Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Vườn quốc gia Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) được công nhận là khu Ramsar thứ 3 của Việt Nam vào năm 2011, là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế. Trung tâm của vườn là Hồ Ba Bể – hồ nước ngọt tự nhiên trên núi đá vôi ở độ cao khoảng 150–178 m so với mực nước biển, diện tích mặt nước khoảng 500 ha, độ sâu trung bình 17–25 m (vị trí sâu nhất đạt 29–35 m), dung tích chứa 80–90 triệu m³. Đây là thắng cảnh thiên nhiên độc đáo và là trung tâm phát triển du lịch sinh thái trọng điểm của vùng Đông Bắc.

Cùng với xu hướng phát triển kinh tế, hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Ba Bể có sự gia tăng nhanh về số lượng du khách. Đi kèm với sự gia tăng này là việc mở rộng hệ thống lưu trú, ăn uống và phương tiện vận tải thủy (xuồng máy). Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng bảo vệ môi trường tại địa phương chưa phát triển tương xứng; hệ thống thu gom và xử lý tập trung cho nước thải sinh hoạt và chất thải rắn chưa được đầu tư hoàn chỉnh. Tình trạng xả thải trực tiếp vào lưu vực hồ, cùng với dư lượng dầu mỡ từ hoạt động của các phương tiện giao thông thủy, đang đặt ra nguy cơ suy thoái chất lượng nước và hệ sinh thái thủy vực. Khóa luận được thực hiện nhằm xác định rõ mức độ tác động của hoạt động du lịch tới môi trường nước hồ, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên nước.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá chất lượng môi trường nước Hồ Ba Bể, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới môi trường nước hồ để đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng nước hồ, giảm nguy cơ ô nhiễm.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Xác định rõ các tác động của hoạt động du lịch tới môi trường nước mặt Hồ Ba Bể.
    • Đề ra các giải pháp nhằm hạn chế sự tác động tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường nước Hồ Ba Bể.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội khu vực nghiên cứu.
  • Xác định hiện trạng và diễn biến chất lượng nước mặt Hồ Ba Bể.
  • Xác định mức độ ảnh hưởng của hoạt động du lịch và ý thức bảo vệ môi trường của du khách đến môi trường nước hồ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng của hoạt động du lịch tới môi trường nước Hồ Ba Bể tại khu du lịch Vườn quốc gia Ba Bể – Bắc Kạn.
  • Phạm vi không gian: Khu vực Hồ Ba Bể thuộc địa giới hành chính Vườn quốc gia Ba Bể, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
  • Thời gian nghiên cứu: Đề tài được triển khai từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014 (thời điểm lấy mẫu phân tích thực địa vào ngày 25/06/2014).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm áp dụng

Khóa luận vận dụng hệ thống cơ sở lý luận về du lịch và môi trường du lịch:

  • Khái niệm du lịch: Tiếp cận theo định nghĩa của Mathieson và Wall (khái quát về sự di chuyển tạm thời và hệ thống cơ sở vật chất phục vụ), định nghĩa của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO/WTM), và định nghĩa tại Luật Du lịch Việt Nam năm 2005.
  • Khái niệm môi trường du lịch: Cấu trúc môi trường du lịch gồm ba thành phần chính: Môi trường tự nhiên (địa hình caxtơ, khí hậu, thủy văn, sinh vật), môi trường nhân văn (dân cư, phong tục tập quán các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh, Mông, di tích lịch sử ATK Chợ Đồn, hội Lồng Tồng), và môi trường kinh tế – xã hội.
  • Đặc trưng ngành du lịch: Tính đa ngành, tính đa thành phần, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ và tính chi phí.
  • Tác động môi trường: Phân tích nguồn tác động từ hoạt động giao thông đường thủy, nước thải từ cơ sở lưu trú, rác thải sinh hoạt, hoạt động nông nghiệp ven hồ (rửa trôi phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) và quá trình bồi lắng tự nhiên (bồi lắng lòng hồ 0,5–1,0 m trong 20 năm).

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, số liệu quan trắc môi trường các năm 2012–2013 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, báo cáo phát triển du lịch của Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể và đồ án định hướng quy hoạch phát triển khu du lịch Ba Bể đến năm 2030.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Phát phiếu điều tra ngẫu nhiên đối với 50 khách du lịch nhằm khảo sát mức độ quan tâm và nhận thức về môi trường; đồng thời tiến hành 100 lượt quan sát thực địa trực tiếp hành vi thải rác tại tuyến đường ven hồ và khu vực bến xuồng.
  • Phương pháp lấy mẫu và bảo quản:
    • Lấy mẫu nước mặt suối theo TCVN 6663-6:2008.
    • Lấy mẫu nước hồ theo TCVN 5994:1995.
    • Bảo quản và xử lý mẫu theo TCVN 6663-3:2008.
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm:
STT Chỉ tiêu phân tích Phương pháp phân tích tiêu chuẩn
1 pH TCVN 6492:1999
2 Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) TCVN 6625:2000 (ISO 11923:1997)
3 Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD₅) TCVN 6001:1995 (ISO 5815:1989)
4 Nhu cầu oxy hóa học (COD) TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989)
5 Oxy hòa tan (DO) TCVN 5499:1995
  • Phương pháp đánh giá chỉ số chất lượng nước (WQI): Áp dụng công thức tính toán và thang phân loại chất lượng nước theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT ngày 01/07/2011 của Tổng cục Môi trường.
  • Tiêu chuẩn so sánh: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2: Dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt sau khi xử lý phù hợp, bảo tồn thủy sinh).
  • Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, xử lý và lập biểu đồ bằng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của Vườn quốc gia Ba Bể (Khu Ramsar quốc tế) và áp lực môi trường từ sự phát triển du lịch; xác định mục tiêu nghiên cứu tổng quát, mục tiêu cụ thể, các yêu cầu kỹ thuật cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo vệ môi trường nước hồ.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về mối quan hệ tương hỗ giữa du lịch và môi trường; phân tích các nguồn tác động đến môi trường tự nhiên và nhân văn. Đánh giá các yếu tố tự nhiên chi phối môi trường nước Hồ Ba Bể (chế độ thủy văn sông Năng, đặc điểm địa hình lòng chảo caxtơ, sự suy giảm thảm thực vật rừng đầu nguồn, quá trình bồi lắng xói mòn) và các yếu tố nhân sinh (hoạt động nông lâm nghiệp với tần suất phun thuốc bảo vệ thực vật 3–5 lần/vụ, nước thải sinh hoạt và dịch vụ du lịch). Tổng kết định hướng phát triển khu du lịch Ba Bể đến năm 2030 dựa trên hai trụ cột tài nguyên: thiên nhiên và văn hóa truyền thống bản địa gắn với mô hình du lịch sinh thái bền vững.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác lập đối tượng, phạm vi không gian và khung thời gian thực hiện nghiên cứu tại Vườn quốc gia Ba Bể. Chi tiết hóa 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm và các phương pháp kỹ thuật được triển khai: thu thập dữ liệu thứ cấp, điều tra xã hội học (50 phiếu hỏi, 100 lượt quan sát hành vi), quy trình lấy và bảo quản mẫu nước theo Tiêu chuẩn Việt Nam, danh mục phương pháp phân tích phòng thí nghiệm cho 5 chỉ tiêu hóa lý, phương pháp tính chỉ số WQI và quy trình xử lý dữ liệu.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

  • Khái quát điều kiện tự nhiên, nhân văn và hạ tầng: Phân tích đặc điểm địa hình caxtơ kỷ Đơvôn giữa (200 triệu năm), khí hậu á nhiệt đới núi cao (nhiệt độ trung bình năm 22°C, độ ẩm 83%), hệ thống thủy lực 4 nhánh sông suối (sông Năng, sông Chợ Lèng, suối Bó Lù, suối Tả Han). Đa dạng sinh học gồm 620 loài cây thân gỗ (Trúc dây, Nghiến, Trai, Đinh, Lát Hoa), 38 loài thú (Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng), 111 loài chim, 24 loài bò sát/lưỡng cư (cá Cóc Tam Đảo), 54 loài cá, hơn 400 loài bướm và 137 loài thực vật nổi. Dân cư gồm 5 dân tộc (Tày chiếm 47–60% tại vùng đệm, Nùng, Dao, Kinh, Mông).
  • Hiện trạng phát triển du lịch: Lượng khách tăng từ 44.454 lượt (năm 2008) lên 83.388 lượt (năm 2013), trong đó khách nội địa chiếm khoảng 80%. Hệ thống cơ sở lưu trú năm 2014 gồm 28 cơ sở (19 nhà nghỉ du lịch cộng đồng tại bản Pác Ngòi và Bó Lù, 8 cơ sở tại thị trấn Chợ Rã, 2 cơ sở tại xã Khang Ninh). Đội tàu thuyền gồm 126 xuồng máy vận chuyển du khách được cấp phép.
  • Thực trạng chất lượng nước mặt năm 2014: Đánh giá kết quả đo đạc 5 thông số tại 4 điểm khảo sát (Bến xuồng Hồ 1 - MN1, Đảo An Mã - MN2, Suối Tà Han - MN3, Suối Chợ Lèng - MN4).
  • Diễn biến chất lượng nước giai đoạn 2012–2014: Đánh giá xu hướng biến động các chỉ tiêu pH, TSS, BOD₅, COD, DO, Coliform và dầu mỡ qua chuỗi số liệu quan trắc.
  • Đánh giá chỉ số WQI (năm 2013): Chỉ số WQI dao động từ 94,05 đến 98,66 (trung bình đạt 96,5), phản ánh nguồn nước hồ nằm trong nhóm chất lượng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt.
  • Ảnh hưởng từ du khách và giải pháp: Đánh giá áp lực từ rác thải, dầu máy từ 126 xuồng máy, kết quả khảo sát nhận thức bảo vệ môi trường của du khách; đề xuất các nhóm giải pháp kỹ thuật, quản lý và truyền thông.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các kết luận chính về hiện trạng ô nhiễm hữu cơ cục bộ tại các khu vực tập trung hoạt động du thuyền và dịch vụ; đưa ra các kiến nghị cụ thể đối với Ban quản lý Vườn quốc gia và chính quyền địa phương trong việc đầu tư hạ tầng thu gom xử lý nước thải, kiểm soát kỹ thuật phương tiện thủy và nâng cao hiệu quả quản lý môi trường du lịch.


Kết quả và đóng góp

Số liệu chất lượng môi trường nước mặt năm 2014

Kết quả phân tích mẫu nước mặt ngày 25/06/2014 tại 4 vị trí đặc trưng được tổng hợp và đối chiếu với QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2):

STT Thông số Đơn vị MN1 (Bến xuồng Hồ 1) MN2 (Đảo An Mã) MN3 (Suối Tà Han) MN4 (Suối Chợ Lèng) QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2)
1 pH - 7,83 7,25 7,36 7,16 6,0 – 8,5
2 TSS mg/l 21 3 14 12 30
3 BOD₅ mg/l 9,2 3,0 3,2 7,3 6
4 COD mg/l 19,5 7,2 6,2 13,8 15
5 DO mg/l 6,0 5,8 6,3 5,6 ≥ 5

Nhận xét:

  • Chỉ tiêu pH, TSS và DO tại tất cả các điểm đo đều nằm trong giới hạn cho phép theo quy chuẩn.
  • Đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ cục bộ: Hàm lượng BOD₅ tại MN1 (9,2 mg/l) và MN4 (7,3 mg/l) vượt ngưỡng cho phép loại A2 (6 mg/l). Hàm lượng COD tại điểm MN1 (19,5 mg/l) vượt ngưỡng cho phép (15 mg/l), phản ánh tác động trực tiếp từ nước thải sinh hoạt bến thuyền và khu dân cư du lịch Pác Ngòi.

Diễn biến chất lượng nước mặt giai đoạn 2012–2014

Số liệu quan trắc định kỳ tại khu vực bến xuồng Hồ Ba Bể cho thấy rõ xu hướng gia tăng hàm lượng các chất ô nhiễm:

STT Thông số Đơn vị Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 (Đợt 1) QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2)
1 pH - 7,32 7,42 7,83 6,0 – 8,5
2 TSS mg/l 3 12 21 30
3 BOD₅ mg/l 2,8 3,0 9,2 6
4 COD mg/l 5,8 6,6 19,5 15
5 DO mg/l 6,0 5,7 6,0 ≥ 5
6 Coliform MPN/100ml 440 470 KPT 5000
7 Dầu mỡ mg/l 0,04 0,03 KPT 0,02

(Ghi chú: KPT: Không phân tích).

Nhận xét:

  • TSS có xu hướng tăng liên tục từ 3 mg/l (2012) lên 12 mg/l (2013) và 21 mg/l (2014).
  • BOD₅ tăng đột biến từ 2,8 mg/l (2012) lên 9,2 mg/l (2014, tăng 6,4 mg/l); COD tăng từ 5,8 mg/l lên 19,5 mg/l (tăng 13,7 mg/l), chuyển từ mức đạt chuẩn sang vượt chuẩn quy định.
  • Hàm lượng dầu mỡ khoáng trong các năm 2012 và 2013 đều vượt giới hạn quy chuẩn loại A2 (0,02 mg/l), nguyên nhân chính do 126 xuồng máy hoạt động phát tán nhiên liệu và dầu bôi trơn ra mặt nước.

Đánh giá theo chỉ số WQI (Số liệu năm 2013)

STT Vị trí quan trắc Giá trị WQI Đánh giá chất lượng nước
1 Nước hồ Ba Bể (Hồ 1) 98,03 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt
2 Nước hồ Ba Bể (Hồ 3) 98,66 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt
3 Nước suối Tà Han (Bản Cốc Tộc) 95,13 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt
4 Nước suối Chợ Lèng (Cầu treo Pác Ngòi) 94,05 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nước sinh hoạt

Chỉ số WQI trung bình toàn khu vực đạt 96,5 (thuộc thang 91–100), cho thấy nhìn tổng thể chất lượng nước hồ Ba Bể năm 2013 ở mức rất tốt, đáp ứng mục đích cấp nước sinh hoạt.

Đóng góp và giải pháp đề xuất của tác giả

  • Đóng góp học thuật và thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chi tiết về chất lượng nước và hiện trạng hạ tầng du lịch tại Vườn quốc gia Ba Bể năm 2014; chỉ ra mối liên hệ định lượng giữa sự tăng trưởng du khách (từ 44.454 lên 83.388 lượt) với sự gia tăng các thông số ô nhiễm hữu cơ và dầu mỡ.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Quy hoạch và xây dựng hệ thống thu gom, trạm xử lý nước thải tập trung tại các cụm dân cư du lịch (Pác Ngòi, Bó Lù) và khu vực trung tâm điều hành; yêu cầu các nhà hàng, cơ sở lưu trú lắp đặt bể tự hoại đúng quy chuẩn.
    • Quản lý kỹ thuật và kiểm soát chặt chẽ 126 phương tiện xuồng máy; yêu cầu các chủ phương tiện kiểm tra định kỳ, trang bị thiết bị ngăn ngừa và thu gom dầu rò rỉ, chống tạo váng dầu loang trên mặt hồ.
    • Tăng cường bố trí thùng rác công cộng hợp vệ sinh tại các bến bãi, điểm dừng chân, đài ngắm cảnh; hoàn thiện quy trình thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt ra khỏi vùng đệm để xử lý, chấm dứt việc đốt rác thủ công hoặc xả rác xuống lòng hồ.
    • Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục môi trường cho cộng đồng cư dân địa phương và du khách; lồng ghép quy tắc ứng xử bảo vệ môi trường vào các chương trình du lịch sinh thái.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của khóa luận:
    • Phạm vi lấy mẫu thực địa năm 2014 được thực hiện trong 1 đợt (ngày 25/06/2014) với 4 vị trí lấy mẫu đại diện, chưa phản ánh được sự biến động chất lượng nước theo các mùa khác nhau trong năm (mùa mưa lũ và mùa khô cạn).
    • Đợt phân tích năm 2014 chưa phân tích lại hai chỉ tiêu quan trọng là Coliform và hàm lượng dầu mỡ tổng số do điều kiện kỹ thuật và kinh phí hạn chế.
    • Dung lượng mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở mức 50 phiếu hỏi ngẫu nhiên và 100 lượt quan sát hành vi, chủ yếu tập trung vào du khách nội địa tại bến xuồng trung tâm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Thiết lập mạng lưới quan trắc chất lượng nước định kỳ theo không gian và thời gian (nhiều đợt/năm) bao phủ toàn bộ 3 phân vùng hồ (Pé Lầm, Pé Lù, Pé Lèng) và các nhánh sông suối thượng nguồn.
    • Mở rộng phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật, kim loại nặng, dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp và tải lượng ô nhiễm chi tiết từ từng cơ sở homestay, nhà hàng ven hồ.
    • Nghiên cứu xác định sức chứa du lịch (carrying capacity) của Vườn quốc gia Ba Bể nhằm đề xuất giới hạn số lượng phương tiện thủy và du khách tối đa trong các đợt cao điểm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Du lịch Sinh thái tham khảo về phương pháp luận đánh giá tác động môi trường du lịch.
    • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn, Ban quản lý Vườn quốc gia Ba Bể, UBND huyện Ba Bể) sử dụng nguồn dữ liệu hiện trạng phục vụ công tác quy hoạch, thẩm định dự án và bảo tồn khu Ramsar Ba Bể.
  • Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phương pháp xây dựng chuỗi dữ liệu so sánh chất lượng nước mặt qua các năm và quy trình ứng dụng chỉ số WQI theo Quyết định 879/QĐ-TCMT.
    • Bảng thống kê chi tiết về 28 cơ sở lưu trú (quy mô phòng, hình thức kinh doanh) và số liệu biến động lượng du khách giai đoạn 2008–2013 tại Vườn quốc gia Ba Bể.

Câu hỏi thường gặp

1. Chỉ số chất lượng nước WQI tại khu vực Hồ Ba Bể năm 2013 đạt mức bao nhiêu và có ý nghĩa gì?

Theo số liệu quan trắc năm 2013, chỉ số WQI tại 4 điểm đo (Hồ 1, Hồ 3, suối Tà Han, suối Chợ Lèng) dao động từ 94,05 đến 98,66, giá trị trung bình toàn khu vực đạt 96,5. Theo thang đánh giá của Tổng cục Môi trường (mức 91–100), nguồn nước mặt tại hồ có chất lượng rất tốt, hoàn toàn đáp ứng mục đích sử dụng cho cấp nước sinh hoạt.

2. Các thông số môi trường nước nào năm 2014 có dấu hiệu vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT (Cột A2)?

Kết quả phân tích mẫu nước ngày 25/06/2014 cho thấy chỉ tiêu BOD₅ tại điểm MN1 (Bến xuồng Hồ 1) đạt 9,2 mg/l và tại MN4 (Suối Chợ Lèng) đạt 7,3 mg/l, đều vượt giới hạn quy chuẩn loại A2 (6 mg/l). Chỉ tiêu COD tại MN1 đạt 19,5 mg/l, vượt giới hạn quy chuẩn (15 mg/l). Điều này cho thấy hiện tượng ô nhiễm hữu cơ đã xuất hiện cục bộ tại các khu vực tập trung bến xuồng và hoạt động dân sinh, du lịch.

3. Diễn biến các chỉ tiêu TSS, BOD₅ và COD tại khu du lịch Hồ Ba Bể thay đổi như thế nào trong giai đoạn 2012–2014?

Trong giai đoạn 2012–2014, cả 3 chỉ tiêu đều có xu hướng gia tăng:

  • TSS tăng từ 3 mg/l (2012)