CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Chè là cây trồng có giá trị kinh tế, chính vì vậy trong những năm gần đây cây chè luôn được quan tâm và đầu tư phát triển trên mọi phương diện nhằm khuyến khích người trồng chè, tăng thu nhập cho người sản xuất. - Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu: + Trung Quốc là nước đầu tiên chế biến chè để uống. Sau đó nhờ những đặc tính tốt của nó, chè trở thành thức uống phổ biến trên thế giới.
Ngày nay, chè được phổ biến rộng rãi hơn cả cà phê, rượu vang và ca-cao. Tác dụng chữa bệnh và chất dinh dưỡng của nước chè đã được các nhà khoa học xác định như sau: + Cafein và một số hợp chất ancaloit khác có trong chè là những chất có khả năng kích thích hệ thần kinh trung ương, kích thích vỏ đại não làm cho tinh thần minh mẫn, tăng cường sự hoạt động của các cơ trong cơ thể, nâng cao năng lực làm việc, giảm bớt mệt mỏi sau những lúc làm việc căng thẳng. + Hỗn hợp tanin trong chè có khả năng giải khát, chữa một số bệnh đường ruột như tả, lỵ, thương hàn. Nhiều thầy thuốc còn dùng nước chè, đặc biệt là chè xanh để chữa bệnh sỏi thận, sỏi bàng quang và chảy máu dạ dày.
Theo xác nhận của Mgaloblisvili và các cộng tác viên đã xác định ảnh hưởng tích cực của nước chè xanh tới tình trạng chức năng của hệ thống tim mạch, sự cản các mao mạch, trao đổi muối - nước, tình trạng của chức năng hô hấp ngoại vi, sự trao đổi vitamin C, trạng thái chức năng của hệ thống điều tiết máu. + Chè còn chứa nhiều loại vitamin như vitamin A, B1, B2, B6, vitamin PP và nhiều nhất là vitamin C [13],[23]. - Chè là một cây công nghiệp lâu năm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, cho hiệu quả kinh tế cao. Chè trồng một lần, có thể thu hoạch 30- 40 năm hoặc lâu hơn nữa.
Vào thời kỳ kinh doanh sản lượng, chất lượng chè phụ thuộc nhiều vào các biện pháp kỹ thuật đặc biệt là phương pháp dinh dưỡng (phương pháp bón phân) [13]. 5 - Chè là cây trồng mà sản phẩm của nó có giá trị hàng hóa và giá trị xuất khẩu cao, thị trường tiêu thụ ổn định, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao. Theo thống kê của FAO trong những năm gần đây Việt Nam xuất khẩu hàng trăm nghìn tấn chè với tổng giá trị hàng trăm triệu đô la. - Chè là cây xóa đói giảm nghèo, trước đây gọi là cây “làm giầu” của nông dân hiện nay.
Theo đánh giá của cơ quan chuyên môn, năm 2005, giá trị sản xuất bình quân trên một đơn vị diện tích từ cây chè đạt 16 triệu đồng/ha; đến năm 2009 đã đạt bình quân gần 60 triệu đồng/ha. Chính vì thế trồng chè đã trở thành nghề truyền thống của nhiều địa phương. Tuy nhiên, năng suất và chất lượng chè còn phụ thuộc khá nhiều vào điều kiện khí hậu, đất đai, phân bố theo từng vùng, cũng như các biện pháp kỹ thuật tác động của con người đặc biệt là kỹ thuật bón phân [13],[14],[16]. Nguồn gốc của cây chè Nguồn gốc của cây chè là vấn đề phức tạp vì cây chè vốn đã được biết đến cách đây 4000 - 5000 năm gắn bó với biết bao thế hệ của nhiều dân tộc.
Là đề tài của nhiều nhà khoa học đã và đang nghiên cứu, chè không những đem lại lợi ích to lớn trong lĩnh vực kinh tế nông, lâm nghiệp mà còn có ý nghĩa về lịch sử văn minh, văn hoá của toàn dân tộc [16]. Cũng vì đem lại nhiều ý nghĩa to lớn nên cây chè từ lâu vẫn được coi là một trong những căn cứ khoa học, để xác định trung tâm nguồn gốc của cây trồng, để phản ánh văn minh của loài người. Nguồn gốc cây chè được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rất sớm. Tuy nhiên, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những cơ sở về lịch sử, khảo cổ học và thực vật học.
Một số quan điểm được nhiều người công nhận nhất là: - Cây chè có nguồn gốc ở Vân Nam – Trung Quốc (Carl von linacus – 1973; Đào Thừa Trân – 1951). - Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam (Ấn Độ) (Bruce-1923). - Cây chè có nguồn gốc ở Việt Nam (Djemkhatde-1961, 1971) - Các quan điểm tuy khác nhau về địa điểm nhưng đều thống nhất là cây chè có nguồn gốc ở Châu Á, nơi có điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều [13],[16],[23]. Phân loại cây chè Cây chè nằm trong hệ thống phân loại thực vật sau: - Ngành hạt kín: Angiosepermae.
- Lớp 2 lá mầm: Dicotyleonae. - Bộ chè: Theales. - Họ chè: Thea ceae. - Chi chè: Camellia (Thea).
- Loài Camellia: Sinensis. Cây chè được chia thành những thứ chè (Varietas) căn cứ vào đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh lý, sinh hoá và tính chống chịu,. có nhiều cách phân loại nhưng bảng phân loại nhà Bác học Hà Lan Cohen Stuar - 1916 được nhiều người công nhận. Cohen Stuar đã chia chè ra làm 4 thứ sau đây: Hiện nay, cả 4 thứ chè trên đều đã được trồng ở Việt Nam nhưng phổ biến hơn cả là 2 thứ chè Trung Quốc lá to (chè Trung Du xanh) và chè Shan [16].
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis Var Macrophylla): Có đặc điểm thân gỗ nhỡ cao tới 4 - 5m, lá to trung bình màu xanh nhạt, búp to hoa quả nhiều, khả năng chịu rét kém. - Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Var Bohea): có đặc điểm thân bụi thấp, phân cành nhiều, búp nhỏ mù xoè nhanh năng suất không cao, phẩm chất bình thường, nhiều hoa quả, khả năng chống chịu tốt, có thể chịu rét từ -120c đến - 150c. - Chè Ấn Độ (Camellia Sinensis Var Atxamica): Có đặc điểm là cây thân gỗ cao to trong điều kiện tự nhiên có thể cao 16 - 17 m phân cành thưa, búp to cho năng xuất cao thích hợp cho cả chế biến chè xanh và chè đen. Không chịu được rét, hạn, ít hoa quả.
- Chè Shan ( Camellia sinensis Var shan): có đặc điểm là cây thân gỗ to, cao 10-15m, lá thuôn dài, phân cành thưa, phiến lá to xanh, cho năng suất cao, chất lượng tốt, làm chè đen, chè xanh chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn xuất khẩu. Chịu rét khá, ưa đất tốt. Sự phân bố của cây chè Sự phân bố của cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự nhiên, khí hậu. Kết quả nghiên cứu đều đi đến kết luận chung: vùng khí hậu thích hợp của cây chè là vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới.
Cây chè phân bố chủ yếu ở Châu Á, cụ thể là Ấn Độ, Srilanca, Inđônêxia và Việt Nam. Nơi có điều kiện khí hậu nóng và ẩm. Tuy nhiên cho đến nay trong quá trình trồng trọt, nhờ tiến bộ của khoa học kỹ thuật như chọn giống, quá trình canh tác. Cây chè đã được trồng ở khắp các châu lục từ 42 vĩ độ Bắc (Pochi - Liên Xô cũ) đến 27 vĩ độ Nam.
Cây chè phân bố chủ yếu theo độ cao thấp so với mực nước biển đã tạo nên các vùng chè, giống chè và chất lượng chè khác nhau. Các nhà khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đều khẳng định rằng: Những giống chè sinh trưởng tốt ở nơi cao so với mực nước biển lớn, đều có chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm tốt hơn những giống chè được trồng ở vùng thấp [13],[24]. Yêu cầu sinh thái Cây chè chịu ảnh hưởng rất lớn do tác động của các điều kiện sinh thái trong quá trình sống của nó. Nguyên sản của cây chè ở vùng khí hậu rừng á nhiệt đới.
Cây chè cho đến nay đã được phân bố khá rộng rãi từ 30 vĩ tuyến nam đến 45 vĩ tuyến bắc, là những nơi có điều kiện tự nhiên khác xa với nơi nguyên sản. Trong những điều kiện như vậy, muốn cho cây chè sinh trưởng bình thường và có năng suất phẩm chất tốt phải có trình độ khoa học cao trong canh tác. Tổng hợp các điều kiện ngoại cảnh và biện pháp kỹ thuật là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến năng suất, phẩm chất chè [16],[26]. Vì vậy, xét đến điều kiện sinh thái của cây chè là đề cập đến những điều kiện sống thích hợp nhất về các mặt.
Nắm vững những yêu cầu cụ thể về sinh thái cũng như khả năng thích ứng của cây chè với điều kiện tự nhiên, là một trong những cơ sở khoa học để xác định những biện pháp kỹ thuật trồng trọt thích hợp. Điều kiện đất đai, dinh dưỡng và địa hình. So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm. Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt những yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước.
Độ PH thích hợp 8 cho chè phát triển là 4,5 - 6,0. Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường. - Quan hệ giữa đất và phẩm chất chè rất phức tạp. Phẩm chất do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp.
Song trong những điều kiện nhất định thì điều kiện dinh dưỡng của đất có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy: chè sinh trưởng trên loại đất pha cát, nhiều mùn, thích hợp cho việc chế biến chè xanh: mùi vị hương của chè thành phẩm đều tốt. Chè trồng trên đất nặng màu vàng thì có vị đắng và nước có màu vàng. Chè trồng trên đất xấu hương không thơm, vị nhạt và chất hòa tan ít [13],[29].
Chè cần rất nhiều chất dinh dưỡng, mỗi chất có vai trò quan trọng nhất định với sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng chè. - Đạm (N): Là thành phần của chất hữu cơ, diệp lục tố, nguyên sinh chất, axit nucleic, protein. Đạm giúp tăng chiều cao cây, ra nhiều lá và búp mới, tăng năng suất chè. Thiếu đạm cây sinh trưởng phát triển kém, ít nảy đọt, búp non có màu xanh nhạt, xanh vàng đến ửng đỏ, năng suất thấp.
- Lân (P): Là thành phần của phosphatides, axit nucleic, protein… quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng và protein. Lân cần thiết cho sự phát triển của bộ rễ, kích thích chồi mới, tăng khả năng chịu hạn, tăng tuổi thọ của cây, tăng năng suất và lượng đường hòa tan và tanin, tăng chất lượng chè. Thiếu lân lá có màu xanh đục mờ không sáng bóng, thân cây mảnh, rễ kém phát triển, khả năng hấp thu đạm kém.