Chương 1 TONG QUAN VAN DE NGHIEN CUU 1. Trên thế giới 1. Nguồn gốc, xuất xứ cây Cao su Cay Cao su (Hevea brasiliensis) có tên gọi gốc là Hê vê (Hévé), có nguồn gốc từ một vùng rất nhỏ bé thuộc lưu vực sống, Amazon (Nam Mỹ). Cách đây gần 10 thế kỷ, thổ dân Mainas sống ở đây đã biết lấy nhựa của cây này dùng dé tẩm vào quần áo chống ẩm ướt, và tạo ra những quả bóng vui chơi trong dịp lễ hội.
Họ gọi chất nhựa. này là Caa“6-chu, theo Thổ ngữ Mainas thì ý nghĩa nguyên thủy của chữ Cao su có nghĩa là “Nước mắt của cây” (Caa có nghĩa là cây, gỗ và O-chu có nghĩa khóc, chảy ra hay chảy ra nước mắt). [3, 8, 10, 11] Từ khi con người biết đến Cao su, ứng dụng của Cao su trong đời sống sinh hoạt cộng với khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì nền công nghiệp sản xuất Cao su ngày càng mở rộng, nhu cầu nguyên liệu Cao su càng lúc càng cao. Xứ Bfaxin không có đủ nguyên liệu để cung cấp cho các nước công nghiệp, sản lượng mủ Cao su rất thấp do chỉ khai thác cây mọc hoang dại ở rừng mà họ lại không cho xuất khẩu hạt giống.
Vì vậy một số người đã đánh cắp hạt giống mang ra khỏi lãnh thổ Braxin. [10] Cố gắng thử nghiệm đầu tiên trong việc trồng cây Cao su ra ngoài phạm vi BrasiÌ điễn rà vào năm 1873. Sau một vài nỗ lực, 12 hạt giống đã nay mam tai Vườn thie Vật Hoàng gia Kew. Những cây con này đã được gửi tới An Độ để giéo trồng, nhưng chúng đã bị chết.
Cố gắng thứ hai sau đó đã được thực hiện, khoảng 70.000 hạt giống đã được gửi tới Kew năm. Khoảng 4% hạt giống đã nảy mầm, và vào năm 1876 những cây giống đã được gửi tới Ceylon và gửi tới các vườn thực vật tại Singapore. Sau khi đã thiết lập sự có mặt ở ngoài nơi bản địa của nó, cây Cao su đã được nhân giống rộng khắp tại các thuộc địa của Anh. Các cây Cao su đã có mặt tại các vườn thực vật ở Buitenzorg, Malaysia năm 1883.
Vào năm 1898, một đồn điền trồng Cao su đã được thành lập tại Malaysia, và ngày nay phần lớn các khu vực trồng Cao su nằm tại Đông Nam Á và một số tại khu vực châu Phi nhiệt đới. [8] Hiện nay, có 24 quốc gia trồng Cao su tại 3 châu lục: Á, Phi và Mỹ La Tỉnh, tổng diện tích toàn thể giới khoảng 9,4 triệu:ha, trong đó Châu Á chiếm 93%, Châu Phi 5%, Mỹ La Tỉnh quê hương cân cây Cao su chưa đến 2% diện tích Cao su thế giới. Việc mở rộng diện tích Cao §u vùng Nam Mỹ gặp khó khăn do bị hạn chế bởi bệnh cháy lá Nam Mỹ (SALB). Indonesia có diện tích Cao su lớn nhất thế gị , tiếp theð là Thá Lan, Malaisia, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.
Hầu hết diện tích Cao su của các nước đều nằm trong vùng truyền thống. Tình hình nghiên cứu về cây Cao su Những công trình nghiên cứu về thủy-văn rừng được bắt đầu từ giữa những năm 60 của thế kỉ XX, công trình'nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là của Moltranov A. Ông đã nghiên cứu rất tỉ mỉ sự khác biệt về lượng nước bị giữ lại trên tán rừng, lượng nước chảy men thân, lượng mưa dưới tán rings khả năng thấm và giữ nước của đất rừng. Thí nghiệm của ông, cho Álây rằng trong khu rừng Châu Âu, tán rừng có khả năng giữ được 25 - 40% lượng giáng thuỷ.
Ông khẳng định rằng ngay ở những nơi có độ dốc 25 -.30”, rừng vẫn có khả năng biến nước chảy mặt thành nước chảy ngầm. Sipe nghiệm của ông còn chứng tỏ cây rừng có ảnh hưởng rất lớn đến độ Âm đất A mực nước ngầm. Hiệu quả làm khô đất của cây rùng ở Liên Xô khong? chỉ thấy trên các vùng đầm lầy mà còn ở những khu vực có lượng mưa thấp như vùng Trung Á. Ông đã sử dụng khá thành công phương pháp gây mưa nhân tạo để nghiên cứu về ảnh hưởng của các nhân tố cấu trúc rừng tới khả năng điều tiết nước và bảo vệ đất của rừng.
Sự xuất hiện của thiết bị gây mưa nhân tạo đã mở ra triển vọng phát triển mới trong nghiên cứu thủy văn rừng, rút ngắn thời gian nghiên cứu đồng thời nâng cao độ chính xác của kết quả nghiên cứu. [2, 5, 7] Ở Trung Quốc, công trình nghiên cứu của Trần Huệ Tuyền (1996) tập trung vào việc phân tích chức năng giữ nước của rừng bảo vệ nguồn nước tại đập Tùng Hoa, Côn Minh. Bằng nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra rằng rừng hỗn giao thông, dẻ, cây bụi, cây quyết với độ tàn. che là 0,4 ~ 0,6 cản giữ được khoảng 20% lượng mưa rơi trực tiếp vào tán Ty năng lực tích nước thực tế của rừng bằng 39% tổng lượng mưa.
Tuy vậy, tác Bia van chua dua ra được các nguyên lý chung về dạng liên hệ giữa các đại lượng ảnh hưởng tới khả năng giữ nước của rừng. Vì vậy rất khó để có thể vận dụng những kết quả nghiên cứu này cho nơi khác, cũng như khó kiến đọng việc dự báo những chế độ thuỷ văn rừng ở khu vực nghiên cứu trong những năm tiếp theo.ˆ Độ che phủ của rừng lá kim biến đổi 10% sẽ dẫn đến sự biển đổi của tổng lượng nước sản sinh ra của vùng đầu nguồn một năm khoảng 40 mm, cũng như chế độ che phủ Tư mg-tử rộng gỗ cứng biến đổi 10% sẽ dẫn tới sự biến đổi của tổng lượng nước dư sinh ra của vùng đầu nguồn một năm là khoảng 25 mm, còn chế độ che phủ của rừng cây bụi và thảm thực vật thân cỏ biến đổi 10% sẽ chỉdẫn đến sự biến đổi của tổng lượng nước sinh ra của vùng, đầu nguồn 1nấm KhØảng 10 mm (Bosch and Hewillet, 1982), khi độ che phủ của rừng giảm xuống 20% rất khó dùng phương pháp trắc nghiệm thuỷ văn để xác định trong nghiên cứu thực nghiệm so sánh ảnh hưởng của rừng tới sản lượng nước vùng đầu nguồn (Bosch and Hewllet, 1982; Hetherington, 1987; Stednick, 1996). [5, 7] Stednick (1996) tiến hành tổng kết hệ thống trên 95 khu vực thực nghiệm lưu vực của nước Mỹ, ông tiến hành so sánh đối chiếu về các nhân tố vị trí lưu vực, tên gọi lưu vực, diện tích lưu vực, độ cao so với mực nước biển, hướng dốc, loại hình thổ nhưỡng, trạng thái thảm thực vật, lượng nước sản sinh ra bình quân năm, lượng nước rơi (mưa, tuyết.) bình quân năm, tỷ lệ diện tích lưu vực bị chặt hạ, lượng nước sản sinh ra của lưu vực tăng lên và khu thủy văn của địa điểm thực nghiệm lưu vực đó. Kết quả ở 29 địa điểm thực nghiệm thuộc dãy núi Appalachian cho thấy chỉ sau khi rừng bị chặt hạ 20% mới có thể quan trắc thấy lượng nước của lưu vực tăng lên, khi chặt hạ toàn bộ rừng của khu vực thực nghiệm, mức nước tăng lên.của lượng nước sản sinh ra của lưu vực hàng năm có biên độ từ 0 - 400mm; diện tích rừng bị chặt hạ cứ tăng lên 10% thì lượng nước sản sinh ra của lưu vực một năm tăng lên 28 mm.
Ở 7 địa điểm vùng đồng bằng ven biển mién Đông nước Mỹ cho thấy chặt hạ tối thiểu 45% diện tích rừng thì lượng, nước sản sinh ra của lưu vực một năm tăng lên 100 mm, khi chặt hạ toàn bộ diện tích rừng thì lượng nước sản sinh ra của lưu vực hàng năm tăng lên 250 mm, cứ tăng diện tích bị chặt hạ lên 10% thì lượng nước sản sinh ra của lưu vực tăng 18 mm. [5] Kết quả nghiên cứu ở khu thủy văn Roski cho thấy khi diện tích chặt hạ tăng 15% thì đã quan trắc thấy sự tăng lên của lượng nước sản sinh ra của lưu vực, khi diện tích chặt hạ đạt 50% thì lượng nước sản sinh ra của lưu vực có biên độ từ 25 - 250 mm, khi chặt hà toàn bộ diện tích rừng thì lượng nước sản sinh ra của lưu vực hàng năm. có biên độ từ 0 - 350 mm. [5] Ngoài ra còn có nhiều kết quả nghiên cứu thủy văn ở nhiều khu vực khác nữa, có nhigumgnyén nhân dẫn tới sự khác biệt về ảnh hưởng của khai thác rừng đối với những biến đổi của lượng nước sản sinh ra của lưu vực ở các khu thủy VăN KHᣠthhau và trong cùng một khu vực thủy văn, trong đó bao gồm phương thức khai thác, điều kiện khí hậu, điều kiện thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, thời gian tiến hành quan trắc.
[5] Những công trình nghiên cứu về Cao su gắn với sự phát triển về diện tích gây trồng cây Cao su. Từ đầu những năm 1950 ở Trung Quốc đã có nhiều ha rừng tự nhiên được thay thế bởi các đồn điền Cao su. Cây Cao su không chỉ được phát triển trên đất đỏ bazan màu mỡ, ở những nơi bằng phẳng với khí hậu ấm áp, mà còn được phát triển trên cả những loại đất có độ phì kém hơn, ở những vùng dốc với khí hậu lạnh hơn. Kết quả nghiên cứu của Wang, Xianpu cho thấy rừng Cao su ở Trung Quốc có khả năng bảo vệ đất và nước tốt hơn nhiều mô hình rừng thuần loài khác.Caô su ở Hải Nam có mức đa dạng sinh học tương đối cao.
Nghiên cứu 'của Hong Mei-Liu, Ju- Sheng Jiang va Huang-Lin Dong (2006) đã phát.hiện được dưới rừng Cao su có tới 207 loài cây có mạch thuộc 113 giống và 61 họ,trong đó chiếm ưu thế nhất là loài cỏ chịu bóng, Mức độ đa dạng sinh học rất khác nhau phụ thuộc vào lượng mưa, độ phì của đất, và tuổi của Cây cao su. Lượng mưa càng lớn thì mức độ đa dạng sinh học càng cao. Người ta. cũng nhận thấy sự đa dang sinh học giảm dần theo tuổi rừng Cao su.
[4, 5, 7] Aiken et al. (1982) khi nghiên cứu về táe động môi trường rừng Cao su ở Bán đảo phía Tây Singapo đã nhận thấy những hiệu quả thấp về giữ nước và bảo vệ đất của rừng trồng Cao su. Ông kết luận rằng quá trình trồng Cao su sẽ không tránh khỏi sự giá tăng dòng chảy mặt và xói mòn đất. Xói mòn đất càng trở nên nghiêm trọng hơn khi người trồng Cao su tiến hành phát dọn sạch thực bì dưới tán rừng.
B, 4, cà 11] Có thể kể tên một số tác giả nghiên cứu về khả năng bảo vệ môi trường của rừng Cao su.