Chương 1 TONG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về nam Đông trùng hạ thio LLL. Phân loại, hình thái của DTHT C. milieris Cordyceps militaris Giới (regnum) Fungi Phan giới (subregnum) — Dikarya Ngành (phylum) Ascomycota Phân ngành (subphylum) —Pezizomycotina Lớp (class) Sordariomycetes Phan lớp (subclass) Hypocreomycetidae Bộ (ordo) Hypocreales Ho (familia) Clavicipitaceae Chi (genus) Cordyceps Loài (species) Comilitaris Hinh 1.
Cordyceps militaris Vé hình thái, qualthé của nấm mau vàng cam, đầu nấm dạng chiy, được mọc ra trên bất cứ chỗ nào ký chủ. Nim Đông tring Hạ thảo khi còn sống, người ta có thể trông rõ hình con sâu, với đuôi là một cảnh nhỏ, mọc lá. Khi sấy khô nó ¢6 mùi tanh như cá, đốt lên có mai thơm. Sự phan bé của nắm Đông trùng hạ thảo ‘Cae loài nam nay phân bố rộng ở châu A và châu Úc với trung tâm da dang la vùng Đông A, đó là các cao nguyên cao hơn mặt biển từ 4.000 m như: Tây Tang, Tứ Xuyê ‘Thanh Hải, 1m Túc, Vân Nam, Theo các nhà khoa học thì chỉ nấm Cordyceps có tới 400 loài khác nhau, tính riêng ở Trung Quốc đã tìm thấy khoảng 60 loài Đông trùng hạ thảo.
Tuy nhiên cho đến nay người ta mới chỉ nghiên cứu được 2 loài nắm Cordyceps sinensis và Cordyceps militaris cô giá trị được liệu tốt với con người Tại Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài nắm Đông trùng. hạ thảo được công bố vào năm 1996 và 2001 có 03 loài nấm thuộc chỉ Cordyceps, đó là Cordyceps sinensis, Cordyceps militarisvà Cordyceps sabrolifera (Trinh Tam Kiệt, 2001) và 02 loài mới được được phát hiện mới cho khu hệ nấm Việt Nam đó là Cordyceps~ mutans và Cordyceps unnii (Phạm Quang Thu, 2009). Về thành phần hóa học và giá trị được liệu chưa được nghiền cứu nhiều, từ các nguồn tài liệu khác nhau, các nhà khoa học đã khẳng định nấm Đông trùng hạ thảo lả một dược liệu quý và hiểm. Tại vườn quốc gia Hoàng Liên thuộc Huyện Sa Pa Tính Lào Cai là nơi nắm Đông trùng hạ thảo phân bố.
Lược sử nghiên cứu. Đông trùng hạ thảo (THT) nghĩa là "sâu mùa đông” trở thành "cỏ mùa hè” được các thầy lang người Tạng ghỉ chép lại lần đầu tiên trong thé ky XV chi một loài nam ky sinh trên co thể sâu tuyết trên vùng núi cao 4000 - 3000 m của cao nguyên vùng Tây Tạng và Tứ Xuyên (Trung Quốc). Nếu vị mùa đông, cặp sâu - nắm nay giống con sâu (côn trùng) thì đến mùa hè chúng. lại như một loài thực vật (cỏ) (Kim, Jae- Sung et al., 2006; Aramwit, Pomanong et al.
Năm 1843, Miles Berkeley đã miêu tả khoa học lần đầu tiên loài nắm rễ mục trên sâu của Tây tạng đó, đặt tên là Sphaeriae sinensis (Kim, Gi - Young et al, 2006; Kim, Jae - Sung et al. Ong cho rằng vào cuối thu, da đông các chất trên da của của ấu trùng (sâu non) của một loài bướm đêm s tương tác với các bào tử của nắm và tạo ra các sợi nắm, các sợi nắm đó đã đâm sâu vào ấu trùng và lấy chất dinh dưỡng của ấu trùng để phát triển. Đầu hề năm sau, nắm phát wié mạnh, gây chế iu, sau đó hình thành chỗi, phát triển thành qua thé trông như chiếc chéi cây chui ra khỏi đầu sâu, nhưng gốc. (hệ sợi) vẫn dinh vào cơ thé sâu.
Như vậy, vào mùa đông nắm sống trong co thể côn tring, vào mùa hè nắm lại phát triển ra ngoài cơ thể côn trùng trong như chiếc lá nhỏ nên được gọi là Đông trùng Hạ thao. Năm 1878, Pie Andrea Sacardo đã xác định loài nắm này thực chất là sự ký sinh của một loài nắm túi thuộc chỉ Cordyceps với Ấu trùng (sâu non) của một côn trùng thuộc chỉ Hepialus. Do vậy ông đã chuyển loài Sphacriae sinensis sang chỉ Cordyceps và tré thành Cordyceps sinensis Sau này, các nhà khoa học đã xác định được khoảng 46 loài thuộc chỉ Hepialus bị nấm Cordyceps ký sinh, nhưng chủ yếu là Thitarodes baimaensis hoặc Thitarodes armoricanus (Kim, Gi - Young et al., 2006; Kim, Jae - Sung et al, 2006; Liu, Yi et al. Năm 2007, khi phân tích phát sinh chủng loại phân tử, Cordyceps sinensis này lại được chuyển sang chỉ Ophiocordyceps và tên lại được đổi thành OphioCordyceps sinensis và lie này các nhà khoa học đã xác định được nhiều loài Cordyceps ký sinh ở nhiều loài côn trùng thuộc nhiều chỉ khác nhau và tên "Đông trùng hạ thảo" được giới khoa học thừa nhận nên từ đó về sau các loài nắm ký sinh ở côn trùng được gọi chung là nắm đông trùng hạ thảo (Kim, Gi - Young ef al., 2006; Kim, Jae - Sung et al., 2006; Liu, Yi et al.
2015) Năm 2005 các nhà khoa học đã thành công trong nuôi trồng hệ sợi ĐTHT trong lên men chìm với nguồn định đường t uu cho sinh trưởng là 50 g/l sucrose, 10 gíl pepton, 3 g/l dich chi nấm men đã thu được 22 g/ sinh. k ¡ hệ sợi nắm sau 40 ngày lên men chìm.M Ruhul Amin, Nadia Alam, Mousumi Tania và Md. Asaduzzaman Khan tai trung tâm phat t và mở rộng nắm quốc gia S Dhakha, Bangladesh nghiên cứu về sự sinh trưởng của hệ sợi nắm Cordyceps miliaris trong nhiều môi trường nuôi cấy ở các thang nhiệt độ và pH khác nhau. Với bổn loại môi trường: PDA (potatoes, dextrose, agar), PDYA (potatoes, dextrose, yeast, agar), MEA (malt, extract, agar), YEA (yeast, extract, agar) để nuôi cấy hệ sợi nắm Cordyceps militaris thi thu được kết quả PDA là môi trường tốt nhất cho sự sinh trưởng của hệ sợi nắm.
Tiếp tục nuôi cấy hệ sợi nắm trong môi trường PDA với các thang pH 4 - 10 thì nhận tha; soi nắm phát triển tốt hơn trong khoảng pH từ 8,5 - 9,5. Để lọc ra được nhiệt độ phù hợp với sự sinh trưởng của hệ sợi nắm, các tác giả nuôi cấy hệ sợi trong các khoảng nhiệt độ (= 10°C, 15°C, 20°C, 25`C;30°C và 35°C) và nhận th rằng hi soi nắm sinh trưởng được trong khoảng 10 - 25°C, tốt nl la trong 20 - 25°C, sợi nắm không sinh trưởng ở 30 - 35°C (Chen, Ruiying et al, 2002; Aramwit, Pomanong et al., 2014; Hong, In - Pyo et al., 2010), Hiện nay, các nha khoa học đã xác định được hơn 700 loài ĐTHT, trong đó có khoảng 300 loài đã được báo cáo tạo ra quả thể thuộc chỉ Cordyceps (Kim, Gi - Young et al., 2006; Kim, Jae - Sung et al., 2006; Liu, Yi et al. Với nhiều đặc tính được học quý hiếm ĐTHT không chi y học cổ truyền Tây Tạng và các nước Viễn Đông (Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Ban) mã cả y học hiện đại cũng sử dụng như một loại thuốc tăng cường miễn dịch và lấy lại năng lượng và nhiều tác dụng khác tới nhiều hệ cơ quan trong cơ thể. Tuy có rit nhiều loài đã được xác định, nhưng chỉ có rit ít loài sử dụng trong y học do đặc tính được học của chúng.
Các loại này được gọi chung là Cordyceps được pham. Nhìn chung, hai loài nắm Cordyceps được sit dụng rộng rãi trong y học là OphioCordyceps sinensis và Cordyceps militaris, Mặc dù C. sinensis được phát hiện đầu tiên nhưng vì nó chỉ ra quả thể trong tự nhiên của các ving núi cao trên 4000 m của dãy Himalaya và chưa có qué gia nảo sản xuất được quả thể nên chúng tương đối hiếm và rất đắt tiền. Ngược lại, C.
militaris thì lại có mặt ở nhiều nơi trên thé giới, tuy chủng. giống hoang đã cũng rất kén chọn vật chú, sinh trưởng chậm, giới hạn tăng trưởng thấp, kích thước nhỏ nên chúng cũng rất hiếm và giá thành cũng khá đất đỏ, Tuy nhiên, khác với C. militaris đã được sản xuất quả thé trên quy mô công nghiệp trên nền cơ chất bán rắn là các loại hạt chưa chuyển đổi nên cũng đã đáp ứng được phần nao yêu cầu về sử dụng nim DTHT của xã hội (Kim, Gi - Young et al., 2006; Kim, Jae - Sung et al., 2006; Liu, Yi et al., 2015, Li, SP, Yang et al. Vòng đời và cơ chế lây nhiễm của nam Đông tràng ha thảo vào cơ thé côn tring 'Vào mùa đông, bao tử nắm ĐTHT có trong dat sẽ dính vào bên ngoài sau hay nhộng của các loài bướm khác nhau.
Sau đó bảo tử nắm sẽ nảy mắm thành ống có các thé bám. Các ống nay sẽ tiết ra các enzyme kitinase, lipase, protease phá hủy vỏ ngoài ký chủ, xâm nhập vio mô bên trong cơ. Trong ‘co thé ký chủ, hệ sợi nắm hút chat dinh dưỡng và phát triển chiếm toàn bộ cơ: thé, gây chết ký chủ, vỏ cứng lại để bảo vệ sợi nắm. Đến mủa hè, hệ sợi nắm.
sẽ nảy mim, làm nứt vỏ kiin của sâu, rồi phát triển thành quả thé. Quả thé sinh sản hình thành bảo tử trong các tii bảo tử. Sau đó túi bảo tử nứt ra, bảo, tử phóng thích ra môi trường. Đến mùa đông, trứng côn tring nở thành sâu, nhộng, ngẫu nhiên bị bảo tử xâm nhập.
Vòng đời cứ thể tiếp tục (Kim, Gi - Young et al., 2006; Kim, Jaé Sung et al. Quả thể (Nguồn: internet) Hình 1. Vòng đời của nấm Đông trùng ha thio 1. Thành phin hóa học và ứng dụng trong y học của C.
militaris, Phan tích hóa học cho thấy trong €. militaris có tới 18 loại axit amin, lipid, nhiêu nguyên tổ vi lượng (Za, Fe, Se), nhiều loại vitamin (A, Bạ, Biz, C, E, K). Quan trọng hơn, chúng chứa nhiều hoạt chất sinh học có giá trị dược liệu cao như acid cordycepic, superoxide dismutase (SOD), polysaccharide, manitol, adenosin, nhất là cordycepin chỉ có trong loại nắm nay (Yu, Hui Mei etal, 2011; Kim, Gi - Young et al., 2006; Li, SP, Yang et al. Với thành phẩn hóa học phong phú đó, ĐTHT đã được sử dụng trong y học cổ truyền và y học hiện đại.
Theo “Ban thảo cương mục lập di” ĐTHT có vị ngọt, tính ôn vào hai kênh phế và thận, có tác dụng bồi bỗ cơ thể cho người. bỗ thận, bổ tinh tủy, c máu, hóa đờm, đùng chữa hư hao sinh ho, ho ra máu, liệt dương, lưng đau mỗi gối, đi tinh, dau tim (Kim, Gi- Young etal„ 2006; Li, SP, Yang et al., 2006; Aramwit, Pornanong et al. Ngày nay, dưới sự phátt của y học hiện đại, các nha khoa học khắp. nơi trên thé giới đã chứng minh được những công dụng của DTHT.
Y học hiện đại đã kiểm chứng lại các giả thuyết vé tác dung của DTHT trong y học cô truyền phương đông bằng thực nghiệm. Các hoạt chat sinh học tìm thay trong ĐTHT đã được » 1 định về thành phần, cầu trúc hóa học và tắc đụng của chúng ở mức đội sào, mức độ cơ thể và đã ứng dụng trong điều trị cho. người (Fukai, Tohru etal., 2011; Hong, In - Pyo rt., 2010; Kim, Gi - Young et al.