Đặt vấn đề Tre - trúc là tập hợp các loài thực vật thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, hoặc còn gọi là Gramineae). Các loài tre trúc rất phong phú, đa dạng, phân bố rộng khắp trên thế giới, đặc biệt là ở Châu Á. Tre trúc dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm cho khai thác, dễ chế biến nên được sử dụng cho rất nhiều mục đích khác nhau. Tre trúc có giá trị rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân và đời sống nhân dân, đặc biệt là nông dân nông thôn và miền núi [4].
Tre - trúc là lâm sản ngoài gỗ có rất nhiều công dụng, có thể nói từ thân, gốc, rễ, lá, quả đều được sử dụng triệt để, bộ phận được sử dụng rộng rãi đó là thân khí sinh. Do thân khí sinh của tre - trúc có nhiều đặc tính tốt nên sử dụng trong xây dựng nhà cửa, dùng làm đồ gia dụng., Hiện nay công nghiệp phát triển, tre - trúc là nguồn nguyên liệu qúy giá cho sản xuất giấy cao cấp, ván sàn, ván ép, đồ mộc cao cấp, chiếu trúc, than hoạt tính, thủ công mỹ nghệ…, thân tre – trúc được Cacbon hoá có nhiều ứng dụng như làm chất khử mùi, điều độ ẩm, chặn súng hồng ngoại, ngăn cản điện từ. Nhiệt lượng 1 kg than hoạt tính có thể đạt 7.703 kcal/kg cao hơn so với than hoạt tính gỗ, thân có khả năng lọc nước tốt. Lá một số loài tre – trúc có thể xuất khẩu, lá dùng để chế biến thuốc kháng sinh chống một số bệnh như cảm, cúm… Ở Việt Nam có 10 loài tre - trúc cho măng ăn ngon (Mai ống, Luồng, Lồ ô, Là ngà, Trúc sào, Vầu đắng, Tre gầy…).
Tuy nhiên, các loài cho măng ngon năng suất cao, chất lượng tốt chưa được phát triển, việc khai thác măng chỉ dừng lại ở mức độ tận dụng [4]. Kỹ thuật gây trồng của tre, trúc đã và đang được quan tâm nghiên cứu và phát triển. Nhiều loài tre, trúc được nhân dân gây trồng để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảm xói mòn, chống sụt lở vùng đầu nguồn, ven sông suối, cung cấp nguyên liệu cho chế biến, thúc đẩy phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. 2 Loài Bương lông Điện Biên, còn có các tên gọi khác như Mạy púa mơi, Bương lớn, Bương lớn điện biên.
Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15 -20 m, đường kính gốc 20-25cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 – 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho chế biến sản phẩm rất cao. Mặt khác, hiện nay việc kinh doanh cây Bương lông Điện Biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương và điều kiện tự nhiên sẵn có là chính nên năng suất, chất lượng không cao. Vì vậy, việc gây trồng Bương lông Điện Biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật trồng,kỹ thuật chưa được quan tâm nghiên cứu vào gây trồng nên sản phẩm chưa đáp ứng được thị trường. Do đó, việc nghiên cứu được một số biện pháp kỹ thuật cũng như kế thừa kết quả nghiên cứu kỹ thuật gây trồngđã thành công cho một số loài tre , đă ̣c biê ̣t là các loài thuô ̣c chi Dendrocalamus vào nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và đánh giá những kiến thức địa phương có giá trị kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần được nghiên cứu thử nghiệm cho cây Bương lông Điện Biên.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, được sự cho phép của Ban Giám hiệu và Ban chủ nhiệm khoa Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ của Ban Giám đốc Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ. Đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của mật độ và phân bón đến sinh tƣởng của cây Bƣơng lông Điện Biên (Dendrocalamus giganteus) tại Đoan Hùng – Phú Thọ” đươ ̣c thực hiê ̣n là hết sức cần thiết , phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Góp phần bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật gây trồng cây Bương lông Điện Biên nhằm làm tăng giá trị kinh tế và tính ổn định của rừng, tạo thu nhập thường xuyên lâu dài cho người dân tại huyện Đoan Hùng và các vùng lân cận.
Mục tiêu cụ thể Xác định được một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Bương lông Điện Biên tại Đoan Hùng – Phú Thọ. Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật phù hợp cho gây trồng cây Bương lông Điện Biên tại Đoan Hùng – Phú Thọ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 1.
Ý nghĩa trong học tập - Quá trình thực hiện đề tài sẽ tạo cơ hội tiếp cận phương pháp nghiên cứu khoa học, giải quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn. - Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể. - Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học Góp phần bổ sung cơ sở khoa học về kỹ thuật gây trồng tre có năng suất chất lượng theo hướng gây trồng hiệu quả, sử dụng bền vững.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Bương lông Điện Biên tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Biện pháp kỹ thuật gây trồng tre, trúc đã và đang được quan tâm nghiên cứu và phát triển. Nhiều loài tre trúc được nhân dân gây trồng để phát triển kinh tế, đồng thời nâng cao độ che phủ, giảm xói mòn, chống sụt lở vùng đầu nguồn, vên sông suối, cung cấp nguyên liệu cho chế biến, thúc đẩy phát triển thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Đặc biệt, trong giai đoạn xây dựng nông thôn mới, việc phát triển vùng nguyên liệu tre, trúc theo quyết định số 11/2011/QĐ-TTg ngày 18 tháng 02 năm 2011 của thủ tướng Chính phủ cần được quan tâm nghiên cứu theo hướng phát triển bền vững. Loài Bương lông điên biên, còn có tên gọi khác như Bương lớn, Bương lớn điện biên, Mạy púa mơi (dân tộc Thái). Là một trong những loài tre có kích thước lớn nhất ở Việt Nam, chiều cao 15 – 20 m, đường kính gốc 20 – 25 cm, có vách dày, chiều dài đốt từ 25 – 30 cm, ít cành nhánh, khả năng cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến sản phẩm rất cao. Hiện nay, việc kinh doanh cây Bương lông Điện Biên vẫn theo hướng quảng canh, dựa vào kinh nghiệm của người dân địa phương.
Đặc biệt việc phát triển mở rộng diện tích trồng loài cây này rất khó khăn do thiếu kỹ thuật gây trồng. Mặt khác, việc gây trồng Bương lông Điện Biên còn thiếu hướng dẫn kỹ thuật trồng rừng, kỹ thuật và công nghệ chế biến chưa được quan tâm nghiên cứu. Do đó, việc kế thừa kết quả nghiên cứu kỹ thuật gây trồng đã thành công cho một số loài tre, đặc biệt là các loài thuộc họ chi Dendrocalamus vào nghiên cứu kỹ thuật gây trồng và tổng kết những kinh nghiệm của người dân cũng như kết hợp với kỹ thuật hiện đại cần được nghiên cứu thử nghiệm cho cây Bương lông Điện Biên. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Tre trúc bao gồm những loài thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae). Trên thế giới có khoảng 500 loài tre. Riêng Việt Nam có khoảng trên 200 loài, phân bố ở hầu hết các tỉnh trong phạm vi toàn quốc. Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước vùng phía nam và Đông Nam Á.
Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời để tạo ra hàng trăm sản phẩm phục vụ thiết thực cho đời sống hàng ngày. Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo. Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng, kiến trúc, giao thông vận tải,. Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon, đã trở thành đối tượng cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị.
Các sản phẩm từ tre trúc không còn bó hẹp trong biên giới của một số quốc gia mà đã có mặt ngày càng nhiều trên thị trường quốc tế và được nhiều nước châu Âu, châu Mỹ ưa chuộng. Chính vì, vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này, tre trúc đã được nghiên cứu từ lâu đời về nhiều mặt như: chọn giống, kỹ thuật trồng, khai thác, sử dụng. Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo mục đích sử dụng nhất định. Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và năng suất của các loài tre ở Thái Lan cho rằng: sử dụng hỗn hợp phân NPK 15:15:15 có hiệu quả rõ rệt đến năng suất của các loài Thyrsostachys siumensis, Dendrocalamus asper, Bambusa.
Bón 100 kg NPK/ha sẽ đủ để tăng năng suất và bón 200 kg NPK/ha là thích hợp (W. 6 Sau 10 năm tập trung nghiên cứu, đã tiến hành thống kê số măng bị thui hàng năm ở rừng Trúc sào (Phyllostachys edulis) chiếm 60-80%, Phyllostachys reticulata 30 - 50% và đề cập đến vấn đề khai thác tận dụng măng và áp dụng biện pháp bón phân để tăng số lượng và kích thước của thân khí sinh (Koichiro Ueda, 1960) [17]. Đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón phân một cách hợp lý tuỳ thuộc vào loài nhất định (Victor Cusack, 1997) [20]. Xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: độ ẩm, độ cao, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.
Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng xuất măng và thân khí sinh (Fu Maoyi, Xiao Jianghua, 1996) [16]. Khi nghiên cứu xử lý lâm sinh cho rừng tre Bambusa blumeana và Dendrocalamus asper 9 và 11 tuổi cho rằng tiến hành làm sạch gốc phủ chất hữu cơ, bón phân và duy trì 4 cây 1 tuổi + 4 cây 2 tuổi + 4 cây 3 tuổi + 4 cây 4 tuổi/búi (4-4-4-4, tổng số 16 cây/búi) ở rừng Bambusa blumeana sẽ cho sản lượng thân khí ổn định và chất lượng cao nhất. Còn đối với rừng D.