Đặt vấn Đề Vừng hay còn gọi là mè là một loại cây trồng đã có từ lâu đời. Có thể nói ở nước ta đâu đâu cũng có cây vừng do tính thích nghi rộng, dễ trồng, ít đòi hỏi nhiều vật tư phân bón nên nó đã từng có mặt trên các loại đất xám bạc màu, trên nhiều loại đất cằn cỗi thuộc nhóm đất đỏ vàng ở trung du miền núi, trên các bãi đất phù sa ven sông, trong các vườn cây công nghiệp chưa khép tán, trong các vườn cây ăn quả, vườn gia đình…Ngay trong thời kỳ mà lương thực còn khó khăn, mọi loại đất đều được dành cho lúa, ngô, khoai thì vừng lại tồn tại trên các bờ mương, trên các đám đất xấu quá không thể trồng được các loại cây trồng khác. Sở dĩ như vậy là do vừng là một trong những loại thực phẩm truyền thống được mọi người ưa thích. Xuất phát từ giá trị kinh tế và dinh dưỡng, cũng như yêu cầu của thị trường về những sản phẩm của cây có dầu.
Phát triển cây có dầu là một chiến lược quan trọng, nhằm tận dụng đất đai mùa vụ, hình thành các vùng sản xuất tập trung phát triển nhanh các loại cây có dầu, đồng thời đầu tư toàn bộ cho khâu chế biến đảm bảo tăng nhanh khối lượng chất lượng và giá trị sản phẩm, đáp ứng nhu cầu cải thiện đời sống của Nhân Dân và xuất khẩu. Tuy nhiên trong những năm qua tình hình sản xuất cây có dầu có nhiều biến động không ổn định. Trong các loại cây có dầu thì cây vừng là một loại cây ít được quan tâm bởi năng suất thấp nhu cầu tiêu thụ của sản phẩm thị trường còn hạn chế. Nhưng hiện nay các sản phẩm của cây vừng tăng đột biến của nghành công nghệ thực phẩm và nhu cầu của một số nghành khác như Y học, hóa mỹ phẩm.
Sản phẩm của cây vừng không chỉ dừng lại làm quà bánh và thức ăn của miền quê, vừng còn là nguồn dược liệu quý cho Y học. 2 Xuất phát từ nhu cầu thiết yếu để phục vụ cho thực tế sản xuất em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và phát triển của giống vừng 75/24 vụ xuân năm 2015 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên”. Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của giống vừng trong vụ xuân năm 2015 tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Đánh giá ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống.Mục tiêu Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp nhất cho giống vừng 75/24 trong điều kiện vụ xuân tại Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm tạo điều kiện cho cây vừng sinh trưởng, phát triển tốt nhất và đạt được năng suất cao, ổn định trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa các kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích lũy kinh nghiệm trong sản suất, tạo lòng yêu nghề nghiệp cho sinh viên. Giúp cho sinh viên nắm được các bước tiến hành một đề tài khoa học, phương pháp nghiên cứu thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. Là cơ sở khoa học xác định mật độ trồng thích hợp cho giống vừng thí nghiệm để đưa những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong thực tiễn sản xuất. Ý nghĩa sản xuất Thông qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đưa ra được mật độ trồng thích hợp nhất đối với giống vừng 75/24 trong vụ xuân tại Thái Nguyên từ đó khuyến cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Phát triển cây vừng một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất nông nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này không những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu về dài đây là cây trồng mang rất nhiều giá trị. Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn, giống, phân bón, giá cả… thì chúng ta cần có những biện phát kỹ thuật canh tác phù hợp trong sản xuất. Trong các yếu tố cấu thành năng suất thì mật độ đóng một vai trò rất quan trọng.
Nếu trồng dày, số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho một cây hẹp dẫn tới cây thiếu dinh dưỡng, thiếu ánh sáng, ít phân cành, sớm bị che phủ làm cho lá rụng nhiều, số hoa ít, số quả/ cây ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ. Ngược lại nếu trồng thưa diện tích dinh dưỡng của cây trồng rộng cây phân nhánh nhiều, số hoa và số quả/ cây nhiều, khối lượng 1000 tăng nhưng trồng thưa mật độ thấp nên năng suất không cao. Vì vậy gieo trồng với mật độ thích hợp là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để tăng năng suất và chất lượng nông sản. Xác định được mật độ gieo trồng thích hợp có ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất của vừng.
Nhiều thí nghiệm cho thấy rằng nếu gieo trồng đúng mật độ thích hợp thì sẽ cho năng suất cao. Thực tế trong sản xuất hiện nay diện tích trồng vừng còn nhỏ lẻ và manh mún, nên việc áp dụng khoa học tiến bộ như máy gieo vừng là không có. Hơn thế nữa là những vùng chuyên canh, người dân chưa chú ý áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất còn làm theo kinh nghiệm truyền thống như gieo vãi, mà không để ý đến mật độ thích hợp cho từng giống cho từng mùa vụ. Dẫn đến tình trạng lãng phí về giống và không phát huy về tiềm năng năng 4 suất của giống.
Vì vậy việc xác định được mật độ gieo trồng thích hợp cho mỗi giống phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện canh tác là rất cần thiết, từ đó cơ sở giúp người dân hiểu và áp dụng các mật độ thích hợp vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất. Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất cây trồng. Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức là giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây trồng khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được năng suất và sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích. Các nghiên cứu về ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng và phát triển của cây họ đậu tại Thái Nguyên: + Nghiên cứu về mật độ trồng của cây đậu tương vụ xuân năm 2012 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cho thấy giữa các mật độ 25 cây/m2, 35 cây/m2, 45 cây/m2, 55 cây/m2 và 65 cây/m2 thì mật độ thích hợp nhất và cho năng suất cao nhất đó là mật độ 35 cây/m2.
+ Nghiên cứu về mật độ trồng của cây lạc vụ xuân năm 2010 tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cho thấy giữa các mật độ 35 cây/m2, 45 cây/m2, 55 cây/m2 và 65 cây/m2 thì mật độ trồng thích hợp nhất và cho năng suất cao nhất là mật độ 45 cây/m2. + Nghiên cứu về mật độ trồng của cây vừng tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên năm 2013 vụ hè thu cho thấy giữa các mật độ 25 cây/m2, 35 cây/m2, 45 cây/m2 và 55 cây/m2 thì mật độ 35 cây/m2 cho năng suất cao nhất ở vụ hè thu. Như vậy cho thấy ở hầu hết các cây họ đậu có mật độ trồng cho năng suất cao nhất là từ 35 cây/m2 – 45 cây/m2.Giá trị dinh dƣỡng, nguồn gốc phân loại và đặc điểm thực vật học 2. Giá trị dinh dưỡng Cây vừng còn được mệnh danh là Hoàng hậu của các cây có dầu.
Hạt vừng đã được dùng làm thực phẩm cho người ăn sống, rang để ép dầu ăn, làm dầu thắp sáng, làm bánh kẹo, bơ, mác gar in và làm thuốc… Vừng có ba loại (vừng đen, vàng, trắng) trong đó vừng đen có nhiều dược tính hơn được dùng làm thuốc chữa bệnh, vừng đen ngọt, tác dụng dưỡng huyết, bổ ngũ tạng, nhuận táo, sáng mắt, bền gần cốt, dùng ngoài đắp sưng tấy, vết bỏng.; lá vừng non làm nước gội đầu mượt tóc, da mặt tươi mát, lá già dùng chữa bệnh rong huyết. Vừng là loại hạt cho dầu ăn có chất lượng cao, ổn định, không bị trở mùi ôi. Trong 100kg vừng hạt có 560 – 580 calo, 18g protein. 20g hydratcacbon, 50 – 60g chất béo, 10,5mg sắt, 616mg phốt pho.
720mg kali, 60mg Natri, 30 đơn vị vitamin A, 0,8mg B1, 0,2mg B2, 0,5mg Niacin, 2mg Vitamin C…Ngoài ra vừng còn cung cấp cho ta một nguồn năng lượng lớn (560 – 580 calo). Thành phần các chất trong 100kg vừng hạt (bảng 2.1 Thành phần các chất trong 100kg vừng hạt STT Thành phần Đơn vị 1 Calo 560 – 580 calo 2 Protein 18g 3 Hydratcacbon 20g 4 Chất béo 50 – 60g 5 Sắt 10,5mg 6 Photpho 616mg 7 Kali 720mg 8 Natri 60mg 9 Vitamin A 30 đơn vị 10 Vitamin B1 0,8mg 11 Vitamin B2 0,2mg 12 Vitamin C 2mg 13 Niacin 0,5mg (Nguồn: http://whfoods.org) 6 Đặc biệt lượng Ca trong vừng rất cao, gấp 20 lần lạc và nhiều hơn thịt lợn rất nhiều và có lợi cho bệnh tim mạch, bệnh xốp xương. Trên thế giới dầu vừng được dùng trực tiếp trong việc nấu nướng hoặc ăn sống với rau và làm phụ gia trong công ngiệp thực phẩm nước chấm, công nghệ dược liệu, mỹ phẩm, thuốc trừ sâu. Vừng còn làm thuốc chữa bệnh cho người.
Đông y coi vừng là loại thuốc, vừng đen có tên là “Hắc Ma Chi”, làm thuốc bổ, thuốc nhuận tràng, lợi sữa. Theo Hải Thượng Lãn Ông thì vừng có vị ngọt tính bình, không độc, đi vào bốn kinh phế, tỳ, gan, thận. Có tác dụng ích gan, bổ thận, nuôi huyết, nhuận tràng, điều hòa ngũ tạng, là loại thuốc tự dưỡng, cường tráng, chủ trị thương phong hư nhược, ích khí lực, đầy trí não, bổ gan cốt, sáng tai mắt, sát trùng, tiêu uất khí vv…. Hạt vừng chứa 45-55 % dầu, 19-20 % protein, 8-11% đường, 5 % nước, 4-6 % tro.
Thành phần là axit hữu cơ chủ yếu là hai loại axit béo chưa no (Axit oleic; axit linoleic), hàm lượng axit amin có trong bột vừng và trong thịt (bảng 2. Ngoài ra hạt vừng chứa nhiều chất khoáng và năng lượng, vừng là loại dầu quý được sử dụng nhiều lĩnh vực Bảng 2.