Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động sản xuất miến dong đến môi trường nước tại làng nghề chế biến nông sản xã dương liễu huyện hoài đức thành phố hà nội

Khám phá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất miến dong đến môi trường nước tại làng nghề Dương Liễu, Hà Nội. Tìm hiểu ô nhiễm và giải pháp bền vững.

Trường đại học

Đại học Lâm nghiệp Việt Nam

Chuyên ngành

Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2017

83
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về làng nghề Việt Nam

1.2. Đặc điểm, tiêu chí của làng nghề

1.3. Phân loại làng nghề

1.4. Ảnh hưởng của hoạt động sản xuất miến dong đến môi trường

1.4.1. Ảnh hưởng đến môi trường nước

1.4.2. Tác động đến môi trường đất

1.4.3. Tác động đến sức khỏe con người

1.5. Một số công trình nghiên cứu biện pháp xử lý nước thải sản xuất miến dong đã được ứng dụng ở Việt Nam

2. CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU – ĐỐI TƯỢNG – PHẠM VI – NỘI DỤNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2.2. Phạm vi nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp thu thập - kế thừa tài liệu

2.4.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa

2.4.3. Phương pháp điều tra phỏng vấn

2.4.4. Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu

2.4.5. Phương pháp phân tích các chỉ tiêu môi trường nước

2.4.6. Phương pháp xử lý nội nghiệp

3. CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI

3.1. Điều kiện tự nhiên

3.1.1. Vị trí địa lý

3.1.2. Đặc điểm tự nhiên

3.2. Điều kiện kinh tế- xã hội

3.2.1. Dân số, Lao động và Mức sống

3.2.2. Điều kiện kinh tế, sản xuất kinh doanh

3.3. Thuận lợi và khó khăn của làng nghề

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thực trạng và quy trình sản xuất miến dong tại làng nghề chế biến nông sản xã Dương Liễu

4.1.1. Thực trạng sản xuất miến dong tại làng nghề Dương Liễu

4.1.2. Quy trình sản xuất miến dong tại làng nghề Dương Liễu

4.2. Nguồn phát sinh và đặc tính nước thải từ hoạt động sản xuất miến dong tại xã Dương Liễu

4.2.1. Nguồn phát sinh và khối lượng nước thải chủ yếu tại làng nghề

4.2.2. Đặc tính của nước thải chế biến nông sản làng nghề Dương Liễu

4.3. Thực trạng thu gom và xử lý nước thải làng nghề

4.4. Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động sản xuất miến dong đến môi trường nước tại khu vực nghiên cứu

4.4.1. Ảnh hưởng đến môi trường nước mặt

4.4.2. Ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm

4.4.3. Đánh giá của người dân về chất lượng môi trường nước tại khu vực nghiên cứu

4.5. Đưa ra một số giải pháp quản lý và xử lý nước thải từ hoạt động sản xuất miến dong của làng nghề Dương Liễu

4.5.1. Giải pháp quản lý và quy hoạch

4.5.2. Giải pháp về kĩ thuật

4.5.3. Các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm theo hướng sản xuất sạch hơn

4.5.4. Giải pháp giáo dục tuyên truyền

5. KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan sản xuất miến dong và môi trường nước Dương Liễu

Làng nghề chế biến nông sản xã Dương Liễu, huyện Hoài Đức, từ lâu đã nổi tiếng là một trong những trung tâm sản xuất miến dong, bánh kẹo và tinh bột lớn của Hà Nội. Bắt nguồn từ những năm 1960, hoạt động sản xuất tại đây không ngừng phát triển, góp phần đáng kể vào việc tạo công ăn việc làm và cải thiện đời sống kinh tế cho người dân địa phương. Theo thống kê, với gần 3143 hộ dân, có tới hơn 2.800 hộ tham gia làm nghề, tạo ra doanh thu hàng trăm tỷ đồng mỗi năm. Sự phát triển mạnh mẽ này đã đưa Dương Liễu trở thành một làng nghề chế biến nông sản Hà Nội điển hình. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế này lại đi kèm với một cái giá đắt về môi trường. Vấn đề cốt lõi phát sinh từ chính quy trình sản xuất miến dong, một quy trình sử dụng lượng nước lớn và thải ra một khối lượng nước thải khổng lồ. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, mỗi ngày làng nghề Dương Liễu thải ra môi trường khoảng 13 nghìn m³ nước thải chưa qua xử lý. Lượng nước thải này chứa hàm lượng chất hữu cơ, chất rắn lơ lửng và các hợp chất khác rất cao, trực tiếp gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường nước Dương Liễu. Hậu quả là hệ thống kênh mương, ao hồ trong khu vực dần biến thành những dòng sông chết, bốc mùi hôi thối nồng nặc, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cảnh quan và đời sống sinh hoạt. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của hoạt động sản xuất miến dong, làm rõ mức độ suy thoái chất lượng nước và đề xuất các phương án khả thi, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững làng nghề.

1.1. Lịch sử và quy mô làng nghề chế biến nông sản Dương Liễu

Xã Dương Liễu (Hoài Đức, Hà Nội) là một làng nghề có truyền thống lâu đời, đặc biệt trong lĩnh vực chế biến nông sản thực phẩm. Với vị trí địa lý thuận lợi, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25 km, Dương Liễu có nhiều lợi thế về thị trường tiêu thụ và thu hút đầu tư. Hoạt động sản xuất chính tại đây bao gồm chế biến tinh bột dong riềng, sắn và sản xuất miến. Tính đến năm 2016, toàn xã có 3466 hộ thì có tới 3120 hộ tham gia sản xuất (chiếm 90%), với khoảng 70 công ty và hơn 300 hộ sản xuất quy mô vừa. Sự phát triển này đã tạo ra công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, với thu nhập bình quân đầu người đạt 25 triệu đồng/năm. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông và thoát nước, chưa theo kịp tốc độ phát triển, gây ra nhiều khó khăn và góp phần làm trầm trọng thêm các vấn đề môi trường.

1.2. Mối quan hệ giữa sản xuất miến dong và môi trường nước

Hoạt động sản xuất miến dong có mối quan hệ trực tiếp và mật thiết với môi trường nước. Nước là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong hầu hết các công đoạn, từ rửa nguyên liệu, xay nghiền, ngâm ủ, lắng lọc tinh bột cho đến tráng bánh và làm nguội. Đồng thời, nước cũng chính là môi trường tiếp nhận toàn bộ chất thải phát sinh. Nước thải làng nghề miến dong có đặc trưng là giàu chất hữu cơ, tinh bột còn sót lại, vỏ củ và các chất rắn lơ lửng. Khi lượng nước thải này không được xử lý mà xả thẳng ra môi trường, nó sẽ làm suy giảm nghiêm trọng lượng oxy hòa tan trong nước, gây ra hiện tượng phú dưỡng, làm chết các sinh vật thủy sinh và tạo ra các khí độc như H2S, CH4, NH3 gây mùi hôi thối. Về lâu dài, các chất ô nhiễm này còn có thể ngấm xuống đất, ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm, đe dọa nguồn nước sinh hoạt của người dân.

II. Báo động thực trạng môi trường làng nghề Hoài Đức Dương Liễu

Thực trạng ô nhiễm tại làng nghề Dương Liễu đã ở mức báo động đỏ, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước. Báo cáo nghiên cứu mô tả một bức tranh đáng lo ngại: các cống rãnh thoát nước trong làng luôn trong tình trạng đen kịt, đặc quánh và bốc mùi xú uế nồng nặc. Toàn bộ lượng nước thải làng nghề miến dong và sinh hoạt đều được đổ trực tiếp ra ao, hồ, kênh mương mà không qua bất kỳ khâu xử lý nào. Điều này không chỉ gây ách tắc dòng chảy mà còn biến các thủy vực thành nơi chứa chất thải. Nguồn ô nhiễm chính xuất phát từ công đoạn chế biến tinh bột dong riềng và làm miến. Lượng bã thải dong riềng khổng lồ không được thu gom triệt để, chất đống ven đường, dưới tác động của thời tiết sẽ phân hủy, tạo ra mùi chua thối và nước rỉ rác độc hại ngấm vào đất và nguồn nước. Thực trạng môi trường làng nghề Hoài Đức nói chung và Dương Liễu nói riêng đang đối mặt với thách thức lớn. Hệ thống xử lý nước thải tập trung của xã được xây dựng từ lâu nhưng hoạt động không hiệu quả, công suất quá nhỏ so với lượng nước thải thực tế. Hậu quả của tình trạng này không chỉ dừng lại ở môi trường mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng làng nghề. Các bệnh về đường hô hấp, tiêu hóa, bệnh ngoài da có xu hướng gia tăng, và tuổi thọ trung bình của người dân trong làng nghề được ghi nhận thấp hơn so với các khu vực khác. Đây là lời cảnh tỉnh cấp bách, đòi hỏi phải có những hành động quyết liệt để cứu lấy môi trường sống tại đây.

2.1. Hiện trạng hệ thống thu gom và xử lý nước thải chế biến

Hệ thống quản lý và xử lý chất thải tại Dương Liễu còn rất nhiều yếu kém. Mặc dù xã đã thành lập đội vệ sinh môi trường và ban hành quy chế vệ sinh, nhưng các hoạt động chủ yếu mang tính đối phó, cục bộ như khơi thông cống rãnh khi bị ùn tắc. Công trình xử lý nước thải chế biến nông sản được xây dựng từ năm 1996 với diện tích 5.000m² đã nhanh chóng trở nên lạc hậu và quá tải. Hiện tại, một công ty tư nhân tiếp quản nhưng không phát huy được hiệu quả, chỉ xử lý được một phần rất nhỏ lượng bã thải. Phần lớn trong số hơn 7.500 m³ nước thải sản xuất mỗi ngày vẫn đổ thẳng ra hệ thống kênh mương chung, cuối cùng hòa vào sông Đáy và chất lượng nước sông Nhuệ, gây ô nhiễm trên diện rộng.

2.2. Tác động của ô nhiễm nước đến sức khỏe cộng đồng làng nghề

Ô nhiễm môi trường nước kéo theo những hệ lụy nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng làng nghề. Theo các nghiên cứu của Bộ Y tế, tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề đang có xu hướng gia tăng. Cụ thể tại Dương Liễu, các bệnh phổ biến bao gồm bệnh phụ khoa (13-38%), bệnh về đường tiêu hóa (8-30%), viêm da (4.5-23%), và các bệnh về đường hô hấp (6-18%). Nguyên nhân chính được xác định là do điều kiện sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, nguồn nước sạch khan hiếm và việc tiếp xúc thường xuyên với môi trường ô nhiễm. Đáng báo động hơn, tuổi thọ trung bình của người dân tại các làng nghề ô nhiễm được cho là thấp hơn từ 5-10 năm so với các làng không làm nghề, một minh chứng rõ ràng cho cái giá phải trả của việc phát triển kinh tế thiếu kiểm soát.

III. Phân tích quy trình sản xuất miến dong và nguồn gây ô nhiễm

Để hiểu rõ nguyên nhân gây ô nhiễm, cần phân tích chi tiết quy trình sản xuất miến dong. Quy trình này bao gồm hai giai đoạn chính: sản xuất tinh bột từ củ dong và sản xuất miến từ tinh bột. Mỗi giai đoạn đều phát sinh một lượng lớn nước thải và chất thải rắn. Giai đoạn 1, chế biến tinh bột, là nguồn gây ô nhiễm nặng nề nhất. Bắt đầu từ công đoạn rửa, bóc vỏ củ dong, nước thải đã chứa đầy đất cát và vỏ lụa. Công đoạn xay, nghiền, lọc và tách bã tiêu tốn một lượng nước lớn và thải ra bã thải dong riềng cùng nước ép chứa nhiều chất hữu cơ. Tiếp theo, quá trình lắng, tách bột và rửa bột liên tục xả ra nước thải chứa bột đen và các tạp chất hòa tan. Toàn bộ lượng nước này có đặc tính chung là độ pH thấp, hàm lượng chất hữu cơ cao, dẫn đến các chỉ số ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép nhiều lần. Giai đoạn 2, sản xuất miến, cũng góp phần vào tổng tải lượng ô nhiễm. Nước thải phát sinh từ các khâu ngâm, rửa bột, tráng bánh và ngâm bánh trước khi cắt sợi. Mặc dù ít hơn so với giai đoạn làm tinh bột, nhưng đây vẫn là nguồn thải đáng kể. Ngoài ra, việc sử dụng than đá để tạo hơi nước cho máy tráng bánh còn phát sinh khí thải (CO, CO2, SO2) và xỉ than. Do hiệu suất nguyên liệu không cao (chỉ khoảng 29% từ củ dong ra tinh bột), lượng chất thải dôi dư là rất lớn, tạo áp lực khổng lồ lên môi trường vốn đã quá tải.

3.1. Chi tiết tác động của chế biến tinh bột dong riềng

Quá trình chế biến tinh bột dong riềng là "thủ phạm" chính gây ô nhiễm nước. Nước thải từ công đoạn rửa và bóc vỏ đã mang theo đất, cát. Nghiêm trọng nhất là công đoạn xay, nghiền, lọc, tách bã và lắng bột. Nước thải ở khâu này có màu trắng đục, chứa hàm lượng tinh bột, protein và các chất hữu cơ hòa tan rất cao. Khi thải ra môi trường, các chất hữu cơ này nhanh chóng bị vi sinh vật phân hủy yếm khí, gây ra mùi hôi thối và làm cạn kiệt oxy trong nước. Theo kết quả phân tích, nước thải từ hộ sản xuất tinh bột dong (mẫu NT10) có tổng Photpho (TP) lên tới 137,6 mg/l, cao gấp 23 lần quy chuẩn cho phép (QCVN 40:2011/BTNMT, cột B), cho thấy mức độ ô nhiễm đậm đặc từ hoạt động này.

3.2. Nguồn phát sinh nước thải trong quy trình sản xuất miến

Trong quy trình sản xuất miến từ tinh bột, nước thải phát sinh ở nhiều công đoạn. Đầu tiên là khâu lắng lọc và rửa tinh bột để loại bỏ tạp chất, nước thải chứa cặn bẩn và một lượng nhỏ tinh bột. Giai đoạn chuẩn bị dịch tráng bánh và rây lọc cũng thải ra bột vón cục và nước thải. Đặc biệt, máy tráng bánh sử dụng hơi nước từ nồi hơi đốt than, quá trình này có thể tạo ra nước ngưng tụ và nước thải có nhiệt độ cao. Công đoạn ngâm bánh trước khi gien sợi cũng tạo ra một lượng nước thải chứa tinh bột hòa tan. Mặc dù tải lượng ô nhiễm từ mỗi công đoạn này không bằng khâu sản xuất tinh bột, nhưng khi cộng dồn từ hàng trăm hộ sản xuất, nó vẫn tạo ra một khối lượng nước thải làng nghề miến dong đáng kể, góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm chung.

IV. Đánh giá tác động môi trường nước từ sản xuất miến dong

Kết quả nghiên cứu và phân tích mẫu nước đã phơi bày một cách khoa học mức độ ô nhiễm nghiêm trọng tại Dương Liễu. Việc đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được thực hiện thông qua việc phân tích các chỉ số ô nhiễm nước (BOD, COD, TSS) và nhiều thông số khác trên các mẫu nước thải, nước mặt và nước ngầm. Đối với nước thải, kết quả cho thấy hầu hết các chỉ tiêu đều vượt xa quy chuẩn cho phép (QCVN 40:2011/BTNMT, cột B). Cụ thể, hàm lượng COD (nhu cầu oxy hóa học) dao động từ 480 - 1728 mg/l, có mẫu cao gấp 11,52 lần quy chuẩn. Hàm lượng BOD5 (nhu cầu oxy sinh hóa) cũng ở mức rất cao, từ 74 - 262 mg/l. Đặc biệt, tổng chất rắn lơ lửng (TSS) là một vấn đề nhức nhối, với giá trị dao động từ 149 - 1977 mg/l, có mẫu cao gần 20 lần quy chuẩn. Những con số này chứng tỏ nước thải có khả năng gây ô nhiễm hữu cơ cực kỳ cao, làm suy kiệt oxy và hủy hoại hệ sinh thái thủy sinh. Tác động này không chỉ giới hạn ở các kênh mương nội làng mà còn lan rộng ra các thủy vực lớn hơn như sông Đáy, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nước sông Nhuệ và các vùng lân cận. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự suy giảm chất lượng nước ngầm, cho thấy các chất ô nhiễm đã bắt đầu thẩm thấu xuống các tầng chứa nước, đe dọa trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt chính của người dân.

4.1. Phân tích các chỉ số ô nhiễm nước BOD COD TSS trong nước thải

Phân tích các mẫu nước thải tại Dương Liễu cho thấy các chỉ số ô nhiễm đặc trưng của ngành chế biến nông sản đều ở mức rất cao. COD là một trong những chỉ số đáng báo động nhất, với mẫu NT9 (nước thải từ hộ sản xuất miến) đạt 1728 mg/l, cho thấy một lượng lớn chất hữu cơ khó phân hủy sinh học có trong nước thải. BOD5, đại diện cho lượng chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, cũng rất cao, đặc biệt ở các mẫu nước thải từ công đoạn ép và rửa củ dong. Chỉ số TSS ở mẫu NT8 (nước thải từ hộ sản xuất miến dong) lên tới 1977 mg/l, cho thấy lượng cặn lơ lửng, bột, vỏ... trong nước thải là cực lớn. Các chỉ số này đều vượt QCVN 40:2011/BTNMT nhiều lần, khẳng định rằng nguồn thải này nếu không được xử lý sẽ gây tác động hủy hoại đến môi trường tiếp nhận.

4.2. Ảnh hưởng đến chất lượng nước mặt và nước ngầm khu vực

Tác động của nước thải không chỉ dừng lại ở điểm xả. Toàn bộ hệ thống nước mặt của xã Dương Liễu, bao gồm ao, hồ và kênh mương, đã bị ô nhiễm nặng. Kết quả phân tích mẫu nước mặt cho thấy hàm lượng các chất ô nhiễm cao, oxy hòa tan (DO) thấp, thể hiện sự suy thoái của hệ sinh thái. Các chất ô nhiễm theo dòng chảy đổ vào sông Đáy, góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm của lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy. Đáng lo ngại hơn, nghiên cứu cũng phân tích mẫu nước ngầm tại các hộ dân và phát hiện dấu hiệu ô nhiễm. Nước thải tích tụ lâu ngày trong các kênh mương, ao hồ đã ngấm xuống đất, mang theo các hợp chất hữu cơ và độc tố, làm thay đổi chất lượng nước ngầm. Đây là một mối đe dọa tiềm tàng và lâu dài đến nguồn nước sinh hoạt thiết yếu của hàng nghìn người dân.

V. Top giải pháp môi trường cho làng nghề truyền thống Dương Liễu

Để giải quyết tận gốc vấn đề ô nhiễm, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp môi trường cho làng nghề truyền thống. Nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống giải pháp toàn diện, bao gồm cả quản lý, kỹ thuật và tuyên truyền giáo dục. Về quản lý, giải pháp cấp bách là cần phải quy hoạch lại khu vực sản xuất. UBND huyện Hoài Đức đã có kế hoạch xây dựng các điểm công nghiệp tập trung để đưa các hộ sản xuất ra khỏi khu dân cư, nhưng tiến độ còn chậm. Việc di dời này sẽ tạo điều kiện để xây dựng hệ thống xử lý nước thải chế biến nông sản đồng bộ và hiệu quả. Đồng thời, cần tăng cường vai trò quản lý nhà nước, áp dụng các công cụ kinh tế như phí bảo vệ môi trường một cách nghiêm ngặt để buộc các cơ sở sản xuất phải có trách nhiệm với chất thải của mình. Về kỹ thuật, cần nghiên cứu và áp dụng các mô hình xử lý nước thải phù hợp với đặc thù làng nghề, có thể là mô hình xử lý quy mô hộ gia đình hoặc cụm hộ, kết hợp với trạm xử lý tập trung. Các công nghệ như lọc sinh học, xử lý bằng bùn hoạt tính đã được nghiên cứu và cho thấy hiệu quả khả quan. Bên cạnh đó, việc áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, như tận dụng bã thải dong riềng để làm thức ăn gia súc hoặc sản xuất phân hữu cơ vi sinh, sẽ giúp giảm thiểu lượng chất thải ngay từ nguồn. Cuối cùng, không thể thiếu các giải pháp về giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân về tác hại của ô nhiễm và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường.

5.1. Các giải pháp quản lý và quy hoạch làng nghề bền vững

Giải pháp quản lý đóng vai trò nền tảng. Trước hết, cần khẩn trương hoàn thành và triển khai quy hoạch các cụm công nghiệp làng nghề tại Dương Liễu, Cát Quế, Minh Khai. Việc tách khu sản xuất ra khỏi khu dân cư là điều kiện tiên quyết để quản lý chất thải tập trung. Thứ hai, cần kiện toàn bộ máy quản lý môi trường cấp xã, có cán bộ chuyên trách với chuyên môn và thẩm quyền rõ ràng. Chính sách thu phí môi trường cần được thực hiện nghiêm túc và minh bạch, đảm bảo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Việc xây dựng và ban hành các quy chế bảo vệ môi trường cụ thể cho làng nghề, kèm theo chế tài xử phạt đủ sức răn đe, là vô cùng cần thiết để đưa công tác quản lý đi vào nề nếp.

5.2. Phương pháp kỹ thuật xử lý nước thải làng nghề miến dong

Về mặt kỹ thuật, có nhiều phương pháp có thể áp dụng. Đối với quy mô nhỏ, có thể xây dựng các mô hình xử lý tại hộ gia đình, bao gồm bể lắng để tách cặn và bã thải dong riềng, sau đó qua các bể lọc sinh học kỵ khí và hiếu khí trước khi xả ra hệ thống chung. Đối với quy mô lớn, cần đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp trạm xử lý nước thải tập trung với công nghệ hiện đại, đủ công suất để xử lý toàn bộ lượng nước thải của làng nghề. Nghiên cứu của Lê Thị Việt Hà và cộng sự (2003) cho thấy phương pháp sử dụng bùn hoạt tính trong xử lý hiếu khí có thể đạt hiệu suất trên 90% sau 6 giờ đối với nước thải chế biến tinh bột. Việc kết hợp các phương pháp cơ học, hóa lý và sinh học sẽ mang lại hiệu quả xử lý cao nhất, đảm bảo nước sau xử lý đạt quy chuẩn trước khi thải ra môi trường.

5.3. Áp dụng sản xuất sạch hơn và tuyên truyền giáo dục cộng đồng

Sản xuất sạch hơn là một hướng đi chiến lược nhằm phát triển bền vững làng nghề. Các giải pháp bao gồm: cải tiến công nghệ để nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên liệu, giảm lượng nước tiêu thụ trong các công đoạn; tuần hoàn tái sử dụng nước ở một số khâu; tận dụng triệt để bã thải dong riềng và bột đen để sản xuất phân bón hữu cơ hoặc thức ăn chăn nuôi. Song song đó, công tác tuyên truyền, giáo dục cần được đẩy mạnh. Tổ chức các buổi tập huấn, phổ biến kiến thức về tác hại của ô nhiễm, hướng dẫn các biện pháp giảm thiểu chất thải tại nguồn cho các hộ sản xuất. Xây dựng ý thức tự giác bảo vệ môi trường trong cộng đồng là yếu tố then chốt để các giải pháp khác có thể thực thi thành công.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam có rất nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng, lâu đời. Cùng với những bƣớc thăng trầm của lịch sử và sự phát triển của nền kinh tế thị trƣờng, các làng nghề hiện nay đều có những sự thay đổi theo hƣớng thích nghi hơn. Không những mở rộng về quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm mà còn tích cực ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất. Bên cạnh những lợi ích mà việc phát triển làng nghề đem lại nhƣ: tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, cải thiên đời sống của ngƣời dân thì tình trạng ô nhiễm tại các làng nghề đã lên tới mức báo động và những ảnh hƣởng tiêu cực cũng vô cùng nghiêm trọng.

Đặc biệt là sự suy giảm chất lƣợng môi trƣờng nƣớc của các làng nghề. Một trong những loại hình làng nghề phổ biến nhất ở nông thôn Việt Nam hiện nay là làng nghề chế biến nông sản. Dƣơng Liễu là một trong những vùng trọng điểm chế biến nông sản của Hà Nội. Làng nghề sản xuất bánh kẹo, miến, bột dong riềng xã Dƣơng Liễu, huyện Hoài Đức đã phát triển từ những năm 1960.

Xã có gần 3143 hộ thì trên 2.800 hộ dân làm nghề, tổng doanh thu làng nghề mỗi năm trên 300 tỷ đồng. Mỗi ngày làng nghề Dƣơng Liễu chế biến hàng trăm tấn dong riềng, thải ra môi trƣờng 13 nghìn m3 nƣớc thải. Sự ô nhiễm môi trƣờng nƣớc tại làng nghề đang ở mức báo động. Đến làng nghề, chúng tôi thấy cảnh sản xuất tất bật của ngƣời dân.

Nhƣng một ấn tƣợng khiến chúng tôi khó chịu đó là mùi xú uế, hôi thối… bay quanh khắp làng. Đi đến chỗ nào chúng tôi cũng bắt gặp nƣớc thải ở tất cả cống rãnh thoát nƣớc làng nghề một màu đen kịt. Các chất thải đƣợc đƣợc đổ trực tiếp ra các ao, hồ, kênh, mƣơng. mà không qua một khâu xử lý nào gây ách tắc dòng chảy, ô nhiễm nguồn nƣớc mặt, đồng thời gây mùi khó chịu cho khu vực dân cƣ sinh sống.

Do vậy việc nghiên cứu đánh giá môi trƣờng, tìm ra những tác động tiêu cực từ hoạt động sản xuất miến dong sẽ góp phần rất lớn đƣa ra các giải pháp giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng nƣớc tại làng nghề xã Dƣơng Liễu. 1 Trƣớc thực trạng đang rất bức xúc đó, tôi đã lựa chọn đề tài ‘’ Nghiên cứu ảnh hƣởng của hoạt động sản xuất miến dong đến môi trƣờng nƣớc tại làng nghề chế biến nông sản, xã Dƣơng Liễu, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” sẽ góp phần tích cực vào việc giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng tại làng nghề. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về làng nghề Việt Nam 1.

Khái niệm Từ xa xƣa, những ngƣời nông dân Việt Nam đã biết sử dụng thời gian nông nhàn để sản xuất những sản phẩm thủ công, phi nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Quá trình hình thành làng nghề cũng bắt đầu từ những sản phẩm làm thêm ban đầu đó. Vì trƣớc đây ngƣời Việt chủ yếu sống dựa vào việc trồng lúa nƣớc, thông thƣờng chỉ những ngày đầu vụ hay những ngày cuối vụ thì ngƣời dân mới có việc làm nhiều nhƣ cày bừa, cấy, làm cỏ (đầu vụ) cho đến gặt lúa, phơi khô…những ngày còn lại thì nhà nông rất nhàn hạ. Từ đó nhiều ngƣời đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ để làm với mục đích ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yếu hàng ngày, về sau là tặng thêm thu nhập cho gia đình.

Theo thời gian, những hoạt động sản xuất này đã liên kết với nhau khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một tổ chức theo nghề nghiệp, tạo thành các phƣờng hội. Các nghề đƣợc lan truyền và nhiều hộ nông dân cùng sản xuất một loại sản phẩm. Bên cạnh những ngƣời chuyên làm nghề, đa phần vừa sản xuất nông nghiệp, vừa làm thuê (nghề phụ). Nhƣng do nhu cầu trao đổi hàng hóa, các nghề mang tính chất chuyên môn sâu hơn và thƣờng đƣợc giới hạn trong quy mô nhỏ (làng) đã dần dần tách khỏi nông nghiệp để chuyển hẳn sang nghề thủ công.

Nhƣ vậy làng nghề xuất hiện. Thuật ngữ “làng nghề” đƣợc hiểu là làng nông thôn Việt Nam có ngành nghề tiểu thủ công, phi nông nghiệp chiếm ƣu thế về số lao động và thu nhập so với nghề nông (Đặng Kim Chi và cộng sự, 2005). Đặc điểm, tiêu chí của làng nghề Hiện nay, hoạt động trong các làng nghề ở nông thôn Việt Nam là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao gồm: các nghề thủ công, các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất vừa và nhỏ với các thành phần kinh tế nhƣ hộ gia đình, 3 hộ sản xuất và các tổ chức kinh tế khác nhau nhƣ Hợp tác xã, xí nghiệp tƣ nhân,… Các hộ và các tổ chức kinh tế này hoạt động gắn bó mật thiết với nông thôn thông qua sử dụng nguồn nhân lực ở nông thôn, đất đai, lao động, nguyên liệu và có ảnh hƣởng lớn tới sự phát triển kinh tế, xã hội của nông thôn (Đặng Kim Chi và cộng sự, 2005). Sự phát triển của các làng nghề nông thôn đã tạo ra một khối lƣợng hàng hóa đáng kể, đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng của đời sống nhân dân, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng và tăng kim ngạch xuất khẩu.

Đồng thời tạo ra việc làm tại chỗ cho hàng vạn lao động và thu hút hàng trăm lao động nông nhàn ở các vùng phụ cận, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Các làng nghề phát triển cũng góp phần đổi mới bộ mặt nhiều vùng nông thôn Việt Nam, hầu hết các xã có làng nghề đều có điện lƣới, đƣờng ô tô tới trung tâm xã, có điện thoại, trạm y tế xã, phổ cập giáo dục tiểu học, nhà ngói, nhà mái bằng,. Đời sống nhân dân đƣợc cải thiện rõ rệt, số hộ giàu tăng lên, số hộ nghèo chiếm tỷ lệ thấp và không còn hộ đói. Có rất nhiều ý kiến và quan điểm khác nhau khi đề cập đến tiêu chí để một làng ở nông thôn đƣợc coi là một làng nghề.

Nhƣng nhìn chung, các ý kiến thống nhất ở một số tiêu chí sau: - Giá trị sản xuất và thu nhập của từ phi nông nghiệp ở làng nghề đạt trên 50% so với tổng giá trị sản xuất và thu nhập chung của làng nghề trong năm; hoặc doanh thu hàng năm từ ngành nghề ít nhất đạt trên 300 triệu đồng, hoặc: - Số hộ và số lao động tham gia thƣờng xuyên hoặc không thƣờng xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề phi nông nghiệp ở làng ít nhất đạt 30% so với tổng số hộ hoặc lao động ở làng nghề có ít nhất 300 lao động. - Sản phẩm phi nông nghiệp do làng sản xuất mang tính đặc thù của làng và do ngƣời trong làng tham gia. Theo Báo cáo môi trƣờng quốc gia năm 2008, tiêu chí công nhận làng nghề gồm có 3 tiêu chí sau: 4 - Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. - Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.

- Chấp hành tốt chính sách Pháp luật của Nhà nƣớc. Phân loại làng nghề Sự phát triển của các làng nghề Việt Nam cũng thể hiện những cung bậc thăng trầm trong mỗi giao đoạn lịch sử, đặc biệt từ những năm đổi mới đến nay. Trong những năm qua, nhờ đƣờng lối mới của Đảng, nhất là trong thời kì phát triển theo hƣớng kinh tế thị trƣờng, nhiều ngành nghề truyền thống đã đƣợc khôi phục và phát triển mạnh mẽ. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, đến nay cả nƣớc có 1450 làng nghề với 108 ngành nghề khác nhau nhƣ: sơn mài, gốm sứ, chế biến nông sản, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, tranh dân gian.

giải quyết việc làm cho trên 10 triệu lao động nông thôn. Có những sản phẩm truyền thống đã tạo thành những thƣơng hiệu nổi tiếng, có sức hấp dẫn với du khách trong và ngoài nƣớc nhƣ: gốm sứ Bát Tràng, tranh dân gian Đông Hồ,. Và còn rất nhiều làng nghề truyền thống khác mang những thƣơng hiệu nổi tiếng, có giá trị cao trên thị trƣờng trong và ngoài nƣớc. Tuy nhiên hiện nay các làng nghề chế biến nông sản cơ bản vẫn mang tính nhỏ lẻ, công nghệ chƣa đƣợc cải tiến, chƣa đƣợc đào tạo đầy đủ cơ bản, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, thiết bị thủ công, mặt bằng sản xuất còn nhỏ hẹp, xƣởng sản xuất lẫn vào khu dân cƣ.

Theo thống kê, 100% các làng nghề chƣa có hệ thống xử lý chất thải, nƣớc thải riêng biệt, chất thải từ các làng nghề đặc trƣng theo mỗi loại sản xuất của mỗi loại hình làng nghề và tác động đến môi trƣờng trong khu vực ở những mức độ khác nhau. Các nhóm làng nghề của Việt Nam SST Loại hình Số làng (làng) 1 Dệt nhuộm 173 2 Chế biến nông sản 197 3 Tái chế phế liệu 90 4 Thủ công mỹ nghệ 618 5 Vật liệu xây dựng, gốm sứ 31 6 Nghề khác 341 ( Nguồn website http://www.vn ) Đại bộ phận ngƣời dân Việt Nam sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nên việc ra đời và phát triển các làng nghề phi nông nghiệp có quan hệ không thể tách rời với hoạt động nông nghiệp. Đó cũng là tiền đề cho sự ra đời cửa các làng nghề chế biến nông sản. Phần lớn các làng nghề chế biến nông sản của nƣớc ta là các làng nghề thủ công truyền thống.

Với hiệu quả kinh tế từ sản xuất ở các làng nghề thì tình trạng ô nhiễm chính nơi này cũng gia tăng nhanh chóng, đặc biệt là các làng nghề lâu năm. Theo điều tra cả nƣớc hiện có 197 làng nghề chế biến nông sản, chiếm 13,6% tổng số các làng nghề trong cả nƣớc, tập trung chủ yếu ở miền Bắc với 134 làng, chiếm 60,02%. Hà Tây cũ (nay thuộc Hà Nội) là tỉnh có số làng nghề cao nhất cả nƣớc và có nhiều làng nghề truyền thống từ lâu đời. Song các làng nghề tập trung chủ yếu ở lƣu vực sông Nhuệ và sông Đáy.

Chế biến nông sản là một ngành có nhu cầu nƣớc rất lớn và thải ra một lƣợng nƣớc thải không nhỏ, giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi trƣờng. Tùy theo mục đích sử dụng, nƣớc thải CBNS có thể có BOD5 lên tới 5.500mg/l, COD từ 13. Nƣớc thải cống chung của các làng nghề CBNS đều vƣợt TCVN 5945-1995 (cột B) từ 5-32 lần. Hầu nhƣ nƣớc thải có pH thấp, thể hiện chất thải hữu cơ đã bị phân giải yếm khí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ