Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây mồng tơi 1.1 Phân loại thực vật học, nguồn gốc và sự phân bố Tên khoa học: Basella alba L. Họ mồng tơi: Basellaceae. Tên tiếng Anh: Red vine spinach, Creeping spinach, Climbing spinach, Indian spinach, Asian Spinach. Cây mông toi phân bố pho biến ở Châu Phi, quần dao Angti, Braxin va Chau A (Nhat Ban, Trung Quốc, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam).
Ở Việt Nam, cây mọc hoang và được trồng khắp nơi. Thường gặp ở ven rừng, trên đất âm, trong các đất trồng trọt từ vùng thấp tới vùng cao. Cây được trồng ở phan lớn các vùng nhiệt đới dé lay lá và ngọn làm rau ăn và quả mọng có khi được dùng dé nhuộm màu thực phẩm (Đỗ Tat Lợi, 2004).2 Đặc điểm thực vật học Méng tơi là một loại day leo quấn, mập và nhớt, sống hang năm hay hai năm, thân mọc cuốn, đài 1,5 - 2 m. Thân lá phân nhánh, màu xanh nhạt hoặc tím nhạt.
Lá mọc so le, đơn, có cuống. Phiến lá hình trứng, đầu nhọn, phía cuống bằng hay hơi hẹp lại, dài 3 - 12 cm, rộng 2 - 6 cm. Hoa tự, hình bông mọc ở kẽ lá, hoa nhỏ, màu trắng hay tím đỏ nhạt. Những bông ở phía trên dai và gầy hơn.
Qua mong, nhỏ, hình cầu hay hình trứng, dai 5 - 6 mm, màu tim đen khi chín. Bộ rễ mồng tơi ăn nông (Đường Hồng Dat, 2002).3 Yêu cầu về điều kiện sinh thái Cây mông tơi sinh trưởng tốt tại những nơi đất thấp trong vùng nhiệt đới, nhiệt độ thích hợp 25 - 30°C. Trong điều kiện ngày dài trên 13 giờ mồng tơi sẽ không ra hoa. Mồng tơi có thé sinh trưởng ở nhiều loại đất, nhưng dat cát là thích hợp nhất (Đường Hồng Dat, 2002).4 Các biện pháp kỹ thuật 1.1 Thời vụ trồng cây mồng tơi Miên Bac mông tơi trông chủ yêu trong vụ xuân và thu hoạch suôt vụ hè.
Gieo trông từ đầu tháng 3 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 9. Miền nam cây mong tơi có thé trồng được quanh năm, tốt nhất đầu mùa mưa.2 Các giống mong tơi Theo Nguyễn Xuân Giao (2009), có 3 loại giống phổ biến trong sản xuất: Mông toi trang: phién lá nhỏ, thân mảnh, thân va lá có màu xanh nhạt. Mông tơi tia: phiến lá nhỏ, thân và gân lá có màu tím do. Mong tơi lá to: phiến lá to, là dày, màu xanh đậm, thân mập, năng suất cao.3 Làm đất Chọn loại đất thịt nhẹ, thịt trung bình, đất cát pha, pH từ 6,0 - 6,7.
Dat cày bừa ky, làm sạch cỏ trước khi gieo trồng, luân canh với cây trồng khác họ. Làm luống: Mặt luống rộng | - 1,2 m, rãnh luéng 0,2 - 0,3 m, cao 25 - 30 cm (Nguyén Xuan Giao, 2009).4 Mat độ khoảng cách Theo Nguyễn Xuân Giao (2009), có thể gieo thắng theo hàng hoặc gieo cây con rồi tỉa cấy khi có 2 - 3 lá thật. Khoảng cách: 20 - 25 cm x 20 cm/cây.5 Nhu cầu phân bón của cây rau mồng tơi Tổng lượng phân bón cho 1 ha trồng rau mồng (Ngô Văn Kỳ, 2020) phân chuồng hoai mục: 15 - 20 tan, đạm (Urê): 120 kg, super lân: 500 kg, KCI: 100 kg - Cách bón: Bon lót: 100% phân chuồng hoai kết hợp 20 - 30 kg chế phẩm Trichoderma + 100% super lân + 50% KCl + 25% urea. + Bon thúc: pha phân vào nước tưới.
Tưới vào những ngày nắng ráo dé hạn chế rửa trôi phân. Lần 1 (10 ngày sau gieo): Bón 40% urea, kết hợp với tỉa cây; Lần 2 (15 - 17 ngày sau gieo): Toàn bộ lượng phân còn lại.6 Tưới nước Nguôn nước tưới: Sử dụng nguôn nước sạch đề tưới (nước sông hoặc nước giêng). Luôn giữ độ am đất 80%.7 Sâu, bệnh hại trên cây mồng tơi 1.1 Sâu hại - Rệp muội Triệu chứng: Rệp chỉ sống trên những lá non và chúng thích cư trú ở mặt dưới lá. Rệp thường gây hại những lá non, làm cho các lá này bị quan lai, nặng có thé làm biến dang hoa.
Phòng trừ: Sử dụng Karate 2,5 EC liều lượng 1 - 1,5 mL/L, hoặc Supracide 40ND liều lượng 1 - 1,5 mL/L. - Sâu ăn lá (sâu khoang) (Spodopera litura) Triệu chứng: Gây hại trong thời kỳ cây sinh trưởng, lá bị sâu ăn chất lượng giảm, bị nặng mat thu hoạch. Phòng trừ: Sử dụng Sherpa 25EC liều lượng 1,25 - 1,875 mL/L, Selecron 500EC liều lượng 1,875 - 2,5 mL/L.2 Bệnh hại - Bệnh thối gốc, thối thân (Rhizoctonia solani) Triệu chứng: Cây sinh trưởng chậm lại và lá bị héo đột ngột. Gốc, thân bị nhiễm bệnh thì bị thối mềm và có màu nâu tối lan rộng lên phía trên ngọn.
Những cây bị nhiễm lá trở nên vàng ở phân gôc. Phòng trừ: Đảm bảo đất thoát nước tốt, duy trì nhiệt độ thấp nhất có thê trong những giai đoạn nóng của mùa vụ trồng. Nhồ bỏ những cây bị bệnh nặng, luân canh với cây trồng khác (tốt nhất nên luân canh với lúa nước). Sử dụng thuốc Alietle 800WG, Ridomil Gold 68WP dé phun phòng trừ bệnh.
- Bệnh đốm lá (đốm mắt cua) Do nam Cercospora sp. phát sinh và gây hại: Tôn tại trong tàn dư thực vật. Dat trồng liên tiếp nhiều vụ thường bị hại nặng. Phòng trị: Thu đọn tàn dư thực vật; Làm đất sớm, phơi ải; Dùng thuốc: Vizincop 50BTN.8 Thu hoạch Khi trồng 35 - 40 ngày có thể tiến hành thu hoạch, dùng dao sắc cắt cách gốc 5 - 10 cm.
Sau khi thu hoạch lần thứ nhất thì bón thúc ngay. Sau đó cứ 12 - 15 ngày thu hoạch một lứa. Nên thu hoạch vào buồi sáng sớm, vì mồng tơi sau khi thu hoạch xong gặp nang nóng dé bị ôi, kém phẩm chat.2 Giá trị dinh dưỡng và giá trị sử dụng của cây mồng tơi Bảng 1.1 Thanh phan giá trị dinh dưỡng của rau mồng tơi 100 g phan ăn được Thành phần dinh dưỡng Đơn vị Hàm lượng Nước g 93,2 Nang luong Keal 14 Protein g 2,0 Glucid (Carbonhydrate) g 1,4 Celluloza (Fiber) g 2,5 Tro (Ash) g 0,9 Calci (Calcium) mg 176 Sat (Iron) mg 1,60 Phospho (Phosphorus) mg 34 Vitamin C (Ascorbic acid) mg 72 Vitamin B1 (Thiamine) mg 0,06 Vitamin B2 (Riboflavin) mg 0,17 Vitamin PP (Niacin) mg 0,6 Beta - caroten ug 1920 (Nguồn: Nguyễn Công Khuẩn và Hà Thị Anh Dao, 2007) Theo Phan Vân Anh (2023), mông tơi chứa nhiều vitamin và khoáng chất, bao gồm vitamin A, C, K, acid folic, kali, canxi, sắt và magie. Dac biét, mong tơi còn chứa nhiều chất chống oxy hóa như flavonoid và carotenoid, giúp bảo vệ tế bào khỏi sự tấn công của các gốc tự do và nguy cơ ung thư.3 Vai trò của phân bón và một số nghiên cứu về phân hữu cơ và dịch trích cá 1.1 Vai trò của phân bón đối với cây trồng Phân bón là nguồn cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho cây trồng thông qua bộ rễ của cây, đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc quyết định năng suất của cây.
Nếu bón phân cân đối, hợp lý thì sẽ giúp năng suất của cây tăng cao, phát triển vượt trội không có hiện tượng mat mùa, hạn chế sâu bệnh hai, nâng cao chất lượng nông sản. Nếu bón phân không hợp lý thì cây sẽ phát triển không cân đối, cho năng suất thấp, chất lượng nông sản kém, sâu bệnh hại nhiều (Nguyễn Mạnh Hùng - Nguyễn Mạnh Chinh, 2017).2 Vai trò phân bón hữu cơ đối với cây trồng 1.1 Các loại phân bón hữu cơ Phân hữu cơ chủ yêu phân thành hai nhóm chính (Bùi Huy Hiền và ctv, 2011): Nhóm phân hữu cơ truyền thống: Phân chuông: luôn đầy đủ các nguyên tố dinh dưỡng: đạm, lân, kali, canxi, magie, natri, silic, các nguyên tổ vi lượng tuy hàm lượng không cao. Đó là một điều không loại phân vô cơ nào có được. Ngoài ra, phân chuồng cung cấp chat mun làm kết cau của đất tốt lên, tơi xốp hơn, bộ rễ phát triển mạnh, hạn chế quá trình bốc thoát hơi nước, chống xói mòn, chống hạn.
Phân xanh: các cây hoặc lá cây tươi được ủ hoặc vùi xuống đất đề bón cho cây trồng hoặc đất. Có tác dụng bảo vệ, cải tạo đất đai, hạn chế xói mòn. Nhưng có tác dụng chậm và dễ phát sinh các chất độc hữu cơ với cây trồng trong quá trình phân hủy. Nhóm phân hữu cơ chế biến công nghiệp: Phân hữu cơ sinh học: có nguồn nguyên liệu hữu cơ được xử lí và lên men theo một quy trình công nghiệp với sự tham gia của một hay nhiều chủng vi sinh vật.
Phân hữu cơ vi sinh: có nguồn nguyên liệu và quy trình công nghiệp như phân hữu cơ sinh học nhưng có một hoặc nhiều chủng vi sinh vật vẫn còn sống và sẽ hoạt động khi được bón vào đât. Phân bón vi sinh: chứa từ một hoặc nhiêu loại vi sinh vật hữu ích gôm nhiêu nhóm: vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật cô định đạm, vi sinh vật ky sinh, vi sinh vật đôi khang, vi sinh vật phân hủy cellulose. Phan hữu co khoáng: phân bón trong thành phan chính có chất hữu co và ít nhất một nguyên tô dinh dưỡng đa lượng, tiêu chuẩn bắt buộc của loại phân này: hàm lượng hữu co tổng số không thấp hon 15%; ẩm độ đối với phân bón dạng bột không vượt quá 25%; hàm lượngN tổng số + P2Os hữu hiệu + KạO hữu hiệu; N tong số + P2Os hữu hiệu; N tong số + KzO hữu hiệu; PzOs hữu hiệu + KaO hữu hiệu không thấp hơn 8% (Bùi Huy Hiền và cty, 2011).2 Các nghiên cứu về vai trò phân hữu cơ Nguyễn Thi Ngọc Tài (2022), khi bón trọng lượng phân 6,0 tan/ha phân hữu cơ (phân bò ủ hoai) cho cây nha đam có số lá nhiều nhất (13,8 lá/cây), chiều dài lá cao nhất (27.3 cm), chiều rộng lá cao nhất (4,1 cm), độ dày lá lớn nhất (1,5 cm), có số lá thu hoạch được cao nhat(2,0 lá/cây), khối lượng trung bình lá thu hoạch trên cây (227,9 g/cây), khối lượng trung bình 1 lá (115,6 g/la), khối lượng trung bình lá lớn nhất đạt (121,6 g/la); năng suất lý thuyết (9,5 tan/ha/lan thu hoạch), năng suất thực thu (8,2 tan/ha/lan thu hoạch) cao nhất, cho lợi nhuận cao nhất đạt (190.000 đồng/ha/vụ) và tỷ suất lợi nhuận đạt 3,50 lần. Nông Quang Cuốn (2022), bón 500 kg phân hữu co CSV Ozeri 5 - 2 - 3 - 65 OM/ha có ảnh hưởng tốt nhất đến cây đậu bắp.
Ra hoa lúc 35 NSG, bắt đầu cho thu hoạch lúc 43 NSG, số ngày cho thu hoạch là 32 ngày.