Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. Giới thiệu chung về cây đậu bap Cây đậu bắp là giống cây rau ăn quả có giá trị phổ biến ở Việt Nam và trên thé giới, được chế biến thành các món ăn hấp dẫn như: luộc, hấp, nướng, nấu canh. Bên trong quả có chứa nhiều các thành phần dinh dưỡng như: vitamin A, vitamin B1, viatmin C, kali, canxi, giàu chất xơ, là những chất có tác dụng tốt đối với sức khỏe (Hà Đình Hải, 2013). 1,1,1 Nguồn gốc và phân loại cây đậu bap Nguồn gốc: Theo Tripathi and Ranjini (2011), cây đậu bắp (Abelmoschus esculentus (L.) Moench) đôi khi được gọi theo tên khoa học cũ là Hibiscus esculentus L.
Loài này dường như có nguồn gốc từ vùng cao nguyên Ethiopia, mặc dù sự bắt nguồn và phát nguyên từ đây là không có tài liệu nào ghi chép cả. Người A1 Cập và người Moor trong thế kỷ 12 và 13 sử dụng tên gọi trong tiếng Ả Rập để chỉ loài cây này, gợi ý rằng nó đến từ phía đông. Loài thực vật này vì thế có thể đã được đem xuyên qua Hồng Hai bằng con đường qua eo biển Bab-el-Mandeb dé tới bán đảo A Rập, hon là bằng con đường phía bắc qua Sahara. Một trong những ghi chép sớm nhất là của Ibn Jubayr (1145 - 1217), một người Moor Tây Ban Nha, người đã tới Ai Cập vào năm 1216 và miêu tả loài cây này được dân cư địa phương gieo trồng và sử dụng các quả non trong các bữa ăn.
Từ bán đảo Ả Rập, loài cây này đã được phô biến tới các vùng ven Địa Trung Hải và về phía đông. Việc thiếu từ dé chỉ đậu bắp trong các ngôn ngữ cô ở An Độ cho thấy rằng nó chỉ xuất hiện ở đây ké từ khi bắt đầu Công Nguyên. Nó được đưa tới châu Mỹ bằng các tàu chuyên chở trong buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương vào khoảng những năm thập niên 1650, do vào năm 1658 sự hiện diện của nó tại Brasil đã được ghi nhận. Nó được ghi chép là có tai Surinam năm 1686.
Đậu bắp có lẽ được đưa vào đông nam Bắc Mỹ đầu thế kỷ 18 và dần dần được phô biến tại đây, lần đầu tiên được nhắc tới với các giống cây trồng khác nhau vào năm 1806. Phân loại thực vật: Cây đậu bắp (mướp tây) có tên khoa học (Abelmoschus esculenfus (L. Đậu bắp thuộc bộ Cẩm quỳ (Malvales), họ Câm quỳ (Malvalceae), phân họ Câm quỳ (Malvoideae), tông Bông bup (Hibisceae), chi Vong vang (Abelmoschus), loài Abelmoschus esculentus (Hồ Dinh Hai, 2013).2 Đặc điểm thực vật học của cây đậu bap Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường (2007), cây đậu bắp có một số đặc điểm thực vật là: Thân: cây thân thảo mọc đứng, nhiều lông, cao trung bình từ 1 - 1,5 m, phân thành nhiều nhánh, thân màu xanh đôi khi có vệt đỏ. Lá: lá màu xanh, hình tim hoặc xẻ chân vịt 4 - 5 thùy, mép có răng cưa lớn, có lông nhám.
Rễ: cây đậu bắp có 1 rễ chính và nhiều rễ phụ, ăn từ 40 - 50 em. Hoa: hoa đường kính 4 - 8 cm, thuộc hoa lưỡng tính có 5 màu trắng hoặc vàng thường có các đốm đỏ hay tia tại phần gốc mỗi cánh hoa, gồm nhụy cái ở giữa và nhiều nhị đực xung quanh. Quả và hạt: quả màu xanh sáng hoặc đỏ, quả nang, mọc dựng đứng, gồm 3-5 vách ngăn kết với nhau tạo thành các đường gờ doc, dai từ 20 - 25 em. Trong quả có 10 - 20 hạt, đường kính 2 - 3 mm, khi còn non có màu trắng, chín chuyển sang màu đen .3 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển Đậu bắp là cây trồng hằng niên chủ yếu đuợc nhân giống bằng hạt, sự ra hoa liên tục nhưng phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh và giống.
Sau gieo trồng 2 - 3 tháng cây bat đầu nở hoa, sau khi thụ phan qua phát triển nhanh, quả đạt kích thước tối đa sau 4 - 6 ngày sau thụ phan (Nguyễn Mạnh Chinh và Pham Anh Cường, 2007).4 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của cây đậu bắp 1.1 Nhiệt độ Cây đậu bắp ưa nhiệt độ cao, thích hợp từ 25 - 30°C, cần nhiều ánh sáng, trong khoảng nhiệt độ này nhiệt độ càng cao thì cây phát triển càng nhanh. Nhiệt độ cao sẽ kéo dai thời gian ra hoa và tăng số đốt cây. Đậu bắp là cây phản ứng với độ dài ngày. Đối với sự nảy mam nhiệt độ thích hợp khoảng từ 25 - 35°C và nhiệt độ nảy mầm nhanh nhất là 35°C (Nguyễn Mạnh Chinh và Phạm Anh Cường, 2007).2 Nước Khả năng chịu hạn của đậu bắp tương đôi tôt, tuy nhiên cân cung câp đủ nước vào mùa khô.
Sử dụng các nguôn nước tưới sạch như: sông suôi, giêng khoan. Không nên sử dụng nguôn nước thải ô nhiễm, nước thải nhà máy, bệnh viên. Can giữ độ âm dat 80 - 85% trong suất quá trình thu hái.3 Dat Đậu bap có kha năng chịu đất nghèo dinh dưỡng. Chọn loại đất cát pha, thịt nhẹ hoặc trung bình, pH dao động từ 5,5 - 6,8.
Mặt đất bằng phẳng và thoát nước tốt.4 Dinh dưỡng Cũng tương tự các cây trồng khác, cây đậu bắp cần được cung cấp đầu đủ các nguyên tô đa lượng: N, P, K, Ca, Mg, S, C, H, O và các nguyên tổ vi lượng Fe, Cu, Zn, Mn, Mo, Bo, Cl. Tùy theo từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau mà nhu cầu dinh dưỡng cũng thay đổi. Cây đậu bắp hỏi dinh dưỡng khá cao, cần khoảng 20 - 30 tắn/ha phân chuồng, 100 kg/ha N, 100 kg/ha PzOs, 60 kg/ha KzO, 500 kg bánh dau cho năng suất khoảng 10 tan/ha (Nguyễn Mạnh Chinh và Pham Anh Cường, 2007).5 Giá trị dinh dưỡng và dược liệu Đậu bap là một nguồn tuyệt vời của vitamin C và K1. Đậu bắp có ít calorie và carb, đồng thời chứa một số protein và chất xơ.
Ngoài ra, một số axit amin như Tryptophan, Threonine, Isoleucine, Leucine va Lysine cũng được tìm thấy trong đậu bắp rất có lợi cho sức khỏe. Vỏ quả tươi của đậu bắp là nguồn cung cấp folate. Tiêu thụ loại thực phẩm giàu folate, đặc biệt là trong giai đoạn tiền thụ thai sẽ giúp giảm nguy cơ mắc các khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi. Chất nhay của quả đậu bắp có tính được liệu như là một chất làm mềm, nhuận tràng va dom.
Chat nhay và chat xơ trong đậu bắp giúp điều chỉnh lượng đường huyết bằng cách điều hòa sự hấp thu của chúng từ ruột non. Đậu bắp rất hữu ích đối với các rối loạn sinh dục - tiết niệu, tinh sào và bệnh li mãn tính (Đỗ Tat Lợi, 2001).1 Thành phần dinh dưỡng chứa trong 100 g đậu bắp Giá trị : Tỉ lệ (%) ` Giá trị Tỉ lệ (%) Thành phân dinh Thành phân RDA dinh dưỡng RDA” dưỡng Năng lượng 33 Kcal 1,5 Vitamin K 31,3 pg 32 Carbohydrare 7,45 g 5,4 Protein 1,93 g 4 Natri 7 mg 0,5 Tổng số. , 0,19 g 0,5 Kali 299 mg 6 chat béo Chat xo 3,2 g Chat khoang Vitamin 15 Canx1 82 mg 8 Folate 60 pg 7 Đồng 0,094 mg 10 Niacin 1,000 mg 5 Magie 57 mg 14 Pantothenic acid 0,245 mg 16,5 Mangan 0,990 mg 43 Pyridoxine 0,215 mg 4,5 Phosphor 64 mg 9 Riboflavin 0,060 mg 17 Se len 0,7 mg 1 Thiamin 0,200 mg 28 Kém 0,58 mg 2,5 Phyto - Chat Vitamin C 23 mg 2 dinh dưỡng Vitamin A 375 IU 2 Carotene 225 mg - Lutein, Vitamin E 0,27 mg 516 mg - zeaxanthin (Co sở dit liệu dinh dưỡng của USDA, 2016) (1) RDA: Recommended dietary alloowance: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị.2 Tổng quan về phân bón hữu cơ 1.1 Khái niệm phân bón hữu cơ Theo Bộ NN&PTNT (2019), phân bón hữu cơ là phân bón có thành phần chỉ là chất hữu cơ tự nhiên và có chỉ tiêu chat lượng chính đáp ứng quy định (cụ thé là có hàm lượng chất hữu cơ tổng số không thấp hơn 20%). Phân bón hữu cơ khoáng là phân bón trong thành phần có chất hữu cơ và nguyên tố dinh dưỡng đa lượng là chỉ tiêu chất lượng chính, cụ thé: hàm lượng chất hữu cơ tông số không thấp hơn 15%; hàm lượng hoặc tổng hàm lượng đạm tổng số, lân hữu hiệu, kali hữu hiệu trong thành phan đăng ky > 8,0 và < 18,0; mỗi hàm lượng đạm tổng sé, lân hữu hiệu, kali hữu hiệu trong thành phần đăng ký > 2,0.2 Phân bón hữu cơ tại Việt Nam 1.1 Phân loại phan hữu cơ Theo Bộ NN&PTNT (2019), phân bón hữu cơ bao gồm hai nhóm: phân bón hữu cơ truyền thống và phân bón hữu cơ công nghiệp.
Phân bón hữu cơ truyền thống là loại phân bón có nguồn gốc từ chất thải của động vật hoặc phế phụ pham trong trot, chan nudi, ché bién nông lâm thủy san, phan xanh, rác thải hữu cơ, các loại than bùn được chế biến theo phương pháp ủ truyền thống. Trong nhóm này có thể chia thành 5 nhóm nhỏ là: phân chuồng, phân rác, than bùn, phân xanh và phân hữu cơ khác. Phân bón hữu cơ công nghiệp là loại phân bón được chế biến từ các nguồn hữu cơ khác nhau dé tạo thành phân bón tốt hơn so với nguyên liệu thô ban đầu. Hiện nay, phân bón hữu cơ công nghiệp chia thành các loại: phân hữu cơ, phân hữu cơ khoáng, phân hữu co sinh học và phân hữu cơ vi sinh.2 Nguồn nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ Theo Bộ NN&PTNT (2019), các nguồn nguyên liệu để sản xuất phân bón hữu cơ ở Việt Nam hiện nay rất đa dạng, phong phú bao gồm chất thải từ chăn nuôi, thủy sản, chế biến nông sản, phụ phẩm cây trồng, than bùn, rác thải sinh hoạt và các chế phâm vi sinh, các nguyên tố khoáng, chat sinh học bổ sung dé nâng cao chất lượng, hiệu quả sử dụng phân bón.
Chat thải chăn nuôi: Tính đến tháng 4 năm 2017 tổng đàn gia súc, gia cầm tập trung của Việt Nam có 2.083 con lợn va 341.000 con gia cam và ước tính thai ra khoảng 85 triệu tan chat thải rắn (trâu: 13 triệu tấn, bò: 20 triệu tan, lợn: 26 triệu tan, gia cầm: 26 triệu tan), trong đó mới có 20% chất thải được khai thác sử dụng hiệu quả vào các mục đích khác nhau như làm khí sinh học, phân bón, thức ăn cho cá. Chất thải chăn nuôi có hàm lượng chất hữu cơ, các nguyên tố khoáng đa lượng khá cao và có cả các chất đinh dưỡng trung vi lượng giúp độ phì nhiêu đất. Như vậy 80% chất thải chưa được sử dụng hiệu quả là nguồn nguyên liệu có giá trị tiêm năng rat lớn dé sản xuât phân hữu cơ nêu được quản lý, sử dụng hiệu quả.