Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Nguồn gốc, phân bố, phân loại khoa học và đặc điểm thực vật hoc 1.1 Sơ lược về nguồn gốc và phân bố Cây đậu xanh có nguồn gốc ở Ấn Độ và Trung Á, từ đó lan sang nhiều khu vực khác của châu Á. Các bằng chứng khảo cổ cũng đã kết luận cây đậu xanh được trồng rộng rãi ở Ấn Độ cách nay khoảng 3000 - 3. Cây đậu xanh có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn khá và có thé thích nghi với các vùng có điều kiện khắc nghiệt. Cây đậu xanh được trồng nhiều ở các nước châu Á như: An Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia, Lào, Philippines, Malaysia và Indonesia.
Hiện nay, cây đậu xanh cũng được trồng ở Trung Phi, các vùng khô và nóng ở Nam Âu, phía Đông Bắc châu Úc, Nam Mỹ và miền Nam Hoa Kỳ (Hồ Dinh Hải, 2014).2 Phân loại khoa học Cây đậu xanh có tên khoa học là Vigna radiata (L). Đậu xanh thuộc bộ Fabales, họ Fabaceae, phân họ Faboideae, tông Phaseoleae, phân tông Phaseolinae, chi Vigna, loài Vigna radiata (Hồ Đình Hai, 2014).3 Đặc điểm thực vật học Rê Ré cây đậu xanh thuộc loại ré cọc, gôm ré cái và các ré phụ, ăn nông, phân lớn ở tang dat mặt tới độ sâu khoảng 20 cm. Trên ré có nhiêu not sân chứa vi khuân cô định đạm (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007). Thân Cây đậu xanh là cây dạng đứng, thân nhỏ và thấp, cao trung bình 40 - 60 cm.
Thân chia nhiều đốt, từ các đốt mọc ra các cành, thường có 1 - 5 cành (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007). Lá Lá đậu xanh là loại lá kép có 3 lá chét, mọc cách. Các lá chét có dạng hình khác nhau từ oval, thuôn tròn, thuôn dài, lưỡi mác. Một lá được gọi là hoàn chỉnh gồm có: lá kèm, cuống lá và phiến lá.
Cả hai mặt lá đều có lông, gân lá nổi lên rõ ở phía dưới mặt lá (Phạm Văn Thiều, 1999). Hoa Theo Phạm Văn Thiều, (1999): Hoa đậu xanh là hoa lưỡng tính, mọc thành chùm, xếp xen kẽ nhau ở trên cuống lá. Mỗi chùm hoa dài từ 2 - 10 em và có từ 10 - 125 hoa. Khi mới hình thành, hoa có hình cánh bướm, màu xanh tím.
Khi nở, cánh hoa có màu vàng nhạt. Đặc tính nở hoa: Hoa đậu xanh thường nở rải rác, các hoa ở thân nở trước, các hoa ở cành nở sau và chậm hơn. Hoa nở được 24 giờ thì tàn. Thông thường 10 ngày đầu hoa nở rộ, sau đó thưa dần.
Sau khi nở hoa và thụ phan khoảng 20 ngày thì có thé thu hoạch. Quả Quả thuộc loại quả giáp, khi chín có màu xám den, gặp nang nóng dé bị tách vỏ. Sau khi hoa nở khoảng 20 ngày thì quả chín. Một cây trung bình có 20 - 30 quả, mỗi quả có 5 - 10 hạt (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007).
Hạt Hạt hình tròn, màu xanh mốc, ruột hạt màu xanh vàng. Khối lượng 1000 hạt từ 50 - 70 g (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2007).2 Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với cây họ đậu Ngoài các yếu tố sinh thái thì dinh dưỡng là yếu tố quan trọng quyết định đến sự sinh trưởng phát triển, khả năng chống chịu và tạo năng suất của cây đậu xanh. Trong quá trình sinh trưởng, phát triên cây đậu xanh cân nhiêu yêu tô dinh dưỡng, ngoài các yếu tô đa lượng thì các yếu tố vi lượng cũng ảnh hưởng đến năng suất của cây đậu xanh. Canxi là "chìa khóa" trong sự tăng trưởng của cây đậu xanh, nó giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra năng suất, điều chỉnh độ pH và cải tạo đất.
Magie cũng là một nguyên tố quan trọng dé cau tạo điệp lục. Vì vậy khi thiếu nó là sẽ mat màu xanh và khô. Lưu huỳnh tham gia vào việc cấu tạo là aminoaxit chủ yếu trong hat, là yếu tô cau thành quan trọng của phần lớn các proxit. Cây họ đậu có nhu cầu sinh lý đặc biệt quan trọng về lưu huỳnh.
Các nguyên tố vi lượng như (Cu) tham gia vào thành phần của điệp lục, (Mo) giúp cho nốt san hình thành sớm và thúc day quá trình cố định đạm, (Mn) và (Bo) giúp cho quá trình ra hoa tạo qua (Phạm Văn Thiều, 2001).3 Tổng quan về phân bón lá 1.1 Khái niệm phân bón lá Theo Vũ Cao Thái (2000), phân bón lá là một dạng phân hữu ích có tác dụng nhanh chóng đến cây trồng đặc biệt sau các điều kiện bat lợi như han, ngập úng, sâu bệnh, làm tăng năng suất cây trồng đáng kê. Trần Thị Thu Hà (2009) cho rằng: Phân bón lá là loại phân được sản xuất ở dạng nước hoặc được hòa tan trong nước và phun lên lá nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Phân bón lá được sử dụng ở Việt Nam từ đầu những năm 1980 của thế kỷ trước, tuy nhiên phải đến năm 2000, thuật ngữ phân bón lá mới được chính thức đề cập trong các văn bản pháp quy của Nhà nước (Bùi Huy Hiền và ctv, 2013). Phân bón lá hiện nay rất đa dạng, có thé gom cac loai phan don nhu P, Zn, N, Cu, các loại phân bón lá hỗn hợp gồm có các chất dinh dưỡng da lượng và vi lượng.
Ngoài ra phân bón lá còn được bé sung thêm các chất kích thích sinh trưởng dé cây phát triển tốt hơn, tăng năng suất, chất lượng. Hiện nay, bên cạnh các loại phân bón lá đã được sử dụng khá phô biến, các loại phân bón lá mới vẫn được tiếp tục nghiên cứu và phát triển, đó là các loại phân bón lá có nguồn gốc từ thiên nhiên như phân bón lá vi sinh, phân bón lá sinh học, không chỉ góp phần tăng năng suất và chất lượng của cây trồng, giúp tăng cường khả năng đề kháng chống lại sâu bệnh mà còn thân thiện với môi trường.2 Vai trò của phân bón lá Bón phân qua lá thậm chí còn tốt hơn là bón qua rễ, đây là cách nhanh nhất mà cây hấp thụ. Phân bón lá là một công cụ quan trọng cho việc quản lý hiệu quả và bền vững cho cây trồng. Theo Bùi Huy Hiền và ctv (2013), vai trò của phân bón lá ngày càng quan trọng do việc sử dụng lâu dai các nguyên tố dinh dưỡng đa, trung lượng mà không có bồ sung các chất vi lượng; hơn nữa, nhiều nguyên tố, nhất là vi lượng dễ bị kết tủa khi thay đôi môi trường đất, rửa trôi nên việc đưa các nguyên tố này vào cây trồng thông qua lá là phương pháp hiệu quả.
Hầu hết phân bón lá cho hiệu lực nhanh, kinh tế hơn bón vào đất do cây sử dụng đến 95% lượng dinh dưỡng bón vào, trong khi hệ số sử dung phân bón tương tự khi bón vào đất chỉ đạt 45 - 50%, thậm chí thấp hơn. Một trong những nguyên nhân cơ bản là cây trồng tiếp nhận dinh đưỡng do bón qua lá với diện tích bằng 15 - 20 lần diện tích đất ở tán cây che phủ. Như vậy, mục tiêu chính khi sử dụng phân bón lá là: Bồ sung thêm các chất dinh dưỡng còn thiếu mà đất và phân bón đa lượng không thể cung cấp đủ. Giúp cây trồng khắc phục các hạn chế khi việc cung cấp dinh dưỡng qua đất bị ảnh hưởng của nhiệt độ, cường độ chiếu sáng, phản ứng của đất, hoặc xuất hiện các yếu tố dinh dưỡng đối kháng.
Cung cấp các chất dinh dưỡng theo hướng tăng cường chức năng, nhất là trong các giai đoạn sinh trưởng sinh thực của cây trồng (hình thành quả, củ, chỉ tiêu chat lượng). Hạn chế mắt chất dinh dưỡng trong đất do bị có định hoặc bị rửa trôi. Một số nguyên tố đinh dưỡng thậm chí được khuyến cáo chỉ nên bón qua lá như bón sắt vào đất kiềm, bón các nguyên tố vi lượng (Bùi Huy Hiền và ctv, 2013). Các công trình nghiên cứu khoa học cũng như thực tế sản xuất cho thay bón phân qua lá có tác dụng rõ rệt trong việc làm tăng năng suất và phâm chất nông sản, tăng giá trị thương phẩm của nông sản.
Dé đảm bảo không lãng phí phân bón và phát huy hiệu quả đến mức cao nhất, cần căn cứ vào nhu cầu của đất đai, đặc điểm của đất đến tỷ lệ các thành phần phối trộn ở mức thích hợp nhất.3 Ưu điểm sử dụng phân bón lá Khi phun dinh dưỡng qua lá cây trồng không chỉ hấp thu trong vài giờ mà còn có thể hấp thu vài ngày sau. Do đó, có thể bổ sung nhanh cho cây trồng lúc cần thiết và phục hồi nhanh sau khi cây bị còi cọc. Tránh được các yếu tố bat lợi khi cung cấp dinh dưỡng qua đất, các trường hợp bị rửa trôi, phèn, mặn, cây trồng bị ngô độc hữu cơ hoặc có định chất dinh dưỡng thì việc áp dụng phân bón lá là một biện pháp hữu hiệu nhất (Nguyễn Huy Phiêu, 2007). Một lần cung cấp nhiều dinh dưỡng cho cây trồng, trong phân ngoài yếu tố đa, trung lượng, vi lượng các nhà sản xuất còn bổ sung chất điều hòa sinh trưởng như NAA, IAA, các vi sinh vật có ích, tạo nên tính da chức năng của phân bón lá.
Giảm công vận chuyền và công phun phân bón. Các chế pham phân bón lá ở dạng đặc nhưng phun cho cây với nồng độ loãng. Thành phẩm thường nhỏ gon dé vận chuyền, việc phun phân bón lá cũng tiết kiệm được lượng phân sử dụng (Nguyễn Huy Phiêu, 2007).4 Nhược điểm sử dụng phân bón lá Tốc độ thấm sâu vào lá giảm khi kích thước phân từ của các chất hoa tan gia tăng. Dưỡng chat và những chất cung cấp qua lá có thé không chuyên đến những bộ phận ở xa như rễ và cơ quan sinh trưởng mới sinh sản sau khi phun thuốc.
Dinh dưỡng dễ bị rửa trôi sau khi phun néu gặp mưa, sương hoặc khi tưới phun. Tính thấm của biéu bi lá có thé thay đổi theo tuổi lá, môi trường, giống. Nên gây trở ngại cho việc dự đoán tốc độ, số lượng hấp thu các chất hòa tan được phun ra (Nguyễn Bảo Vệ, 1999).4 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước về phân bón lá trên cây họ đậu 1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước về phân bón lá trên cây họ đậu Krishnaveni và ctv (2004) đã tiến hành thí nghiệm ảnh hưởng của việc phun qua lá DAP [diammonium phosphate] (2%), KCl (1%), ZnSO4 (0,5%) ở thời điểm 15, 30 và 45 NSG.