ĐẶT VẤN ĐỀ Đậu bắp là loài cây rau dễ trồng và được trồng phổ biến ở nhiều nơi từ Nam ra Bắc, ở vùng nào cũng có thể trồng được, quanh năm đều trồng được. Đậu bắp là thực phẩm dễ chế biến và rất dễ ăn, nông dân ta coi nó là “ thức ăn nhanh ”, “ thức ăn đa năng ”. Đây là loại rau vừa ngon lại vừa rẻ nhưng rất ít người biết về giá trị của loại rau này. Theo Hải Ân (2010), đậu bắp chứa nhiều vitamin A, vitamin nhóm B (B1, B2, B6), vitamin C, các nguyên tố khoáng vi lượng như kẽm và canxi.
Đậu bắp cũng là nguồn cung cấp chất xơ rất tốt và là “ bạn người bầu ” bởi rất giàu acid folic, loại vitamin rất cần cho việc hình thành ống thần kinh của thai nhi. Chất nhầy chất xơ trong đậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết. Đậu bắp giúp cơ thể tái hấp thu nước, là thức ăn lý tưởng cho những người muốn giảm cân; giúp tổng hợp các vitamin nhóm B, có tác dụng ngang bằng với sữa chua; có tính nhuận trường; có nhiều amino acid thiết yếu cho cơ thể như chất tryptophan tạo sự thoải mái tinh thần ngủ ngon. Hiện nay, tình hình sản xuất đậu bắp của nước ta nói chung và Hà Nội nói riêng vẫn chưa được chú trọng phát triển và đầu tư hợp lý.
Đa số người dân trồng với diện tích nhỏ để ăn trong gia đình, số ít sẽ được đem đi bán ở những chợ địa phương. Vì vậy, việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển cây đậu bắp cần được chú trọng nhiều hơn , để cây đậu bắp không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn có thể tiêu thụ vươn ra thị trường các nước trên thế giới. Tuy nhiên, cuộc sống càng ngày càng phát triển, thu nhập càng ngày được nâng cao nên mọi người cũng có sự đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng cuộc sống đặc biệt là thực phẩm. Hiện nay thực phẩm hữu cơ nói riêng và nông nghiệp hữu cơ nói chung đang là xu thế mà con người hướng đến trong tương lai để bảo vệ và nâng cao sức khỏe của chính mình, bảo vệ môi trường sinh thái, an toàn với con người.
Các sản phẩm hữu cơ từ đó xuất hiện nhiều hơn và thay thế dần các 1 sản phẩm có nguồn gốc vô cơ. Giá trị của sản phẩm hữu cơ hiện nay có thể gấp từ 2-2,5 lần sản phẩm thông thường. Thực phẩm hữu cơ là sản phẩm được sản xuất, chế biến mà không sử dụng thuốc trừ sâu tổng hợp, phân bón hóa học, kích thích tăng trưởng hay sinh vật biến đổi gen (Sheperd & cs. Vì vậy, nông sản hữu cơ được đánh giá là cách tốt để tránh nguy cơ tiềm ẩn từ thực phẩm bị lạm dụng chất hóa học và bảo vệ sức khỏe con người (Krystallis & Chryssohoidis, 2005).
Kết quả là, nông nghiệp hữu cơ ngày càng tăng trong những năm gần đây khi đất sản xuất hữu cơ trên thế giới đạt 37,5 triệuha (0,9% diện tích đất nông nghiệp) trong năm 2012, gấp 3,7 lần so với năm 1999 (FiBL & IFOAM, 2014). Tuy nhiên để sản xuất ra sản phẩm hữu cơ cần một thời gian dài và lượng công sức lớn, một trong số khó khăn đó là sử dụng phân bón hữu cơ. Hiện nay đa phần sản xuất hữu cơ người nông dân đều sử dụng phân bón gốc, nhược điểm của nó là lâu tan phân, lượng dinh dưỡng trong phân ít, cần phải một thời gian dài để giải phóng hết dinh dưỡng trong phân vào đất và cây trồng. Tuy nhiên nếu ta kết hợp vừa sử dụng phân bón gốc hữu cơ và phân bón lá hữu cơ thì năng suất cây trồng sẽ được nâng cao, thời gian thu hoạch sẽ được rút ngắn, lượng dinh dưỡng cây trồng nhận được sẽ nhanh và nhiều hơn.
Vì vậy việc tìm ra một công thức phân bón phù hợp giúp làm tăng năng suất và chất lượng của cây trồng cũng là một trong các biện pháp canh tác quan trọng. Xuất phát từ những thực tế trên, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến sinh trưởng, năng suất đậu bắp giống VA.80 tại Gia Lâm, Hà Nội. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục tiêu của đề tài Trên cơ sở nghiên cứu ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến sinh trưởng, phát triển cây đậu bắp, để từ đó xác định được phân hữu cơ bón gốc và bón lá thích hợp cho đậu bắp VA.80 trồng tại vụ hè thu ở Gia Lâm, Hà Nội.
Yêu cầu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến một số chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển bắp giống VA.80 tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến một số chỉ tiêu sinh lý đậu bắp giống VA.80 tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến mức độ nhiễm sâu bệnh đậu bắp giống VA.80 tại Gia Lâm, Hà Nội. - Đánh giá ảnh hưởng của phân hữu cơ bón gốc và bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất đậu bắp giống VA.80 tại Gia Lâm, Hà Nội.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ CỦA CÂY ĐẬU BẮP TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ đậu bắp trên Thế giới Trên thế giới các loại rau được trồng từ lâu đời. Người Hi Lạp, Ai Cập cổ đại đã biết trồng rau và sử dụng rau bắp cải như một nguồn thực phẩm.
Rau là thực phẩm có lợi cho sức khỏe con người, cung cấp vitamin, chất chống oxy hóa và các chất khoáng cần thiết cho cơ thể. Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau trên thế giới ngày càng tăng. Người dân Nhật Bản tiêu thụ lượng rau quả nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào, mỗi năm Nhật Bản tiêu thụ 17 tấn rau các loại, bình quân mỗi người tiêu thụ 100 kg/ năm. Xu hướng hiện nay là tiêu thụ ngày càng nhiều các loại rau tự nhiên và các loại rau có lợi cho sức khỏe.
Từ năm 2000 trở lại đây diện tích trồng rau trên thế giới là 14.956 ha thì đến năm 2005 diện tích tăng lên 18.909ha, sản lượng tăng từ 218.847 tấn lên đến 249. Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thế giới giai đoạn 2010-2018 Năm Diện tích (ha) Năng suất (kg/ha) Sản lượng (tấn) 2010 245640 6932,2 1702818 2011 252806 6260,3 1582646 2012 254550 5961,3 1517657 2013 248001 6492,8 1610228 2014 240432 6516,8 1566857 2015 235959 6279,5 1481714 2016 229415 6344,8 1455600 2017 235286 6410,8 1508375 2018 236820 6636,7 1571704 Nguồn: FAOSTAT (2020) Bảng số liệu 2.1 cho thấy diện tích trồng rau từ năm 2010-2018 tăng dần. Năng suất năm 2010-2018 giảm dần trung bình 980kg/ha. Sản lượng rau cũng từ 4 đó giảm đều qua các năm.
Do năng suất giảm trong thập kỉ gần đây nên lượng rau của thế giới đạt cao nhất vào năm 2010 là 77269 tấn, tiếp tục giảm dần qua các năm trung bình 144 nghìn tấn. Châu Phi có sản lượng đứng thứ 2 là 20273976 tấn, chiếm 7,02% sản lượng rau của thế giới. Rau được dùng kết hợp với các loại hoa quả thực phẩm rất tốt cho sức khỏe do có chứa nhiều loại vitamin, các chất chống oxy hóa tự nhiên, có khả năng chống lại một số bệnh như ung thư. Do vậy nhu cầu tiêu thụ rau ngày càng tăng.
Trung bình thế giới mỗi người tiêu thụ 154-172g/ ngày (FAO, 2006). Theo tính toán của các nhà dinh dưỡng, mỗi khu vực trên thế giới có nhu cầu tiêu thụ rau khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế. Ở khu vực châu Á theo nghiên cứu dự báo, cứ thu nhập tăng 1% thì nhu cầu rau, đậu quả tươi tăng lên 0,9%, đậu hạt tăng 0,3%, đường tăng 1,3%. Theo tổ chức lương thực thế giới (FAO), giá trị sản lượng rau trên toàn thế giới tăng trung bình 11,7%.
Rau trong chế độ ăn rất cần thiết để chống suy dinh dưỡng ở các nước đang phát triển. Rau rất giàu các chất dinh dưỡng thiết yếu như vitamin, khoáng chất, carotene, folates, thiamin và cũng như chất xơ. Mặc dù sản lượng rau đang tăng trên toàn cầu, nhưng nó vẫn còn quá thấp ở nhiều quốc gia. Năm 2003, khi sản lượng của toàn cầu là 135kg/người, sản xuất ở các nước kém phát triển nhất chỉ 73 kg/người.
Không chỉ mỗi sản lượng rau quả bình quân phân chia không đồng đều, thì tiêu thụ bình quân đầu người cũng không đồng đều. Tổng sản lượng rau cao nhất ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (313 kg/người) trong đó, sản xuất ở các nước đang phát triển lượng rau tiêu thụ của châu Á chỉ là 80 kg/người. Sản xuất và tiêu thụ không đồng đều này làm nổi bật nhu cầu cấp thiết để tăng cả sản xuất rau và năng xuất sẵn có của rau, cần điều chỉnh giá cả phải chăng cho người tiêu dung ở các nước đang phát triển. Hơn nữa, điều cần thiết là sản xuất những loại rau có giá trị dinh dưỡng cao.
Đậu bắp là loại cây chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiếu cho con người. Loại cây này rất dễ trồng, chịu nóng bức và khô hạn tốt thích hợp trồng ở vùng nhiệt đới nóng ẩm. Nó cũng được trồng trên đất nghèo dinh dưỡng với lớp đất sét dày có sự ẩm ướt không liên tục và được trồng quanh năm. Hiện nay cây đậu bắp được trồng trên 100 quốc gia thuộc cả 6 châu lục.
Bắt đầu từ cao nguyên 5 Ethiopia của Châu Phi đến nhiều nơi như: Iran, Ai Cập, Ấn Độ., các khu vực khác ở miền đông Địa Trung Hải và nhiều nước ở châu Á,. đậu bắp được canh tác khá sớm vào năm 1873 nhưng hầu như không phát triển cho đến gần đây. Đậu bắp trồng tại Nhật Bản đã phổ biến sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết thúc từ năm 1960 (Shinohara, 1989). Diện tích trồng đậu bắp ngày càng tăng lên trong những năm qua.
Trong 1991-1992, tổng diện tích đậu bắp là 220.000 ha và sản lượng đạt 1,88 triệu tấn. Trong giai đoạn 2010-2018 diện tích sản xuất đã đạt hơn 4,54 triệu tấn. Ở Thái Lan, đậu bắp là cây trồng phổ biến được trồng tại hầu hết các vùng của đất nước. Năm 2003, Thái Lan xuất khẩu một số lượng 3664 tấn quả đậu bắp tươi và đông lạnh với thu nhập khoảng 8 triệu đô la Mỹ (Green Okara, 2004).
Ở Malaysia xuất khẩu khoảng 4500 tấn/ năm (FAO, 1998). Nhập Khẩu đậu bắp tươi hoặc ướp lạnh sang Mỹ đang phát triển nhanh chóng về số lượng, trong khi nhập khẩu thêm đậu bắp được chế biến vẫn còn là tương đối thấp.