MỞ ĐẦU 1. Lily là một trong số những loài hoa đƣợc ƣa chuộng nhất hiện nay với vẻ đẹp quyến rũ và hƣơng thơm thanh nhã, mới đƣợc nội nhập và trồng tại nƣớc ta. Lily là cây trồng ôn đới đƣợc nhập khẩu từ Hà Lan và phần lớn đƣợc trồng trong vụ Đông, trồng nhiều ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc nƣớc ta. Thái Nguyên là một trung tâm về kinh tế, chính trị, xã hội và khoa học – giáo dục của khu vực trung du miền núi phía Bắc, có vị trí địa lí thuận lợi, đất đai rộng, có nhiều điều kiện tốt để phát triển sản xuất các loại hoa trong đó có hoa lily.
Trong những năm gần đây Thái Nguyên đã thử nghiệm nhiều giống hoa lily: Sorbone, Siberia, Yellowin…gần đây giống lily Robina đã đƣợc nhập nội và trồng thử nghiệm với các đặc điểm: cây cao phù hợp với loại hình cắt cành, hoa to, đẹp, độ bền cao. Để nâng cao năng suất, chất lƣợng giống hoa lily Robina cần thiết phải nghiên cứu các kỹ thuật, trong đó các kỹ thuật về xử lý lạnh củ giống, sử dụng phân bón qua lá, chất điều tiết sinh trƣởng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lƣợng giống hoa này. Xuất phát từ lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số biện pháp kỹ thuật đối với giống hoa lily Robina tại Thái Nguyên” nhằm xác định ảnh hƣởng của một số biện pháp kỹ thuật, loại phân bón lá và chất điều tiết sinh trƣởng đối với năng suất và chất lƣợng giống hoa lily Robina tại Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu.
Xác định đƣợc thời gian xử lí lạnh thích hợp cho sự sinh trƣởng và phát triển của hoa lily Robina tại Thái Nguyên. Xác định đƣợc loại phân bón lá và chất điều tiết sinh trƣởng thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng hoa lily Robina tại Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài. Nghiên cứu ảnh hƣởng của việc xử lý lạnh đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của giống hoa lily Robina tại Thái Nguyên.
Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số loại phân bón lá và chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của giống hoa lily Robina tại Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Thu thập đƣợc những kinh nghiệm và kiến thức thực tế, củng cố lý thuyết đã học, biết cách thực hiện một đề tài khoa học. Ý nghĩa trong thực tiễn: Xác định thời gian xử lý lạnh, loại phân bón lá, chất kích thích sinh trƣởng có ảnh hƣởng tốt đến sinh trƣởng, phát triển, năng suất và chất lƣợng hoa lily Robina.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài. Cơ sở khoa học của việc xử lý lạnh. Có rất nhiều thực vật mà yếu tố nhiệt độ ảnh hƣởng rất sâu sắc đến sự khởi đầu và phát triển của cấu trúc sinh sản.
Với những cây hàng năm thì ảnh hƣởng của nhiệt độ tới sự ra hoa thƣờng là thứ yếu sau quang chu kỳ. Nhƣng với cây hai năm từ ngƣợc lại: trong năm đầu chúng duy trì trạng thái dinh dƣỡng, năm sau khi trải qua một thời gian lạnh dài thì chúng ra hoa. Nếu thực vật này không đƣợc tác động bởi nhiệt độ thấp thì phần lớn chúng đƣợc giữ lại ở trạng thái sinh trƣởng sinh dƣỡng không xác định. Ngƣời ta đã chứng minh rằng phần lớn những cây hai năm khi đƣợc xử lý lạnh nhân tạo và kèm theo quang chu kỳ thích hợp thì chúng có thể ra hoa ngày trong mùa sinh trƣởng đầu tiên, tức là có thể biến cây hai năm thành một năm.
Xử lý lạnh củ giống đƣợc xác định là điều kiện tiên quyết để điều tiết ra hoa. Củ giống lily có tập tính ngủ nghỉ, củ mới đào lên không thể nảy mầm, trải qua một thời gian dài mới nảy mầm, nhƣng không đều, phải xử lý lạnh để phá vỡ ngủ nghỉ mới có thể nảy mầm đƣợc. Mặt khác sự phân hóa mầm hoa và số lƣợng mầm hoa chịu ảnh hƣởng lớn của điều kiện trƣớc khi trồng là chất lƣợng củ giống và điều kiện xử lý. Khi bắt đầu nảy mầm cũng là lúc cây bắt đầu phân hóa mầm hoa.
Nguyên nhân là do mầm co ngắn trong vảy rất mẫn cảm với nhiệt độ thấp. Củ lily xử lý lạnh 5ºC từ 4 – 6 tuần sau trồng 10 – 14 ngày đỉnh sinh trƣởng mầm rút ngắn, đã bắt đầu hình thành mầm hoa nguyên thủy, mỗi mầm hoa nguyên thủy này lại kèm theo 1 – 2 mầm khác. Khi củ đã qua xử lý lạnh trƣớc khi trồng, củ có thể mọc mầm và phân hóa hoa. Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá.
Các cơ quan trên mặt đất của cây đều có khả năng hấp thu các chất dinh dƣỡng dƣới dạng khí CO2, O2, SO2…đặc biệt là lá cây - các chất này hấp thụ rất nhiều qua khí khổng, do vậy sự hấp thụ các nguyên tố khoáng dƣới dạng ion từ dung dịch qua các cơ quan trên mặt đất là hoàn toàn có thể thực hiện đƣợc, tuy nhiên khả năng hấp thu sẽ khó khăn hơn. - Phƣơng pháp dinh dƣỡng qua lá đặc biệt quan trọng trong các trƣờng hợp sau: + Tầng đất mặt nghèo dinh dƣỡng, khả năng dinh dƣỡng của cây bị hạn chế. + Đất bị khô hạn không thể cung cấp dinh dƣỡng vào đất. Dinh dƣỡng qua lá rất phổ biến với các nguyên tố trung lƣợng nhƣ: Mg, S và vi lƣợng với liều lƣợng nhỏ, phƣơng pháp dinh dƣỡng qua lá hoàn toàn có thể thỏa mãn nhu cầu của cây sử dụng 2 – 3 lần vào những thời điểm thích hợp.
Hiệu lực nhanh chỉ sau vài phút cây có thể hấp thụ đƣợc ngay do vậy rất có hiệu quả trong việc điều chỉnh sự mất cân bằng dinh dƣỡng của cây từ giai đoạn sinh dƣỡng sang giai đoạn sinh thực. Cây sử dụng phân phun lên lá nhanh chóng nên hiệu quả sử dụng cao, có thể 90% so với 40 – 50% với đạm khi bón vào đất do đó hạn chế ô nhiễm đất và nƣớc ngầm. Phƣơng pháp dinh dƣỡng qua lá còn rất hiệu quả khi trong đất có hiện tƣợng đối kháng ion giữa K+ và Mg+, khi đó dinh dƣỡng vào đất không có hiệu quả thậm chí còn làm cho cây chết do mất cân bằng. Bón Mg và các nguyên tố vi lƣợng làm tăng hàm lƣợng các nguyên tố đó trong nông sản.
Do dinh dƣỡng qua lá đặc biệt có hiệu quả trong trƣờng hợp nâng cao hàm lƣợng đạm, khoáng chất trong nông sản, cải thiện chất lƣợng nông sản là vấn đề đang đƣợc nhân loại cũng nhƣ các nhà dinh dƣỡng cây trồng quan tâm. - Nghiên cứu về dinh dƣỡng qua lá + Đạm là nguyên tố cấu thành tất cả các bộ phận sống của cây, đạm có mặt trong hàng loạt các chất hữu cơ quan trọng nhƣ aminoaxit, axit nucleic, diệp luc, 5 protein, phytohoomon và các hợp chất thứ cấp. Đạm là nguyên tố quan trọng nhất quyết định năng suất, phẩm chất cây trồng. Hoa màu đỏ nếu cung cấp đạm hoặc các hợp chất bón quá nhiều sẽ làm cho hoa đỏ nhạt đi.
Hoa cúc thu màu xanh thiếu đạm sẽ biến thành xanh nhạt thậm chí còn thành màu trắng Những nghiên cứu về ảnh hƣởng của dinh dƣỡng đạm trong lá đến hàm lƣợng đạm tổng số trong các cơ quan thực vật cho thấy việc bón ure qua lá ở các giai đoạn vào chắc làm tăng hàm lƣợng đạm ở cả hạt và các bộ phận của cây. Một vấn đề cấp bách cần phải khắc phục là sự mất đạm do hiện tƣợng rửa trôi, xói mòn ở các nƣớc nhiệt đới và những vùng đất có kết cấu kém làm cho nguyên tố đạm luôn là nguyên tố hạn chế trong đất, đây là vấn đề đang đƣợc các nhà nông nghiệp hiện đại tìm cách khắc phục. Việc bón qua lá một lƣợng đạm nhỏ hiện đang là phƣơng pháp có ý nghĩa để hạn chế sự mất đạm, giảm ô nhiễm, tăng năng suất cây trồng và cải thiện nâng cao hàm lƣợng đạm trong nông sản, từ đó thỏa mãn những mong đợi và nhu cầu của con ngƣời. + Dinh dƣỡng Mg qua lá của cây trồng: Hiện nay hiện tƣợng thiếu Mg đang trở thành phổ biến với các vùng đất ở Trung Âu, Bắc Âu.
Ở Việt Nam đặc biệt là vùng núi phía Bắc đa phần là đất dốc nghèo dinh dƣỡng do thƣờng xuyên bị lũ lụt, xói mòn, rửa trôi trên đất kém kết cấu dẫn đến hàm lƣợng N và Mg trong đất bị rửa trôi lớn hơn so với các nơi khác. Hiện tƣợng thiếu Mg ảnh hƣởng lớn đến sự hấp thu các nguyên tố khác cũng nhƣ sự hấp thu nƣớc dẫn đến giảm hiệu lực của phân bón, giảm năng suất phẩm chất cây trồng. Việc cung cấp Mg bằng con đƣờng phân bón lá là cần thiết. - Một số ứng dụng về dinh dƣỡng qua lá: Tác giả Nguyễn Kim Lý đã sử dụng kích phát tố của công ty Thiên Nông và đi đến kết luận: việc sử dụng loại phân bón lá này với liều lƣợng 1 g thuốc pha trong 1 lít nƣớc sạch và nhúng phần gốc của cành xuống 3 phút, rồi đem phần dung dịch thuốc còn lại pha thêm 5g phân bón lá phun lại lên cành giâm, cứ 3 – 5 ngày phun dung dịch này 1 lần, có thể đảm bảo 80 – 90% số cây ra rễ, với thời gian rút ngắn so với đối chứng từ 3 – 4 ngày.
Phƣơng pháp này đƣợc ứng dụng hiệu quả cao 6 hơn cho việc nhân giống vào mùa hè. Cơ sở khoa học của việc sử dụng chế phẩm KTST. Ở thực vật bất cứ hoạt động sinh trƣởng và phát triển nào đều đƣợc điều chỉnh đồng thời bởi nhiều loại hormon trong chúng. Chính vì vậy sự cân bằng giữa các hormon trong cây có một ý nghĩa quyết định.
Nhìn chung có thể chia thành 2 loại đó là sự cân bằng riêng và sự cân bằng chung giữa các hormon. - Sự cân bằng chung: Đƣợc thiết lập dựa trên cơ sở 2 nhóm phytohormon có hoạt tính sinh lý trái ngƣợc nhau: Nhóm chất kích thích sinh trƣởng và nhóm chất ức chế sinh trƣởng. Sự cân bằng này xác định trong suốt quá trình sinh trƣởng và phát triển của cây. Trong quá trình phát triển cá thể của cây từ khi cây sinh ra cho đến khi cây chết đi thì sự cân bằng trong chúng diễn ra theo quy luật là ảnh hƣởng các chất kích thích giảm dần và ảnh hƣởng của các chất ức chế tăng dần.