Đặt vấn đề Mè (tên khoa học là Sesamum indicum L.) còn gọi là vừng, là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn ngày có giá trị dinh dưỡng cao và được biết đến như một loài cây lấy hạt có dầu quan trọng và lâu đời nhất trên thế giới, hạt vừng có hàm lượng dầu và protein cao. Hạt vừng chứa 45-55% dầu, 19-20% protein, 8-11% đường, 5% nước, 4-6% tro. Thành phần axít hữu cơ chủ yếu là 2 loại axít béo chưa no (Axít oleic C18H34O2:45,3-49,4%; axít linoleic C18H32O2: 37,7- 4,2%); hàm lượng axít có trong bột vừng và trong thịt (bảng 2. Ngoài ra hạt vừng chứa nhiều chất khoáng và năng lượng, vừng là loại dầu quý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực.
Bên cạnh đó cây vừng còn có giá trị dinh dưỡng, sinh lý học và dầu vừng có tính oxy hóa cao nên khó bị ôi so với các loài dầu khác. Dầu vừng chứa vitamin E và một vài chất chống ôxy hóa quan trọng khác. Các chất chống oxy hóa như sesaminol và sesamolinol duy trì các axít béo kể cả làm giảm mật độ lipoprotein. Tương tự, các chất chống oxy hoá như sesamolin và sesamol cũng đã tìm thấy trong dầu vừng.
Tác giả (Cooney và cộng sự trong năm 2001), [11] đã báo cáo rằng dầu vừng có chứa gamma tocopherol cùng với sự hoạt động của vitamin E được tin tưởng là ngăn ngừa bệnh ung thư và bệnh tim mạch. Cây mè có thời gian sinh trưởng ngắn (khoảng 70 – 90 ngày) thuận lợi trong tiêu dùng ở phạm vi nông hộ, đồng thời cũng là cây trồng “dễ tính”, ít đòi hỏi thâm canh, có khả năng tận dụng đất đai, mùa vụ, dễ tiêu thụ trên thị trường, thích hợp luân, xen canh và gối vụ. Trong đời sống hiện nay, dầu thực vật đã trở thành một nguyên liệu rất quan trọng cần thiết, là một trong những nguồn dinh dưỡng cải thiện sức khỏe con người và có nhu cầu ngày càng tăng. Diện tích trồng vừng năm 2013 của thế giới đạt 9,399 (triệu ha), năng suất đạt 5,061 (tạ/ha), năng suất đạt sản lượng 4,757 (triệu tấn).
Trong đó diện 1 2 tích trồng vừng của Việt Nam đạt 47 (nghìn ha), năng suất đạt 4,681 (tạ/ha), sản lượng đạt 22 (nghìn tấn). Điều này cho thấy cây vừng là một trong những cây công nghiệp có giá trị và có diện tích trồng vừng tương đối lớn so với các cây trồng khác theo (Fao. Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì mật độ đóng một vai trò rất quan trọng. Nếu trồng dày, số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp dẫn tới cây thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sang, ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá rụng nhiều, số hoa ít, số quả/cây ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ.
Ngược lại nếu trồng thưa diện tích dinh dưỡng của cây trồng rộng cây phân nhánh nhiều, số hoa và số quả/cây nhiều, khối lượng 1000 tăng nhưng trồng thưa mật độ thấp nên năng suất không cao. Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của vừng. Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng nếu gieo trồng đúng mật độ thích hợp thì sẽ cho năng suất cao. Thực tế trong sản xuất hiện nay diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ và manh mún, nên việc áp dụng khoa học tiến bộ như máy gieo vừng là không có.
Hơn thế nữa là những vùng chuyên canh, người dân chưa chú ý áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản suất còn làm theo kinh nghiệm truyền thống như gieo vãi, mà khồng để ý đến mật độ thích hợp cho từng giống cho từng mùa vụ. Dẫn đến tình trạng lãng phí về giống và không phát huy về tiềm năng năng suất của giống. Vì vậy việc xác định được mật độ gieo trồng thích hợp cho mỗi giống phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác là rất cần thiết. Từ đó cơ sở giúp người dân hiểu và áp dụng các mật độ thích hợp vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất.
Từ những nhận định trên chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của mật độ đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của giống vừng đen V10 vụ xuân năm 2015 tại trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp nhất cho giống vừng V10 trong điều kiện vụ xuân tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm tạo điều kiện cho giống sinh trưởng phát triển tốt nhất và đạt năng suất cao, ổn định. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống vừng đen V10 thí nghiệm trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. - Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giồng vừng đen V10.
Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học để áp dụng vào thực tiễn, tạo điều kiện cho sinh viên học hỏi thêm vốn kiến thức và kinh nghiệm trong sản xuất. - Trên cơ sở học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn đã giúp cho sinh viên nâng cao được chuyên môn, nâng cao tay nghề, đồng thời rèn luyện thái độ làm việc nghiêm túc, tích lũy kinh nghiệm, có phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Sự thành công của đề tài này sẽ có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn sản xuất, góp phần đưa giống Vừng V10 ra sản xuất với mật độ thích hợp để đảm bảo năng suất, hiệu quả kinh tế cao, tăng thu nhập cho người dân. 3 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Nguồn gốc – phân loại đặc điểm thực vật 2. Nguồn gốc Hạt vừng được coi là loại hạt cho dầu lâu đời nhất của nhân loại. Cây vừng có nhiều loài, và những loài hoang dã được khai thác lâu đời nhất ở Châu Phi và Ấn Độ. Hồ sơ từ Babylon và Assyria có niên đại khoảng 4000 năm trước đây đã đề cập đến vừng.
Tàng tích hạt vừng rang thu hồi từ các cuộc khai quật khảo cổ học có niên đại khoảng 3500-3050 năm trước Công nguyên. Nhiều ý kiến cho rằng Etiopi là nguyên sản của giống vừng trồng hiện nay. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng vùng Afghan – Pesian mới là nguyên sản của các giống vừng trồng là loại cây có dầu được trồng lâu đời (khoảng 200 năm trước công nguyên). Sau đó được đưa vào vùng Tiểu Á (Babylon) và được di chuyển về phía tây – vào Châu Âu và phía nam vào Châu Á , Đến Ấn Dộ và một số nước Nam Á (Trung Quốc, Ấn Độ) được xem là trung tâm phân bố cây vừng (Ths.
Ma Thị Phương, 2014), [8], (Papyrus Ebers và cộng sự, 1608 -16/8/1661), [17] trong tác phẩm của mình đã đề cập đến mối giao dịch buôn bán hạt vừng giữa vùng Lưỡng Hà và khu vực mà hiện nay là Pakistan và Ấn Độ xảy ra vào năm 2000 trước Công nguyên. Một số báo cáo khác khẳng định cây vừng được trồng trong Ai Cập trong thời kỳ Ptolemiac. Các thư tịch cổ Ai Cập cho biết nhà Y học Papyrus Ebers (cách nay khoảng 3600 năm) cây vừng đã có tên là “sesemt” là một cây dùng làm thuốc chữa bệnh. Báo cáo khảo cổ học từ Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy cây vừng đã được trồng và ép để trích xuất dầu ít nhất 2750 năm trước đây trong đế chế của Urartu.
Cây vừng cổ đại được trồng rộng rải ở các khu vực khô hạn ở rìa sa mạc, nơi không có cây trồng khác phát triển được. Cây vừng đã được gọi là một cây trồng “sống sót”. 4 5 Đây là một cây được thuần hóa ở các vùng nhiệt đới khắp thế giới và được trồng để lấy hạt ăn do hạt có hàm lượng chất béo và chất đạm cao.ngoài ra vừng còn được dùng làm thuốc. Cây vừng rất chịu hạn, một phần do hệ thống rễ sâu rộng của nó.
Tuy nhiên, nó đòi hỏi phải có độ ẩm thích hợp cho sự nảy mầm và phát triển sớm. Độ ẩm trước khi trồng và thời kỳ ra hoa, đậu trái là quan trọng nhất. Ở Nam Mỹ, cây vừng được du nhập từ Châu Phi sau khi người Âu Châu khám phá ra ở Châu Mỹ vào năm 1492 (do Chritophecoloms, người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha) giới thiệu. Từ những năm 1950, cây vừng đã sản xuất mở rộng ở Mỹ phần lớn tập trung tại bang Texas với diện tích dao động từ 10.000 ha) trong những năm gần đây.
Tuy nhiên sản lượng hạt vừng ở Mỹ không đáp ứng kịp nhu cầu tiêu dùng trong nước, Mỹ phải nhập nhiều sản phẩm hạt vừng và dầu vừng ở nước ngoài, chủ yếu ở nam Mỹ. Phân loại Phân loại khoa học Giới(regnum) Plantae Ngành(divisio) Embryophyta Lớp(class) Spermatopsida Bộ (ordo) Malpighiales Họ(familia) Euphorbiaceae Chi(genus) Jatropha Loài (species) J. curcas Cây Vừng (Tên khoa học: Sesamum indicum L.) là cây hàng niên và là cây có dầu. Giống Vừng Sesamum có khoảng 30 loài khác nhau, nhưng loại được trồng phổ biến là Vừng trắng (Sesamum indicum 5 6 L.), và Vừng đen (Sesamum orientale L.
Thời gian sinh trưởng của cây Vừng từ 75 tới 150 ngày tuỳ theo giống, nhưng loại được trồng phổ biến ở Việt Nam và Campuchia có thời gian sinh trưởng từ 75 tối 100 ngày, với chiều cao cây từ 1 tới 2,0 mét. Cây Vừng bắt nguồn từ Trung Mỹ lan rộng tới các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới khác, mọc chủ yếu ở châu Á và châu Phi. Loài cây này được trồng làm hàng rào để bảo vệ các khu vườn và ruộng khỏi bị thú phá hoại. Cây Vừng chịu được độ khô hạn cao (thậm chí có thể sống được ở hoang mạc và do đó không cạnh tranh với các loài cây lương thực).
Cây Vừng cũng được biết đến như là một loại cây vua có dầu trong các loại cây có dầu. Vì hàm lượng dầu trong hạt rất cao, từ 50 tới 60% dầu trên trọng lượng hạt. Cây Vừng chịu hạn rất tốt và nó có thể trồng và sinh trưởng trên các loại đất khác nhau ở Việt Nam. Hạt vừng chứa dầu có thể được sử lý để tạo dầu diesel sinh học chất lượng cao, sử dụng cho các động cơ diesel tiêu chuẩn.
Trên thế giới Vừng Trắng (tên khoa học: Sesamun indicum linn) được trồng phổ biến. Có lượng nhiễm sắc thể 2n =26, ngoài ra còn có S capennsen; Salanum; S chenkii; S laniniatum có 2n = 64 (Phạm Đức Toàn, 2008), [3].