chương 1, Tác giả trình bày tổng quan các nghiên cứu liên quan đến ảnh hưởng của đô thị hóa tới Di sản văn hóa thế giới trên cơ sở kế thừa và phát triển các kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây cả về phương diện lý thuyết và phương pháp tiếp cận, những ứng dụng thực tiễn của các nghiên cứu đi trước là rất quan trọng và cần thiết giúp Tác giả định hướng và lựa chọn được phương pháp nghiên cứu phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án. TONG QUAN TAI LIEU VE NGHIÊN CỨU ANH HUONG CUA ĐÔ THỊ HOA TOI BAO TON DI SAN VAN HOA 1. Các khái niệm co bản liên quan đến hướng nghiên cứu của luận án 1. Đô thị hóa Đô thị ra đời từ rất lâu, là một xu thế tất yếu, một quá trình phát triển của xã hội mang tính chất toàn cau, luôn luôn biến động và diễn ra ngày càng mạnh mẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới.
Khái niệm đô thị hóa trong các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học và chuyên môn trên thế giới rất đa dạng và khác nhau. Đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện khác nhau và các nhà nghiên cứu có thé quan sát, xem xét từ các góc độ khác nhau [1]. Về khái niệm, đô thị hóa được nhìn nhận theo nhiều cách khác nhau. Năm 1867, nhà quy hoạch đô thị Ildefonso Cerda Sufier trong nghiên cứu "lý luận chung về đô thị hóa" đã khang định đô thị hóa không chỉ là sự mở rộng ranh giới đô thi, gia tăng dân số mà còn là quy hoạch xây dựng đô thị, là một hiện tượng đa diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường [111].
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển về mặt lý luận, đô thị hóa là "một quá trình biến đổi các khu vực lãnh thổ trở thành đô thị" [3], và là một "quá trình diễn thế về kinh tế, xã hội, văn hóa, không gian gắn liền với những tiến bộ khoa học kỹ thuật" [10]. Khu vực lãnh thổ ban đầu có thê là đất nông-lâm nghiệp, đất trống đồi trọc hay khu dân cư nông thôn. Quá trình đô thị hóa gắn liền với quá trình mở rộng đô thị cả về mặt không gian và kích thước (dân số và diện tích) ban đầu của đô thị [146]. Việc gia tăng nhanh chóng của dân số đô thị (tự nhiên và cơ học) khiến cho việc mở rộng diện tích đô thị cũng gia tăng nhanh và tăng cả mật độ trong các khu vực đô thị [14].
Như vậy, có thể thay đô thị hóa được thé hiện trong rất nhiều khái niệm khác nhau. Tuy nhiên, dù ở góc độ nghiên cứu nào, các khái niệm này đều dé cập đến sự gia tang của dân số đô thị cũng như thé hiện vai trò của đô thị hóa đối với sự phát triển kinh tế-xã hội; đô thị hóa đồng nghĩa với việc mở rộng diện tích đất đô thị và luôn tác động đến các đối tượng lớp phủ/sử dụng đất (LCLU). Qua nghiên cứu diễn biên của quá trình đô thị hóa trên thê giới, các nhà nghiên cứu đã kết luận, quá trình đô thị hóa diễn ra theo hai xu hướng chính [8]: (i) Đô thị hóa tập trung: Là quá trình phát triển tập trung toàn bộ các ngành công nghiệp và dịch vụ công cộng vào các thành phố lớn và các vùng xung quanh, làm hình thành các đô thị khổng 16, tạo ra sự đối lập giữa thành thi với nông thôn, đồng thời gây ra sự mắt cân bằng môi trường sinh thái. Đô thị hóa tập trung góp phần làm gia tăng khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa đô thị và nông thôn ngày một xa hơn, tạo nên nhiều áp lực và gánh nặng cho các nhà quản lý trong việc giải quyết việc làm, nhà ở và các nhu cầu khác cho người dân nhập cư vào đô thị, không hoặc ít khai thác hết tiềm năng của địa bàn nông thôn.
Đô thị hóa tập trung phù hợp với các nước phát triển, nơi có đầy đủ các điều kiện đề hạn chế những mặt tôn tại và vận dụng được những ưu điêm của xu hướng này mang lại. (ii) Đô thị hóa phân tán: Là quá trình phát trién mạng lưới điểm dân cư đô thị có tầng bậc, phát triển cân đối công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ công cộng, đảm bảo cân bằng sinh thái, tạo điều kiện làm việc, sinh hoạt và nghỉ ngơi tốt cho dân cư ở đô thị và nông thôn. Đô thị hóa phân tán là xu hướng chủ đạo nhất trong quá trình đô thị hóa mà đa số các nước đang phát triển lựa chọn, vì thực chất của quá trình đô thị hóa là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xu hướng này giúp phát triển công nghiệp và dịch vụ công cộng đồng đều giữa các vùng, góp phan giải quyết việc làm cho lao động tại địa phương, hạn chế luồng di cư vào đô thị của các vùng lân cận. Di sản văn hóa - bảo ton và phát triển Trước hết, đi sản văn hoá (DSVH) được coi là một phần của "môi trường nhân tạo".
Đây là một thuật ngữ được chấp nhận rộng rãi khi đề cập tới bất kỳ "cấu trúc nhân tao" khi so sánh với "môi trường tự nhiên". Bên trong các môi trường nhân tạo đó tồn tại các giá trị lịch sử hoặc kiến trúc được coi là DSVH. Cộng đồng dân cư định cư tại đô thị hoặc nông thôn, các trung tâm lịch sử, kiến thức bản địa hay các công trình xây dựng,. được coi là môi trường xây dựng lên các giá tri của di sản.
Hay nói cách khác, đây là các di sản nhân tạo chứa đựng các giá trị văn hóa với điều kiện là chúng đáp ứng được các tiêu chí cụ thé trên phạm vi quốc gia hay quốc tế. Khi đó, những người sông trong môi trường nhân tạo nay cũng cần được coi là DSVH, là "thành phần sống" của các công trình văn hóa, chi phối các ảnh hưởng trên phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa hay hành vi của cộng đồng. Con người, môi trường nhân tạo và môi trường tự nhiên xung quanh là một tập hợp có mối liên hệ qua lại chặt chẽ của cảnh quan văn hóa. Bat kỳ sự thay đổi nào của con người bên trong hệ thong đó đêu sé làm biên đôi và đe dọa đên mục tiêu bảo tôn di sản [72].
Cũng theo Công ước liên quan đến việc bảo vệ Di sản văn hoá thế giới (1972), các nhóm di tích (groups of monuments), nhóm công trình xây dựng (groups of buildings) và các di chi (sites) là ba thành phần quan trọng của di sản văn hóa [143]. Di tích (monument) tồn tại như một tập hợp của "các tác phẩm kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc hoặc họa khắc vĩ đại, những thành té hay cấu trúc có tính khảo cổ, những bản khắc, những hang động và sự kết hợp các đặc tính, những Giá trị nổi bật toàn cầu xuất phát từ quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học". Định nghĩa này cho thay các giá trị văn hóa, đặc biệt trong bối cảnh Châu A, tồn tại "không thé tách rời" khỏi bối cảnh lịch sử và môi trường tự nhiên của di tích. Từ đây, giá trị của "sites" phản ánh được quan điểm thâm mỹ, dân tộc học hay nhân học của khu vực.
Do vậy, dé đánh giá những ảnh hưởng từ bên ngoài tới bảo tồn di sản văn hóa không chỉ đơn thuần là một đánh giá thé hiện sự kết hợp của hai phương diện từ tự nhiên và từ con người trong đó. Hướng nghiên cứu về ảnh hướng của đô thị hóa tới bảo tồn di sản văn hóa 1. Cơ sở thực tiễn về đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam a) Đô thị hóa ở các thành phố di sản trên thé giới Lịch sử phát triển đô thị của con người trải qua hai đợt hình thành lớn, đó là sự hình thành các đô thị cổ và sự hình thành đô thị hiện đại. Nhiều tài liệu cho rang, các đô thị đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện khoảng 5.000 năm trước đây ở Ai Cập, Luong Hà, An Độ, Hy Lạp,.
Những đô thị này phát triển trong vòng 1.000 năm rồi lui tàn, tiêu biểu là Babilon, Athen, Turin,. Những đô thị hình thành từ cuộc cách mạng công nghiệp ở Châu Âu, khi cuộc cách mạng công nghiệp mang đến nhiều khoa học tiến bộ trong kỹ thuật vào thé ky XVIII, tiêu biểu là Pari, Tokyo, Matxcova,. sau đó lan sang Châu Mỹ, Châu Á ở thế kỷ XX. Sự phát triển của quá trình đô thị hóa tại các thành phố di sản trên thế giới có liên quan chặt chẽ với đặc điểm hình thành cư dan đô thị và sự phát triển của các thành phó.
Nhịp độ gia tăng dân số đô thị phụ thuộc vào quá trình tái sản xuất dân cư của chính số dân đô thị và các dòng người nhập cư. Sự phát triển và mở rộng quy mô thành phố đặt ra nhiều van dé cần được nghiên cứu, chăng hạn như nên đưa vào ranh giới thành phố những lãnh thổ (các khu dân cư ven đô, làng mạc,.) và cải tạo các điểm dân cư nông thôn ra sao đề trở thành các điểm dân cư thành thị. Trên thực tẾ, sự phát triển của các thành phố di sản còn diễn ra do việc mở rộng các khu vực ngoại vi và các diém đô thị ngày càng bị thu hẹp vào quỹ dao của thành phô. Quá trình đô thị hóa phát triển với tốc độ nhanh ở các nước phát triển đặc biệt là các nước có các thành phố di san, đã day mạnh các quá trình hình thành các thành phố cực lớn (cụm đô thị, siêu đô thị).
Đến năm 2030, thế giới dự kiến sẽ có 43 siêu đô thị với hơn 10 triệu dân, hầu hết là ở các khu vực đang phát triển [140]. Tại các nước đang phát triển, quá trình đô thị hóa phát triển với đầy mâu thuẫn: Một mặt, đô thị hóa thúc day sự tiến bộ của đất nước, làm cho hàng triệu người có dip làm quen với cuộc sống năng động; Nhưng mặt khác, đô thị hóa lại làm gay gắt thêm nhiêu vân đê kinh tê - xã hội vôn đã nóng dưới áp lực của sự gia tăng dân sô. 10 b) Đô thị hóa tại các thành phố di sản ở Việt Nam Đô thị hóa là một quá trình tất yếu ở mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa tại mỗi nước cũng diễn ra theo xu hướng nhanh, chậm khác nhau bởi quá trình đô thị hóa phụ thuộc vào điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia đó.