Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Nông lâm Kết hợp của tác giả Nguyễn Thị Thùy (Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, khóa học 2011–2015) tập trung vào đề tài "Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến sinh trưởng cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên".
Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là loài cây gỗ lớn thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), bộ Thông (Coniferales), có thể đạt chiều cao 50–55 m trong tự nhiên. Gỗ của loài này mềm, có hương thơm, thớ thẳng, bền, chịu được mối mọt, mục ải và dễ gia công, thường được sử dụng làm nhà ở, đóng tàu thuyền, cột buồm, đồ gỗ cao cấp và sản xuất ván áo quan. Bên cạnh giá trị kinh tế và cảnh quan, Sa mộc dầu đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng theo tiêu chuẩn IUCN (2001) do quy mô quần thể nhỏ, phân bố tự nhiên bị chia cắt mạnh tại một số tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An) và chịu áp lực từ tình trạng khai thác gỗ, phá rừng làm nương rẫy, cũng như nguy cơ thoái hóa di truyền do lai tạp tự nhiên với loài Sa mộc nhập nội (Cunninghamia lanceolata).
Để phục vụ công tác trồng rừng thâm canh và bảo tồn nguồn gen, việc sản xuất cây con khỏe mạnh, đủ tiêu chuẩn kỹ thuật ngay tại vườn ươm đóng vai trò quyết định. Đất gieo ươm tại khu vực đồi của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên là đất feralit phát triển trên đá sa thạch có độ chua cao, nghèo mùn và dinh dưỡng, rễ cây con giai đoạn đầu lại sinh trưởng chậm. Do đó, việc xác định loại phân bón và phương thức bón thích hợp là vấn đề kỹ thuật cấp thiết.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm 2 nội dung:
- Xác định được loại phân bón phù hợp cho sinh trưởng của cây Sa mộc dầu.
- Lựa chọn phương pháp bón phân thích hợp cho cây Sa mộc dầu ở giai đoạn vườn ươm.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây con Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tạo cây con bằng phương pháp gieo ươm từ hạt.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu sinh trưởng đường kính cổ rễ, chiều cao vút ngọn và tỷ lệ xuất vườn dưới tác động của các công thức phân bón qua rễ và phân bón qua lá.
- Phạm vi không gian: Khu vực vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên.
- Phạm vi thời gian: Từ tháng 11/2014 đến tháng 05/2015 (thời gian trực tiếp bố trí theo dõi thí nghiệm từ ngày 28/12/2014 đến tháng 05/2015).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng lý thuyết sinh lý thực vật về sinh trưởng và dinh dưỡng khoáng (theo Nguyễn Bá Lộc và cộng sự, 2008; FAO, 1994). Sinh trưởng của cây là quá trình tạo mới các yếu tố cấu trúc tế bào, mô và cơ quan một cách không thuận nghịch, biểu hiện qua sự gia tăng kích thước, khối lượng và tích lũy chất khô. Khóa luận phân tích vai trò sinh lý của ba nguyên tố đa lượng thiết yếu: Đạm (N) tham gia cấu trúc protein, axit amin, diệp lục và axit nucleic; Lân (P) thúc đẩy chuyển hóa năng lượng, phân chia mô phân sinh và phát triển hệ rễ; Kali (K) điều tiết áp suất thẩm thấu, quá trình đồng hóa và tăng cường khả năng chống chịu điều kiện bất lợi. Tác giả tham khảo các hướng dẫn kỹ thuật bón phân lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp (1994), Cục Khuyến nông Khuyến lâm (1998) và tiếp cận nguyên lý bón phân qua hai con đường theo Võ Minh Kha: hấp thụ qua hệ thống rễ (tế bào lông hút) và hấp thụ qua bề mặt lá (phun dung dịch dinh dưỡng qua khí khổng).
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm phương pháp kế thừa tài liệu và phương pháp thực nghiệm lâm sinh. Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) gồm 7 công thức và 3 lần nhắc lại (tổng cộng 21 ô thí nghiệm, các ô cách nhau 10 cm). Quy mô mỗi công thức gồm 90 cây (30 cây/ô tiêu chuẩn), tổng dung lượng mẫu theo dõi sinh trưởng là 630 cây.
Cụ thể hai hệ thống thí nghiệm gồm:
- Thí nghiệm 1 (Bón phân qua rễ, định kỳ 10 ngày/lần, nồng độ dung dịch 0,3% tương đương 6,12 g phân hòa tan với 2,04 lít nước tưới cho 30 bầu):
- CT1: Phân NPK Lâm Thao (5% N, 10% $P_2O_5$, 3% $K_2O$, $S \ge 8%$).
- CT2: Phân Đầu Trâu NPK 20-20-15+TE (20% N, 20% $P_2O_5hh$, 15% $K_2O$, 0,5% S, 0,35% MgO và vi lượng Fe, Cu, Zn, B).
- CT3: Phân sunfat đạm (20–21% N, 29% S).
- CT4: Công thức đối chứng (không bón phân).
- Thí nghiệm 2 (Bón phân qua lá, phun sương ướt đẫm thân lá định kỳ 10 ngày/lần):
- CT1: Phân bón lá ARROW HQ.204 (Mg 0,2%, Mn 0,2%, Fe 0,15%, Zn 0,1%, Cu 0,1%, Vitamin E 0,05%, Vitamin B1 0,05%, Vitamin C 0,01%; liều lượng 25 g/18–20 lít nước).
- CT2: Phân bón lá KOMIX (MgO 25%, S 20% và phụ gia; liều lượng 50 g/25–50 lít nước).
- CT3: Phân bón lá Đầu Trâu 502 NPK 30-12-10+TE (N 30%, $P_2O_5$ 12%, $K_2O$ 10%, TE và chất điều hòa sinh trưởng NAA, GA3; liều lượng 10 g/10–12 lít nước).
- CT4: Công thức đối chứng (không phun phân).
Nguồn dữ liệu thực nghiệm thu thập từ đo đếm trực tiếp chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao và đường kính cổ rễ ($D_{00}$) bằng thước pan-me có độ chính xác 0,1 mm tại thời điểm kết thúc đợt gieo ươm. Số liệu được tổng hợp và phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA Single Factor) trên phần mềm Microsoft Excel. Sai khác giữa các công thức được kiểm định thông qua tiêu chuẩn sai dị bảo đảm nhỏ nhất LSD (Least Significant Difference) ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ với bậc tự do $df = 8$ ($t = 2,31$). Tiêu chuẩn cây con xuất vườn được tổng hợp từ tỷ lệ phần trăm cây sinh trưởng tốt cộng với cây trung bình.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ giá trị kinh tế của gỗ Sa mộc dầu và thực trạng cạn kiệt tài nguyên rừng tự nhiên. Tác giả nhấn mạnh chất lượng cây giống tại vườn ươm có ý nghĩa quyết định đối với tỷ lệ thành rừng và tốc độ tăng trưởng của rừng trồng. Phần này xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, phân tích ý nghĩa học tập, nghiên cứu khoa học của sinh viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, cùng ý nghĩa thực tiễn trong công tác nhân giống, bảo tồn nguồn gen và tối ưu hóa chi phí sản xuất cây giống lâm nghiệp.
Phần II: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng hợp các nghiên cứu trong nước và quốc tế về kỹ thuật sử dụng phân bón cho cây trồng nói chung và cây lâm nghiệp nói riêng, dẫn chứng các mô hình quản lý nitơ của Đại học UC Davis (Hoa Kỳ) và các công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Công Đãng tại Việt Nam. Tác giả mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên: địa hình đồi bát úp (độ dốc 10–15°, độ cao 50–70 m), nhiệt độ trung bình 25 °C (tháng nóng nhất 28,9 °C, tháng lạnh nhất 15,2 °C, nhiệt độ cực trị 41,5 °C và 3 °C), lượng mưa trung bình 2.500 mm/năm. Đất vườn ươm là đất feralit trên sa thạch, có độ chua cao ($pH_{KCl}$ ở tầng 10–30 cm cao nhất đạt 3,9) và nghèo dinh dưỡng (hàm lượng mùn tầng 1–10 cm chỉ đạt 1,7%). Về đặc tính sinh thái, Sa mộc dầu ưa khí hậu ôn hòa (nhiệt độ thích hợp 16–19 °C, lượng mưa 1.400–1.900 mm/năm, độ ẩm không khí >75%), đất rừng dày, ẩm và thoát nước tốt, giai đoạn non cần che bóng nhẹ.
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Tác giả thiết lập hệ thống phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đồng bộ. Nội dung mô tả chi tiết quy trình chuẩn bị vật tư, dụng cụ, công thức thành phần và đơn giá từng loại phân bón (NPK Lâm Thao 5.000 đ/kg, sunfat đạm 7.000 đ/kg, Đầu Trâu 20-20-15 giá 13.000 đ/kg). Quy trình kỹ thuật vườn ươm được mô tả từ xử lý kích thích hạt (ngâm nước ấm 60 °C tỷ lệ 2 sôi 3 lạnh để nguội dần trong 4 giờ, rửa chua hàng ngày đến khi nứt nanh), kỹ thuật đóng bầu polyetylen, cấy mầm sâu 1–1,5 cm, làm dàn che nắng 50% (dỡ dần khi cây cao 5–10 cm), tưới nước 3–5 lít/$m^2$ và nhổ cỏ phá váng định kỳ 10–15 ngày/lần. Phương pháp thống kê trình bày đầy đủ các công thức tính trung bình, phân tích phương sai ANOVA một nhân tố, kiểm định giả thuyết $H_0$, tra bảng Fisher và công thức tính chỉ số LSD so sánh từng cặp.
Phần IV: Kết quả và phân tích kết quả
Chương IV trình bày số liệu thực nghiệm chi tiết qua các bảng thống kê và biểu đồ phân tích phương sai:
- Ảnh hưởng của phân bón qua rễ: Tăng trưởng chiều cao vút ngọn trung bình ($H_{vn}$) đạt cao nhất ở CT1 (phân NPK) với 5,203 cm, tiếp theo là CT2 (Đầu Trâu) đạt 4,862 cm, CT3 (sunfat đạm) đạt 4,575 cm và thấp nhất ở đối chứng CT4 đạt 3,864 cm. Phân tích ANOVA cho thấy giá trị $F_{tính} = 223,792$ vượt trội so với $F_{bảng} = 4,066$ ($P = 4,71 \times 10^{-8}$), khẳng định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Về đường kính cổ rễ ($D_{00}$), CT1 đạt cao nhất với 1,887 mm, CT2 đạt 1,675 mm, CT3 đạt 1,546 mm và CT4 đạt 1,277 mm ($F_{tính} = 368,804 > F_{bảng} = 4,066$). Tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn của các công thức bón qua rễ lần lượt là CT1 (81,11%), CT2 (75,54%), CT3 (74,44%) và CT4 (52,22%).
- Ảnh hưởng của phân bón qua lá: Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt cao nhất ở CT1 (HQ.204) với 5,068 cm, kế tiếp là CT2 (KOMIX) đạt 4,765 cm, CT3 (Đầu Trâu 502) đạt 4,413 cm và CT4 (đối chứng) đạt 3,864 cm. Tỷ lệ tăng trưởng ở tất cả công thức bón lá đều cao hơn đối chứng rõ rệt.
Phần V: Kết luận – Kiến nghị
Phần cuối rút ra kết luận khoa học về hiệu lực của phân bón đối với sinh trưởng cây Sa mộc dầu ở vườn ươm, chỉ định rõ công thức bón qua rễ có hiệu quả kỹ thuật vượt trội là phân NPK nồng độ 0,3% và công thức bón lá thích hợp nhất là phân bón lá ARROW HQ.204. Tác giả kiến nghị đưa các công thức này vào quy trình sản xuất giống thực tiễn và mở rộng phạm vi nghiên cứu ở các giai đoạn tuổi lớn hơn ngoài thực địa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận thu thập và kiểm định hệ thống số liệu sinh trưởng thực nghiệm của cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm qua bảng tổng hợp sau:
| Thí nghiệm |
Công thức thí nghiệm |
Loại phân bón sử dụng |
Chiều cao $H_{vn}$ (cm) |
Đường kính $D_{00}$ (mm) |
Tỷ lệ xuất vườn (%) |
| Bón qua rễ |
Công thức 1 |
NPK Lâm Thao (nồng độ 0,3%) |
5,203 |
1,887 |
81,11 |
|
Công thức 2 |
NPK Đầu Trâu 20-20-15+TE |
4,862 |
1,675 |
75,54 |
|
Công thức 3 |
Sunfat đạm |
4,575 |
1,546 |
74,44 |
|
Công thức 4 |
Đối chứng (không bón) |
3,864 |
1,277 |
52,22 |
| Bón qua lá |
Công thức 1 |
Phân ARROW HQ.204 |
5,068 |
— |
— |
|
Công thức 2 |
Phân KOMIX |
4,765 |
— |
— |
|
Công thức 3 |
Đầu Trâu 502 (30-12-10+TE) |
4,413 |
— |
— |
|
Công thức 4 |
Đối chứng (không phun) |
3,864 |
— |
— |
Kết quả chính của đề tài chứng minh:
- Bón phân qua rễ: Công thức 1 (bón phân NPK nồng độ 0,3%, định kỳ 10 ngày/lần, lượng bón 6,12 g phân/2,04 lít nước cho 30 cây) đem lại tốc độ tăng trưởng vượt trội nhất cả về chiều cao (5,203 cm) và đường kính cổ rễ (1,887 mm). Giá trị kiểm định sai dị bảo đảm nhỏ nhất ($LSD_{Hvn} = 0,1193$; $LSD_{D00} = 0,042$) chứng minh hiệu quả sinh trưởng của CT1 có sai khác thực sự so với các công thức còn lại.
- Chất lượng cây con: Công thức 1 bón qua rễ đạt tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn cao nhất (81,11%, gồm 45,56% cây tốt và 35,55% cây trung bình; tỷ lệ cây xấu và chết là 18,89%), chênh lệch rõ rệt so với công thức đối chứng không bón phân (chỉ đạt 52,22% cây đủ tiêu chuẩn, tỷ lệ cây xấu và chết lên tới 47,78%).
- Bón phân qua lá: Phân bón lá ARROW HQ.204 cho kết quả tăng trưởng chiều cao tốt nhất (5,068 cm), kế đến là phân KOMIX (4,765 cm) và Đầu Trâu 502 (4,413 cm).
Về giải pháp kỹ thuật, tác giả khuyến nghị quy trình xử lý hạt giống Sa mộc dầu bằng nước ấm 60 °C (2 sôi 3 lạnh) ngâm trong 4 giờ và ủ nứt nanh; sử dụng phân bón NPK Lâm Thao pha nồng độ 0,3% để tưới rễ định kỳ 10 ngày/lần kết hợp che phủ dàn che sáng 50% ở giai đoạn mầm. Đóng góp khoa học của đề tài là cung cấp các dẫn liệu thực nghiệm định lượng cụ thể về sinh trưởng của loài cây bản địa quý hiếm Sa mộc dầu trong điều kiện lập địa vườn ươm Thái Nguyên, hỗ trợ hoàn thiện quy trình kỹ thuật tạo cây con phục vụ trồng rừng bảo tồn loài.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện đề tài:
- Thời gian nghiên cứu ngắn (kéo dài trong 6 tháng, từ tháng 11/2014 đến tháng 05/2015, thời gian trực tiếp đo đếm sinh trưởng thực tế khoảng 5 tháng), do đó kết quả chỉ phản ánh được giai đoạn vườn ươm ban đầu khi cây con đạt chiều cao từ 3,8 cm đến 5,2 cm.
- Nguồn kinh phí và điều kiện cơ sở vật chất phục vụ nghiên cứu còn hạn chế; thí nghiệm chỉ triển khai đơn lẻ tại một địa điểm (vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) với nền đất feralit nghèo dinh dưỡng cố định, chưa có điều kiện khảo nghiệm trên các nền giá thể ruột bầu khác nhau.
Về hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:
- Cần tiếp tục theo dõi sinh trưởng của cây con Sa mộc dầu trong thời gian nuôi dưỡng kéo dài hơn tại vườn ươm cho đến khi cây đạt kích thước thành thục xuất vườn hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn ngành lâm nghiệp.
- Tiếp tục khảo nghiệm phối hợp đồng thời giữa phương pháp bón phân qua rễ và bón qua lá với các dải nồng độ khác nhau nhằm tìm ra công thức tối ưu hóa chi phí và năng suất cây con.
- Đưa cây con sau giai đoạn vườn ươm ra trồng khảo nghiệm tại các lập địa tự nhiên hoặc rừng trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc để theo dõi tỷ lệ sống và khả năng thích ứng thực tế ngoài hiện trường.
Giá trị tham khảo
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thùy là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích đối với:
- Giảng viên, sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Lâm nghiệp, Nông lâm kết hợp, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học trong việc nghiên cứu phương pháp bố trí thí nghiệm lâm sinh theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) và xử lý phân tích phương sai ANOVA một nhân tố bằng Microsoft Excel.
- Cán bộ kỹ thuật và công nhân tại các vườn ươm lâm nghiệp, các ban quản lý rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đang thực hiện các dự án bảo tồn và nhân giống các loài thực vật quý hiếm bản địa.
Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản gồm:
- Quy trình kích thích nảy mầm hạt giống Sa mộc dầu (nhiệt độ nước ngâm 60 °C, kỹ thuật rửa chua và ủ mầm) tại [Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu].
- Bảng tổng hợp công thức, nồng độ pha chế phân bón qua rễ và phân bón lá (NPK 0,3%, liều lượng 6,12 g/2,04 lít nước cho 30 bầu) tại [Bảng 3.1 và Bảng 3.3].
- Hệ thống bảng số liệu ANOVA một nhân tố và bảng sai dị từng cặp LSD chứng minh tác động sinh trưởng của phân NPK và phân Đầu Trâu tại [Bảng 4.3, 4.4, 4.7 và 4.8].
Câu hỏi thường gặp
Hạt giống Sa mộc dầu trong nghiên cứu được xử lý kích thích nảy mầm theo phương pháp nào?
Hạt giống sau khi loại bỏ tạp chất và hạt lép thối được ngâm trong nước ấm 60 °C (pha theo tỷ lệ 2 phần nước sôi 3 phần nước lạnh), để nguội dần trong 4 tiếng. Sau đó vớt ra để ráo, ủ trong túi vải hoặc cát ẩm, hàng ngày rửa chua bằng nước sạch cho đến khi hạt nứt nanh thì đem cấy vào bầu đất ở độ sâu 1–1,5 cm.
Liều lượng và nồng độ bón phân qua rễ cho cây con Sa mộc dầu ở thí nghiệm 1 được áp dụng cụ thể ra sao?
Các công thức bón qua rễ (CT1, CT2, CT3) đều được áp dụng ở nồng độ dung dịch 0,3% (pha 0,3 kg phân trong 100 lít nước sạch). Định kỳ bón 10 ngày một lần. Lượng dung dịch tưới tính toán cho một ô thí nghiệm 30 cây (30 bầu) là 6,12 g phân hòa tan trong 2,04 lít nước.
Đặc điểm thổ nhưỡng tại khu vực vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên trong nghiên cứu có tính chất gì?
Đất vườn ươm là đất feralit phát triển trên nền đá mẹ sa thạch, có độ phì nhiêu kém, nghèo mùn và dinh dưỡng. Theo phân tích mẫu đất, hàm lượng mùn ở tầng 1–10 cm chỉ đạt 1,7%, còn độ chua rất cao khi độ pH ở tầng đất sâu 10–30 cm cao nhất cũng chỉ đạt 3,9.
Loại phân bón nào đem lại tốc độ tăng trưởng đường kính cổ rễ và tỷ lệ xuất vườn cao nhất cho cây Sa mộc dầu?
Phân NPK Lâm Thao (Công thức 1 trong thí nghiệm bón qua rễ) mang lại hiệu quả cao nhất: đường kính cổ rễ bình quân đạt 1,887 mm (so với đối chứng là 1,277 mm) và tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn đạt 81,11% (so với đối chứng chỉ đạt 52,22%). Phân tích thống kê cho thấy sai khác này có ý nghĩa ở mức xác suất $P = 6,52 \times 10^{-9}$.
Các loại phân bón lá được thử nghiệm trong đề tài gồm những loại nào và công thức nào cho sinh trưởng chiều cao tốt nhất?
Ba loại phân bón lá được thử nghiệm gồm phân ARROW HQ.204 (CT1), phân KOMIX (CT2) và phân Đầu Trâu 502 (CT3), đối chứng CT4 không phun. Kết quả cho thấy phân bón lá ARROW HQ.204 cho chiều cao vút ngọn trung bình tốt nhất, đạt 5,068 cm.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thùy đã giải quyết đầy đủ hai mục tiêu nghiên cứu thông qua việc thiết lập thí nghiệm lâm sinh chuẩn tắc và kiểm định thống kê toán học chặt chẽ trên đối tượng cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm. Các dẫn liệu định lượng khẳng định việc bón bổ sung phân NPK Lâm Thao qua rễ ở nồng độ 0,3% và phun phân bón lá ARROW HQ.204 định kỳ 10 ngày/lần giúp cải thiện rõ rệt chiều cao vút ngọn, đường kính cổ rễ và nâng tỷ lệ cây xuất vườn lên 81,11%. Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thông số kỹ thuật thực nghiệm thiết thực, đóng góp vào công tác nhân giống, gieo ươm và bảo tồn nguồn gen loài cây lá kim quý hiếm Sa mộc dầu tại Việt Nam.