Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hồng, chuyên ngành Kinh doanh thương mại (Mã số: 9.21), được thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Võ Thanh Thu và TS. Lê Nhật Hạnh, bảo vệ năm 2021. Đề tài nghiên cứu: "Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các áp lực công việc đối với hành vi bán hàng phi đạo đức trường hợp ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về mặt thực tiễn, thị trường bảo hiểm nhân thọ (BHNT) tại Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2015–2019. Năm 2019, tổng doanh thu toàn ngành đạt trên 106.640 tỷ đồng (tăng 23,75% so với năm 2018) với 18 doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động và quy mô lực lượng đại lý đạt 866.769 người (Cục Quản lý giám sát bảo hiểm, 2020). Tuy nhiên, đi kèm với sự mở rộng mạng lưới phân phối là tình trạng vi phạm gia tăng. Tính đến tháng 8/2019, toàn ngành ghi nhận khoảng 8.000 đại lý vi phạm các quy định kinh doanh, tập trung vào các hành vi: chiếm dụng phí bảo hiểm của khách hàng, tư vấn không đầy đủ, che giấu điều khoản loại trừ hoặc cung cấp thông tin sai lệch (Nha Trang, 2019; Hiệp, 2020). Do sản phẩm BHNT mang tính vô hình, hợp đồng có thời hạn dài (5–10 năm hoặc trọn đời) và điều khoản phức tạp, khách hàng phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin tư vấn của đại lý, tạo ra nguy cơ chịu thiệt hại nếu đại lý thực hiện hành vi bán hàng phi đạo đức (Unethical Selling Behavior - USB).

Về mặt học thuật, các nghiên cứu quốc tế về đạo đức bán hàng chủ yếu tập trung tại thị trường Hoa Kỳ (chiếm phần lớn trong số 137 công trình thực nghiệm giai đoạn trước 2017 theo tổng kết của Ameer & Halinen, 2019), trong khi khu vực châu Á chỉ chiếm khoảng 9% (McClaren, 2015). Đa số công trình trước đây tiếp cận USB dưới giả định người bán hàng chủ động phân tích thiệt hơn về mặt kinh tế trước khi thực hiện hành vi sai trái (Abratt & Penman, 2002; Cupach & Carson, 2002; Tseng, 2019). Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu trọng tâm: thiếu vắng các mô hình giải thích cơ chế tác động của các áp lực công việc đặc thù (mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng, tính thách thức của mục tiêu) đến USB thông qua các phản ứng căng thẳng tâm lý (sự lo âu, sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm) và nhận thức hợp lý hóa (sự bào chữa) dưới góc độ bảo tồn nguồn lực cá nhân tại các thị trường mới nổi như Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Phân tích sự ảnh hưởng của các áp lực công việc đối với hành vi bán hàng phi đạo đức của đại lý trong ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Đề xuất và phân tích mô hình về những ảnh hưởng của các áp lực công việc (gồm mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng, tính thách thức của mục tiêu) đối với hành vi bán hàng phi đạo đức (USB).
    2. Khám phá vai trò chuỗi trung gian của sự lo âu, sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm và sự bào chữa trong mối quan hệ giữa các áp lực công việc và USB.
    3. Đề xuất các hàm ý quản trị cho các nhà quản lý doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam nhằm kiểm soát và giảm thiểu USB.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng và tính thách thức của mục tiêu ảnh hưởng đến hành vi bán hàng phi đạo đức (USB) như thế nào?
  2. Sự lo âu, sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm và sự bào chữa đóng vai trò trung gian như thế nào trong việc kết nối giữa mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng, tính thách thức của mục tiêu với USB?
  3. Những hàm ý quản trị nào có thể được rút ra từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm nhằm hạn chế hành vi bán hàng phi đạo đức trong ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Sự ảnh hưởng của các áp lực công việc (mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng, tính thách thức của mục tiêu) đối với hành vi bán hàng phi đạo đức (USB).
  • Đối tượng khảo sát: Những người tư vấn/đại lý bán các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm nhân thọ đang làm việc tại các hãng bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam.
  • Phạm vi không gian: Thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu nghiên cứu và các khảo sát được thực hiện trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu chính trong y văn

Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam theo ba nhánh nội dung chính:

  1. Nghiên cứu về hành vi bán hàng phi đạo đức (USB): Khái niệm USB được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết tổng quát về đạo đức marketing của Hunt & Vitell (1986) và mô hình đạo đức kinh doanh bán hàng của Ferrell và cộng sự (2007). Các nghiên cứu thực nghiệm của Roman & Ruiz (2005), Roman & Munuera (2005), Chen & Mau (2009) định nghĩa USB là các hành vi nhằm trục lợi cho người bán nhưng gây bất lợi hoặc rủi ro cho khách hàng (như nói dối về tính năng, cung cấp sai thông tin cạnh tranh, ép buộc khách hàng mua sản phẩm không phù hợp). Trong ngành bảo hiểm nhân thọ, Cupach & Carson (2002) khảo sát 336 đại lý tại Mỹ và chỉ ra rằng mức hoa hồng không tác động đáng kể đến hành vi tư vấn. Yi và cộng sự (2012) khảo sát 204 nhân viên bán bảo hiểm qua điện thoại tại Hàn Quốc, chứng minh môi trường đạo đức và đào tạo đạo đức làm giảm USB thông qua thái độ đạo đức. Cheng và cộng sự (2014) khảo sát 957 đại lý tại Đài Loan, xác định mối liên hệ giữa độ tuổi, thâm niên và quy mô doanh nghiệp với vi phạm đạo đức. Tại Việt Nam, Tuan (2012, 2015) nghiên cứu đạo đức lãnh đạo và tác động của bán hàng đạo đức đến lòng trung thành; Nhung (2014) tiếp cận góc độ pháp luật về trục lợi bảo hiểm; Pham và cộng sự (2015) khảo sát thái độ đạo đức kinh doanh của sinh viên.

  2. Nghiên cứu về các áp lực công việc: Áp lực công việc được xác định qua các khía cạnh: mâu thuẫn vai trò (Role Conflict - RCO), sức ép bán hàng (Selling Pressure - SPR) và tính thách thức của mục tiêu (Goal Difficulty - GDI) (Fang và cộng sự, 2004; Jaramillo và cộng sự, 2011; Chiu và cộng sự, 2015). Jaramillo và cộng sự (2011) khảo sát 342 nhân viên bán hàng tại Nam Mỹ, xác nhận mâu thuẫn vai trò thúc đẩy ý định nghỉ việc. Rostami và cộng sự (2019) nghiên cứu 216 người bán hàng tại Ấn Độ, chỉ ra sức ép thời gian vừa kích thích sáng tạo vừa làm tăng hành vi sai trái. Tại Việt Nam, Thanh (2016) và Tran (2020) nghiên cứu áp lực công việc theo giới tính và khu vực công, nhưng chưa gắn với hành vi người bán hàng.

  3. Nghiên cứu về cơ chế tâm lý trung gian dẫn đến hành vi phi đạo đức: Các yếu tố tâm lý gồm sự lo âu (Job Anxiety - ANJ) (Kouchaki & Desai, 2015; Fida và cộng sự, 2015), sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm (Ego Depletion - EGD) (Welsh & Ordonez, 2014; Wang và cộng sự, 2017), và sự bào chữa/chối bỏ đạo đức (Moral Justification - MJU / Moral Disengagement) (Bandura, 2002; Barsky, 2011; Seriki và cộng sự, 2020).

Tác giả & Năm Cơ sở lý thuyết Phương pháp & Mẫu Kết quả chính Nhận xét của tác giả luận án
Barsky (2011) Thuyết nhận thức xã hội (SCT) 2 nghiên cứu thực nghiệm (164 sinh viên và 83 học viên cao học tại Mỹ), thang đo Likert 7 điểm. Sự bào chữa và sự đổ lỗi thúc đẩy hành vi phi đạo đức. Sự tham gia ra quyết định điều tiết làm giảm tác động của sự bào chữa. Chưa xem xét đến tác động của các áp lực công việc thực tế đối với sự bào chữa.
Yi và cộng sự (2012) Thuyết đạo đức marketing (Hunt & Vitell, 1986); Mô hình Ferrell và cộng sự (2007) Khảo sát 204 đại lý bán BHNT qua điện thoại tại Hàn Quốc, thang đo Likert 5 điểm. Môi trường đạo đức và đào tạo đạo đức làm tăng thái độ đạo đức. Sức ép bán hàng làm suy yếu thái độ đạo đức, từ đó làm tăng USB. Mối quan hệ trực tiếp giữa sức ép bán hàng và USB không có ý nghĩa thống kê; chưa xem xét các trung gian căng thẳng tâm lý.
Tseng và cộng sự (2016) Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Khảo sát tình huống trên 335 người bán BHNT tại Đài Loan. Sản phẩm có hoa hồng cao và định hướng bán hàng của hãng thúc đẩy ý định tư vấn sai lệch cho khách hàng. Chỉ tập trung vào yếu tố kinh tế (hoa hồng), không phân tích áp lực công việc và trạng thái tâm lý.
Roman & Munuera (2005) Thuyết kỳ vọng sâu (Kelman, 1958) Phỏng vấn sâu và khảo sát 280 người bán hàng tại Thụy Điển. Lương cứng cao, hệ thống kiểm soát chặt và độ tuổi cao giúp tăng hành vi bán hàng đạo đức, giảm mâu thuẫn vai trò. Phát triển thang đo USB nhưng chưa đi sâu vào cơ chế phát sinh USB từ các áp lực công việc.
Yang và cộng sự (2018) Thuyết tùy ý (Caza, 2012) Nhật ký khảo sát hàng ngày trong 15 ngày (798 phản hồi từ 55 tư vấn tài chính tại Hồng Kông và Đài Loan). Sự phức tạp và đột xuất của nhiệm vụ thúc đẩy cả hành vi bán hàng linh hoạt và hành vi USB. Đã chỉ ra tác động của áp lực công việc nhưng chưa làm rõ các cơ chế trung gian tâm lý.
Seriki và cộng sự (2020) Thuyết hợp lý hóa (Kunda, 1990); Thuyết SCT (Bandura, 2002) Khảo sát 400 người bán bảo hiểm và bất động sản qua dịch vụ trực tuyến Qualtrics. Sự phức tạp trong tổ chức và môi trường làm tăng sự chối bỏ đạo đức, qua đó làm tăng hành vi phi đạo đức với khách hàng. Đã chứng minh vai trò trung gian của chối bỏ đạo đức nhưng chưa phân tích chuỗi suy kiệt tự kiểm và lo âu.

Khoảng trống luận án giải quyết

  1. Khoảng trống về mô hình lý thuyết: Các nghiên cứu trước phần lớn xem xét mối quan hệ trực tiếp hoặc trung gian đơn lẻ (thái độ đạo đức hoặc chối bỏ đạo đức). Luận án xây dựng mô hình chuỗi trung gian (serial mediation) kết hợp cả ba biến trạng thái tâm lý: Sự lo âu trong công việc (ANJ) $\rightarrow$ Sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm (EGD) $\rightarrow$ Sự bào chữa (MJU) để giải thích tiến trình chuyển hóa từ áp lực công việc sang hành vi USB.
  2. Khoảng trống về cách tiếp cận bản chất hành vi: Khác với quan điểm truyền thống xem USB là kết quả của sự toan tính vụ lợi có ý thức, luận án tiếp cận USB như một phản ứng phòng vệ vô thức nhằm bảo tồn nguồn lực cá nhân khi các nguồn lực nhận thức và tự kiểm soát bị cạn kiệt bởi áp lực công việc.
  3. Khoảng trống về bối cảnh thực nghiệm: Bổ sung bằng chứng thực nghiệm định lượng về USB trong ngành dịch vụ bảo hiểm nhân thọ tại một quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á (Việt Nam).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm

Luận án tích hợp ba lý thuyết nền tảng để xây dựng khung phân tích:

  • Thuyết bảo tồn nguồn lực (Conservation of Resources Theory - COR) (Hobfoll, 1989, 2002, 2016): Giả định con người luôn nỗ lực duy trì, bảo vệ và xây dựng các nguồn lực có giá trị (thời gian, năng lượng, trạng thái tâm lý ổn định). Khi các áp lực công việc đe dọa làm mất mát nguồn lực, cá nhân sẽ rơi vào trạng thái căng thẳng (lo âu, cạn kiệt tự kiểm) và phải sử dụng các cơ chế đối phó để hạn chế tiêu hao thêm nguồn lực.
  • Thuyết nguồn lực - yêu cầu công việc (Job Demands-Resources Theory - JD-R) (Bakker & Demerouti, 2017): Phân định các yếu tố công việc thành hai nhóm: yêu cầu công việc (Job Demands) và nguồn lực công việc (Job Resources). Mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng và mục tiêu khó đóng vai trò là những yêu cầu công việc quá mức làm xói mòn năng lượng thể chất và tinh thần của người lao động.
  • Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory - SCT) (Bandura, 2002): Giải thích cơ chế tự điều chỉnh nhận thức. Khi bị căng thẳng và suy kiệt, cá nhân sử dụng cơ chế bào chữa (Moral Justification) để tái định nghĩa hành vi sai trái thành hành vi có thể chấp nhận được về mặt đạo đức, loại bỏ cảm giác tội lỗi trước khi thực hiện USB.

Các khái niệm cốt lõi trong mô hình:

  • Hành vi bán hàng phi đạo đức (USB): Hành vi của người bán hàng nhằm mang lại lợi ích cho bản thân nhưng có thể gây bất lợi hoặc rủi ro cho khách hàng trong quá trình tư vấn và giao dịch (Roman & Ruiz, 2005; Chen & Mau, 2009). Luận án phân biệt rõ USB với hành vi phi đạo đức vì tổ chức (Unethical Pro-organizational Behavior - UPB) – vốn là hành vi vi phạm pháp luật/xã hội nhằm mục đích trực tiếp vì lợi ích của tổ chức (Tang và cộng sự, 2020).
  • Mâu thuẫn vai trò (RCO): Tình trạng người bán hàng phải đối mặt với các yêu cầu, kỳ vọng xung đột lẫn nhau giữa doanh nghiệp (đòi hỏi doanh số) và khách hàng (đòi hỏi quyền lợi tối ưu) (Radin & Predmore, 2002; Jaramillo và cộng sự, 2011).
  • Sức ép bán hàng (SPR): Sự cảm nhận về áp lực buộc phải đạt chỉ tiêu bán hàng từ các chính sách kiểm soát, đe dọa sa thải hoặc môi trường làm việc thúc ép của công ty bảo hiểm (Yi và cộng sự, 2012).
  • Tính thách thức của mục tiêu (GDI): Mức độ khó khăn và phức tạp của các chỉ tiêu kinh doanh được tổ chức ấn định cho người bán hàng (Locke & Latham, 1990; Roman & Munuera, 2005).
  • Sự lo âu (ANJ): Trạng thái cảm xúc tiêu cực, căng thẳng, bồn chồn nảy sinh từ các áp lực trong môi trường làm việc (McCarthy và cộng sự, 2016).
  • Sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm (Ego Depletion - EGD): Hiện tượng nguồn năng lượng tinh thần phục vụ cho việc tự kiểm soát, kiềm chế xung động và duy trì các quy chuẩn đạo đức bị suy giảm nghiêm trọng (Baumeister & Vohs, 2016; Wang và cộng sự, 2017).
  • Sự bào chữa (Moral Justification - MJU): Quá trình nhận thức mà qua đó cá nhân biện minh cho các hành vi sai trái bằng các lý do mang tính chuẩn mực, nghĩa vụ hoặc hoàn cảnh bắt buộc (Bandura, 2002; Barsky, 2011).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng qua ba bước chuẩn hóa:

  1. Bước 1: Tổng quan lý thuyết và đề xuất mô hình ban đầu. Xác lập khung phân tích và phát triển hệ thống thang đo nháp dựa trên các công trình quốc tế.
  2. Bước 2: Nghiên cứu định tính và nghiên cứu sơ bộ (định lượng lần 1):
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn 3 nhóm đối tượng gồm: (1) Đại lý/tư vấn viên bán BHNT có kinh nghiệm thực tế; (2) Giảng viên/chuyên gia nghiên cứu về quản trị và marketing; (3) Khách hàng đã tham gia mua hợp đồng BHNT.
    • Phân tích nội dung định tính (Qualitative Content Analysis): Chia nhỏ văn bản phỏng vấn thành các đơn vị ý nghĩa (meaning units), mã hóa và cô đọng để điều chỉnh câu chữ, xác lập thang đo phù hợp với bối cảnh kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.
    • Nghiên cứu sơ bộ: Khảo sát định lượng thử nghiệm bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện. Phân tích độ tin cậy và giá trị thang đo sơ bộ qua phần mềm SmartPLS dựa trên hệ số tải ngoài (Outer Loading - OL), Cronbach's Alpha, độ tin cậy tổng hợp (CR), phương sai trích (AVE) và tỷ lệ Heterotrait-Monotrait (HTMT).
  3. Bước 3: Nghiên cứu chính thức (định lượng lần 2):
    • Phương pháp chọn mẫu: Kết hợp lấy mẫu hạn ngạch (quota sampling) và lấy mẫu thuận tiện (convenience sampling). Căn cứ vào số liệu của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm năm 2019, hãng Bảo Việt là doanh nghiệp duy nhất có 100% vốn trong nước chiếm 23,87% thị phần doanh thu toàn ngành (phần còn lại thuộc về 17 hãng có vốn đầu tư nước ngoài). Tác giả đã phân bổ hạn ngạch thu thập dữ liệu với tỷ lệ khoảng 23% mẫu là đại lý Bảo Việt và 77% mẫu là đại lý từ các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam.
    • Quy mô mẫu chính thức: Thu thập hợp lệ $N = 402$ đại lý tư vấn bán bảo hiểm nhân thọ.
    • Công cụ và kỹ thuật phân tích: Phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) xử lý trên phần mềm SmartPLS nhằm đánh giá mô hình đo lường và kiểm định các giả thuyết về tác động trực tiếp và tác động chuỗi trung gian.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này phác thảo toàn diện bức tranh bối cảnh nghiên cứu. Về mặt học thuật, tác giả điểm lại quá trình phát triển của các nghiên cứu về đạo đức bán hàng trong hơn năm thập kỷ qua, chỉ ra sự thiếu hụt các nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia đang phát triển ở châu Á. Về mặt thực tiễn, chương 1 cung cấp dữ liệu thống kê chi tiết về thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam giai đoạn 2015–2019, nổi bật là tốc độ tăng trưởng doanh thu hàng năm trên 20%, sự tham gia của 18 công ty bảo hiểm và lực lượng đại lý đông đảo (866.769 người vào năm 2019). Tác giả nêu bật mâu thuẫn giữa sự bùng nổ về quy mô và các rủi ro đạo đức khi có tới 8.000 đại lý vi phạm (tính đến tháng 8/2019). Từ đó, chương 1 xác lập đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian/thời gian, 3 mục tiêu cụ thể, 3 câu hỏi nghiên cứu và bố cục tổng thể 5 chương của luận án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 2 thiết lập nền tảng lý luận vững chắc cho đề tài. Tác giả phân tích nguồn gốc khái niệm đạo đức, đạo đức kinh doanh, hành vi phi đạo đức và làm rõ định nghĩa hành vi bán hàng phi đạo đức (USB) theo tiếp cận của Roman & Ruiz (2005) và Chen & Mau (2009). Điểm tựa lý thuyết của luận án được xây dựng từ sự kết hợp giữa Thuyết bảo tồn nguồn lực (COR), Thuyết yêu cầu - nguồn lực công việc (JD-R) và Thuyết nhận thức xã hội (SCT). Tác giả lập luận chi tiết cho các mối quan hệ cấu thành mô hình nghiên cứu đề xuất:

  • Mối quan hệ trực tiếp giữa 3 áp lực công việc (mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng, tính thách thức của mục tiêu) đối với USB.
  • Mối quan hệ giữa 3 áp lực công việc đối với sự lo âu (ANJ) và sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm (EGD).
  • Tác động của ANJ và EGD đến nhận thức bào chữa (MJU) và hành vi USB.
  • Vai trò chuỗi trung gian của ANJ, EGD và MJU trong việc truyền dẫn tác động từ các áp lực công việc đến USB.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày quy trình nghiên cứu thực nghiệm chi tiết qua ba giai đoạn. Tác giả diễn giải quá trình dịch thuật và hiệu chỉnh hệ thống thang đo gốc: Thang đo mâu thuẫn vai trò (RCO), sức ép bán hàng (SPR), tính thách thức của mục tiêu (GDI), sự lo âu (ANJ), sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm (EGD), sự bào chữa (MJU) và USB. Quy trình nghiên cứu định tính được triển khai qua phỏng vấn sâu 3 nhóm đối tượng. Kết quả phỏng vấn được xử lý bằng kỹ thuật phân tích nội dung định tính, chia văn bản thành các đơn vị ý nghĩa (Bảng 3.6) và cô đọng thành thang đo điều chỉnh (Bảng 3.8). Nghiên cứu sơ bộ được tiến hành để sàng lọc thang đo (Bảng 3.9 và Bảng 3.10). Tiếp đó, nghiên cứu chính thức được thực hiện trên mẫu $N = 402$ đại lý bảo hiểm nhân thọ được chọn theo phương pháp kết hợp hạn ngạch (23% đại lý Bảo Việt, 77% đại lý các hãng ngoại) và lấy mẫu thuận tiện, đảm bảo độ bao phủ thị trường.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày chi tiết kết quả xử lý dữ liệu định lượng trên mẫu 402 đại lý bằng phần mềm SmartPLS:

  • Đánh giá mô hình đo lường chính thức (lần 2): Tất cả các thang đo đều đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ: hệ số tải ngoài (OL) đạt yêu cầu, Cronbach's Alpha và độ tin cậy tổng hợp (CR) > 0,70, phương sai trích (AVE) > 0,50 (Bảng 4.2). Giá trị phân biệt được khẳng định thông qua tiêu chí tỷ lệ HTMT đều nhỏ hơn ngưỡng chuẩn 0,85 (Bảng 4.3).
  • Kiểm định mô hình cấu trúc và các giả thuyết (Bảng 4.4):
    • Tác động trực tiếp: Giả thuyết về tác động trực tiếp từ Sức ép bán hàng (SPR) đến USB được ủng hộ về mặt thống kê. Ngược lại, các giả thuyết về tác động trực tiếp từ Mâu thuẫn vai trò (RCO) đến USB và từ Tính thách thức của mục tiêu (GDI) đến USB không được ủng hộ.
    • Tác động gián tiếp và chuỗi trung gian: Mô hình kiểm định xác nhận sự tồn tại của chuỗi trung gian: Mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng và tính thách thức của mục tiêu đều tác động tích cực có ý nghĩa thống kê đến Sự lo âu (ANJ) và Sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm (EGD). Tiếp đó, ANJ và EGD tác động tích cực đến Sự bào chữa (MJU), và MJU thúc đẩy gia tăng USB. Sự bào chữa cũng đóng vai trò là nhân tố trung gian kết nối giữa sự lo âu, sự suy kiệt tự kiểm với USB.
  • Thảo luận kết quả: Tác giả đối chiếu phát hiện với các nghiên cứu của Yi và cộng sự (2012), Chiu và cộng sự (2015), Barsky (2011) và Seriki và cộng sự (2020), làm rõ tính đặc thù của tâm lý đại lý bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương cuối cùng tổng kết các kết quả cốt lõi của luận án, khẳng định các đóng góp về lý thuyết chuỗi trung gian và thực tiễn ngành BHNT. Tác giả đề xuất ba nhóm hàm ý quản trị chuyên sâu dành cho ban lãnh đạo và các nhà quản lý đại lý tại các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam:

  1. Giảm thiểu mâu thuẫn vai trò trong công việc: Thiết lập các quy chuẩn phân định rõ ràng giữa trách nhiệm tư vấn đúng nhu cầu khách hàng và chỉ tiêu kinh doanh của công ty.
  2. Cân nhắc và điều tiết sức ép bán hàng ở mức độ phù hợp: Điều chỉnh các chính sách thi đua, áp lực sa thải và cách thức giám sát để tránh đẩy đại lý vào tình trạng căng thẳng cực độ.
  3. Thiết lập hệ thống mục tiêu kinh doanh khoa học: Xây dựng chỉ tiêu bán hàng có tính khả thi, đi kèm với các chương trình đào tạo đạo đức nghề nghiệp thực chất thay vì chỉ huấn luyện kỹ năng và thủ thuật bán hàng. Chương này cũng nêu rõ các hạn chế về mặt phương pháp và gợi ý các hướng phát triển cho các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Phát triển và kiểm định mô hình chuỗi trung gian (Serial Mediation Model): Luận án đã tích hợp thành công Thuyết bảo tồn nguồn lực (COR), Thuyết yêu cầu - nguồn lực công việc (JD-R) và Thuyết nhận thức xã hội (SCT) để giải thích cơ chế tâm lý nhiều tầng nấc. Kết quả chứng minh rằng các áp lực công việc (mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng, mục tiêu thách thức) không nhất thiết tác động trực tiếp đến hành vi sai trái, mà truyền dẫn gián tiếp qua việc kích hoạt trạng thái lo âu và suy kiệt tự kiểm, từ đó hình thành nhận thức bào chữa trước khi biểu hiện thành hành vi USB.
  2. Cung cấp góc nhìn mới về bản chất của USB: Khác biệt với các nghiên cứu trước đây vốn nhìn nhận người bán hàng chủ động thực hiện USB dựa trên toan tính trục lợi có ý thức (Abratt & Penman, 2002; Tseng, 2019), luận án chứng minh USB có thể xuất phát từ việc người bán hàng cạn kiệt nguồn lực tự kiểm soát nhận thức do căng thẳng kéo dài. Khi không còn đủ năng lượng tâm lý để phân tích các khía cạnh đạo đức, họ thực hiện USB như một phản ứng tự vệ thụ động nhằm đối phó với áp lực công việc và bảo tồn nguồn lực còn lại của bản thân.
  3. Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho y văn châu Á: Khắc phục sự mất cân đối trong y văn thế giới (vốn tập trung chủ yếu tại Mỹ) bằng một nghiên cứu thực nghiệm quy mô và phương pháp chặt chẽ trong ngành dịch vụ bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn và quản trị

  1. Làm rõ bức tranh đạo đức bán hàng trong ngành BHNT Việt Nam: Cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và định tính thực tế về mức độ cảm nhận áp lực, trạng thái kiệt quệ tâm lý và các dạng hành vi phi đạo đức phổ biến của đại lý bảo hiểm.
  2. Hệ thống hóa ba nhóm giải pháp quản trị cho doanh nghiệp bảo hiểm:
    • Kiểm soát sức ép bán hàng: Do sức ép bán hàng có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến USB, các doanh nghiệp bảo hiểm cần rà soát lại các chỉ tiêu doanh số ngắn hạn, giảm thiểu việc sử dụng chế tài sa thải mang tính đe dọa, đồng thời chuyển đổi từ mô hình quản trị áp đặt sang hỗ trợ và tư vấn giải pháp cho đại lý.
    • Hạn chế mâu thuẫn vai trò: Xây dựng lại hệ thống đánh giá kết quả công việc (KPIs), trong đó tích hợp các chỉ số về chất lượng tư vấn, tỷ lệ duy trì hợp đồng năm thứ hai ($K_2$), và mức độ hài lòng của khách hàng song song với chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm mới ($FYP$).
    • Tái cấu trúc hoạt động đào tạo đại lý: Chuyển trọng tâm từ việc huấn luyện kỹ thuật/thủ thuật chốt hợp đồng sang đào tạo đạo đức nghề nghiệp, cung cấp kiến thức pháp lý và các kỹ năng quản trị cảm xúc, giúp đại lý ứng phó với sự lo âu và ngăn ngừa suy kiệt nguồn lực tự kiểm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Dựa trên nội dung tự nhận định của tác giả trong văn bản luận án:

  • Về phương pháp chọn mẫu: Do ngành BHNT tại Việt Nam chưa có hệ thống thống kê công khai đầy đủ về đặc điểm nhân khẩu học chi tiết của toàn bộ lực lượng đại lý, nghiên cứu phải sử dụng kết hợp phương pháp lấy mẫu hạn ngạch (dựa trên thị phần doanh thu của doanh nghiệp trong nước Bảo Việt) và lấy mẫu thuận tiện. Điều này phần nào hạn chế khả năng khái quát hóa tối đa cho toàn bộ các nhóm đại lý tại các vùng sâu, vùng xa.
  • Về bối cảnh ngành nghề: Nghiên cứu chỉ tập trung khảo sát trong ngành dịch vụ bảo hiểm nhân thọ. Do đặc thù sản phẩm bảo hiểm có tính vô hình cao và hợp đồng dài hạn phức tạp, kết quả nghiên cứu có thể mang tính đặc thù và cần được kiểm chứng lại khi áp dụng cho các ngành hàng bán lẻ, sản phẩm tiêu dùng hữu hình hoặc các dịch vụ tài chính khác.
  • Về mô hình đo lường thời gian (Cross-sectional design): Dữ liệu định lượng được thu thập tại một thời điểm (cắt ngang), chưa theo dõi được sự biến đổi theo chuỗi thời gian (Longitudinal design) về diễn biến tâm lý từ lúc đại lý mới vào nghề đến khi xuất hiện trạng thái suy kiệt tự kiểm và thực hiện USB.
  • Gợi ý hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các ngành dịch vụ tài chính khác như ngân hàng (hoạt động Bancassurance), chứng khoán hoặc bất động sản.
    • Nghiên cứu thực nghiệm theo chiều dọc (theo dõi hành vi qua các khoảng thời gian khác nhau) để đánh giá sâu hơn sự suy giảm nguồn lực tự kiểm.
    • Bổ sung các biến điều tiết tiềm năng như phong cách lãnh đạo đạo đức (Ethical Leadership) hoặc sự hỗ trợ từ tổ chức (Perceived Organizational Support) nhằm tìm kiếm các cơ chế ngăn chặn chuỗi tác động tiêu cực từ áp lực công việc.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn sâu sắc cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp tài liệu tham khảo mẫu mực về quy trình kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích nội dung, mã hóa đơn vị ý nghĩa) và định lượng (mô hình PLS-SEM với phần mềm SmartPLS). Đặc biệt hữu ích cho các đề tài nghiên cứu về hành vi tổ chức, quản trị nguồn nhân lực, marketing dịch vụ và đạo đức kinh doanh.
  • Giảng viên và chuyên gia nghiên cứu: Bổ sung khung phân tích lý thuyết tích hợp (COR, JD-R, SCT) để giảng dạy và phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tâm lý học lao động và hành vi bán hàng.
  • Các nhà quản lý tại doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ: Là cẩm nang tham khảo thực tế giúp các giám đốc kinh doanh, trưởng ban đại lý và bộ phận đào tạo nhận diện được những nguy cơ tiềm ẩn từ chính sách áp chỉ tiêu doanh số quá mức, từ đó thiết kế lại hệ thống thi đua khen thưởng và môi trường làm việc nhân văn, lành mạnh.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Cục Quản lý giám sát bảo hiểm): Cung cấp các luận cứ thực tế để hoàn thiện khung pháp lý quản lý hoạt động đại lý bảo hiểm, siết chặt các quy định về chuẩn mực tư vấn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tài chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa hành vi bán hàng phi đạo đức (USB) như thế nào và phân biệt với hành vi phi đạo đức vì tổ chức (UPB) ra sao?

Trong luận án, hành vi bán hàng phi đạo đức (USB) được tiếp cận theo Roman & Ruiz (2005) và Chen & Mau (2009), là những hành vi mà người bán hàng thực hiện trong quá trình tư vấn và giao dịch nhằm đem lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân người bán (như đạt chỉ tiêu, giữ việc, hưởng hoa hồng) nhưng có thể gây ra bất lợi, thiệt hại hoặc rủi ro cho khách hàng (ví dụ: nói dối tính năng sản phẩm, che giấu điều khoản bất lợi). Ngược lại, hành vi phi đạo đức vì tổ chức (UPB - Unethical Pro-organizational Behavior) là hành vi vi phạm các giá trị đạo đức hoặc pháp luật nhưng với động cơ ban đầu nhằm bảo vệ hoặc nâng cao hiệu quả hoạt động cho tổ chức/doanh nghiệp, qua đó người bán hàng chỉ hưởng lợi gián tiếp (Tang và cộng sự, 2020; Sheedy và cộng sự, 2020).

2. Kết quả kiểm định các tác động trực tiếp từ 3 áp lực công việc đến USB ra sao?

Kết quả phân tích mô hình cấu trúc PLS-SEM trên mẫu 402 đại lý BHNT cho thấy:

  • Mối quan hệ tác động trực tiếp từ Sức ép bán hàng (SPR) đến USB được ủng hộ về mặt thống kê ($p < 0,05$).
  • Mối quan hệ tác động trực tiếp từ Mâu thuẫn vai trò (RCO) đến USB không được ủng hộ.
  • Mối quan hệ tác động trực tiếp từ Tính thách thức của mục tiêu (GDI) đến USB không được ủng hộ. Điều này khẳng định mâu thuẫn vai trò và mục tiêu khó không thúc đẩy người bán hàng vi phạm đạo đức một cách trực tiếp, mà các tác động này chủ yếu diễn ra thông qua các kênh trung gian tâm lý.

3. Cơ chế chuỗi trung gian tâm lý trong luận án vận hành như thế nào?

Luận án phát hiện cơ chế chuỗi trung gian nối tiếp (Serial Mediation): $$\text{Áp lực công việc (RCO, SPR, GDI)} \longrightarrow \text{Sự lo âu (ANJ) & Suy kiệt tự kiểm (EGD)} \longrightarrow \text{Sự bào chữa (MJU)} \longrightarrow \text{USB}$$ Cụ thể, khi đại lý đối mặt với mâu thuẫn vai trò, sức ép bán hàng và mục tiêu khó khăn, các nguồn năng lượng tinh thần của họ bị tiêu hao, làm bùng phát cảm xúc lo âu trong công việc và rơi vào tình trạng suy kiệt nguồn lực tự kiểm soát. Khi năng lực tự kiểm bị cạn kiệt, cá nhân sẽ kích hoạt cơ chế nhận thức bào chữa (cho rằng hành vi sai trái là do hoàn cảnh ép buộc hoặc để mưu sinh), từ đó dẫn đến việc thực hiện hành vi bán hàng phi đạo đức mà không bị cắn rứt lương tâm.

4. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát định lượng chính thức được thực hiện như thế nào?

Nghiên cứu chính thức được thực hiện trên mẫu khảo sát gồm $N = 402$ đại lý tư vấn bán bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam. Do thị trường chưa có dữ liệu nhân khẩu học tổng thể của đại lý, tác giả đã áp dụng phương pháp lấy mẫu kết hợp hạn ngạch (quota sampling) và thuận tiện (convenience sampling). Tỷ lệ hạn ngạch được xác lập căn cứ vào thị phần doanh thu năm 2019 của Cục Quản lý giám sát bảo hiểm: Bảo Việt là hãng bảo hiểm duy nhất có 100% vốn trong nước chiếm 23,87% thị phần (tương ứng lấy khoảng 23% dung lượng mẫu), và 77% dung lượng mẫu còn lại được thu thập từ đại lý của 17 doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.

5. Luận án vận dụng Thuyết bảo tồn nguồn lực (COR) để giải thích USB khác biệt như thế nào so với các nghiên cứu trước?

Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận USB dựa trên thuyết lựa chọn duy lý hoặc thuyết đạo đức marketing, giả định rằng người bán hàng chủ động dành nguồn lực nhận thức để cân nhắc thiệt hơn trước khi cố tình vi phạm chuẩn mực đạo đức. Ngược lại, luận án vận dụng Thuyết bảo tồn nguồn lực (COR) để đưa ra góc nhìn hoàn toàn mới: người bán hàng thực hiện USB không phải do toan tính có ý thức, mà là do họ muốn bảo tồn nguồn lực cá nhân. Đối mặt với những căng thẳng và áp lực công việc quá lớn, người bán hàng phải tập trung toàn bộ năng lượng tinh thần còn lại để đối phó với công việc, dẫn đến việc họ không còn đủ nguồn lực nhận thức để phân tích các khía cạnh đạo đức, và thực hiện USB như một hành vi đối phó tự vệ nhằm giải tỏa áp lực.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hồng đã làm sáng tỏ cơ chế tác động của các áp lực công việc đối với hành vi bán hàng phi đạo đức của lực lượng đại lý trong ngành bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam. Thông qua việc tích hợp các lý thuyết COR, JD-R và SCT cùng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp và mô hình phân tích PLS-SEM trên mẫu 402 đại lý, công trình đã chứng minh vai trò cầu nối của chuỗi trung gian tâm lý gồm sự lo âu, sự suy kiệt nguồn lực tự kiểm và sự bào chữa. Các kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp luận cứ khoa học giải thích bản chất phòng vệ nguồn lực của hành vi phi đạo đức mà còn cung cấp hệ thống giải pháp thực tiễn có giá trị giúp các doanh nghiệp bảo hiểm hoàn thiện chính sách quản trị kinh doanh bền vững.