5 ĐDSH là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và HST trong tự nhiên.
ĐDSH có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái, đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vượng của loài người và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. ĐDSH mang lại những giá trị vô cùng to lớn, đó là những giá trị từ các sản phẩm sinh vật mà con người trực tiếp khai thác và sử dụng cho nhu cầu cuộc sống của mình, hơn nữa nó còn mang lại những lợi ích bao gồm cả số lượng và chất lượng nước, bảo vệ đất, tái tạo, giáo dục, NCKH, điều hòa khí hậu và cung cấp những phương tiện cho tương lai của xã hội loài người. Để ngăn chặn sự suy thoái ĐDSH do các tác động bất lợi của tự nhiên và của con người, thì việc thành lập hệ thống các khu bảo tồn (KBT) là bước đi rất quan trọng. Trong hoạt động bảo tồn ĐDSH thì VQG là một khái niệm phổ biến.
VQG thực hiện vai trò quản lý mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với các loài sinh vật, các hệ gen, các HST, mang lại lợi ích lớn nhất cho thế hệ hiện tại và vẫn duy trì tiềm năng của chúng để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của các thế hệ tương lai. VQG là KBT tự nhiên bao gồm các phong cảnh thiên nhiên độc đáo, các HST điển hình, rừng nguyên sinh, KBT các sinh vật quý hiếm, nơi cư trú của cho các loài động vật, thực vật… Với mục đích xây dựng là để bảo vệ và đảm bảo sự phát triển của thiên nhiên hoang dã, các HST tiêu biểu, động vật và thực vật quý hiếm, cảnh quan tự nhiên kỳ thú và các di tích lịch sử; tránh khỏi sự khai thác, can thiệp quá mức của con người gây ảnh hưởng xấu đến TNSH. Diện tích của các KBT chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trên trái đất, nhưng hiệu quả bảo tồn các loài của Thế giới lại rất lớn. Một ví dụ điển hình về vai trò của các KBT nhỏ đó là VQG Santa Rosa ở vùng Tây bắc Costa Rica.
Vườn này chỉ chiếm 0,2 diện tích của Costa Rica song nó đã chứa tới 55% số lượng các n 6 quần thể của 135 loài bướm đêm của nước này. Hay tại hầu hết các quốc gia nhiệt đới vùng châu Phi, đa số quần thể của loài chim bản địa nằm trong các KBT, ví dụ Zaia có trên 1000 loài chim, thì 89% số loài xuất hiện trong các KBT với diện tích chỉ chiếm 3,9% tổng diện tích đất đai của cả nước. Việc thành lập các VQG tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn duy trì hệ gene động vật, thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng cao; Cung cấp nguồn lực cho việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật (KHKT), công nghệ di truyền vào bảo tồn và phát triển các nguồn gene, các HST tiêu biểu. Ngoài việc liên tục theo dõi tình trạng ĐDSH của HST để có những ứng phó kịp thời, các VQG còn có vai trò là các KBT tại chỗ các vật liệu di truyền, đó là các giống cây trồng, vật nuôi hoang dại của bao đời người dân và là nguồn dược liệu.
Mặc dù khó để tính toán toàn bộ, nhưng các KBT rất quan trọng trong việc duy trì tài nguyên lương thực và cung cấp các vị thuốc quý.