Tổng quan luận án
Đột quỵ não là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và để lại di chứng tàn phế nặng nề trong các bệnh lý nội khoa trên phạm vi toàn cầu. Theo các số liệu dịch tễ học được tổng hợp trong luận án, nhồi máu não (NMN) chiếm khoảng 80% đến 85% tổng số các ca đột quỵ não. Tại Việt Nam, nghiên cứu dịch tễ học của Trịnh Viết Thắng (2011) tại tỉnh Khánh Hòa ghi nhận tỷ lệ hiện mắc đột quỵ não là 294,7/100.000 dân; nghiên cứu của Dương Đình Chỉnh (2012) tại Nghệ An ghi nhận tỷ lệ mới mắc là 104,7/100.000 dân và tỷ lệ tử vong là 65,1/100.000 dân. Cơ chế bệnh sinh phổ biến nhất của nhồi máu não là hình thành huyết khối gây tắc nghẽn động mạch nuôi dưỡng nhu mô não, trong đó tiểu cầu giữ vai trò trung tâm trong quá trình khởi phát và phát triển cục huyết khối ban đầu.
Thuốc chống ngưng tập tiểu cầu clopidogrel (dẫn xuất thienopyridine) đã được Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), Hội Đột quỵ Hoa Kỳ (ASA) và Tổ chức Đột quỵ Thế giới (WSO) khuyến cáo sử dụng rộng rãi trong điều trị và dự phòng thứ phát các biến cố huyết khối ở bệnh nhân nhồi máu não và cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA). Tuy nhiên, trên thực tế lâm sàng, tỷ lệ biến cố tắc mạch tái phát vẫn được ghi nhận ở những bệnh nhân đang điều trị duy trì clopidogrel đúng liều chuẩn (75 mg/ngày). Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra hiện tượng kém đáp ứng hoặc kháng clopidogrel xảy ra với tỷ lệ dao động từ 4% đến 30% tùy theo quần thể nghiên cứu. Nguyên nhân được xác định bắt nguồn từ sự đa hình di truyền của hệ enzym cytochrome P450 tại gan—đặc biệt là các alen mất chức năng CYP2C19*2 và CYP2C19*3—cùng với các yếu tố nhân trắc, lâm sàng, cận lâm sàng và tương tác thuốc phối hợp.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây về tính đáp ứng của clopidogrel và đa hình gen CYP2C19 chủ yếu thực hiện trên người khỏe mạnh hoặc bệnh nhân mắc hội chứng mạch vành cấp, can thiệp đặt stent mạch vành, với phác đồ phối hợp clopidogrel và aspirin. Chưa có công trình nào được công bố khảo sát một cách toàn diện ảnh hưởng của các alen CYP2C19*2, CYP2C19*3 cũng như các yếu tố ngoài gen tới tính đáp ứng của clopidogrel trên nhóm bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não. Để giải quyết khoảng trống nghiên cứu này, nghiên cứu sinh Đỗ Đức Thuần đã thực hiện luận án tiến sĩ y học chuyên ngành Khoa học thần kinh (mã số: 9720159) tại Học viện Quân y, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Phạm Đình Đài và PGS.TS. Trần Văn Khoa.
Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định một số yếu tố ngoài gen CYP2C19 liên quan với tính đáp ứng của clopidogrel ở bệnh nhân nhồi máu não.
- Đánh giá ảnh hưởng của alen CYP2C19*2, CYP2C19*3 tới tính đáp ứng của clopidogrel ở bệnh nhân nhồi máu não.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: 248 bệnh nhân nhồi máu não cấp được điều trị nội trú bằng clopidogrel liều đơn 75 mg/ngày liên tục từ 7 ngày trở lên.
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103; xét nghiệm độ ngưng tập tiểu cầu thực hiện tại Khoa Huyết học - Truyền máu, Bệnh viện Quân y 103; xét nghiệm di truyền xác định kiểu gen CYP2C19*2 và CYP2C19*3 thực hiện tại Bộ môn Sinh học và Di truyền Y học, Học viện Quân y.
- Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 05 năm 2017 đến tháng 08 năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Tài liệu luận án tổng quan chi tiết tiến trình nghiên cứu dược lý, hiệu quả lâm sàng và hiện tượng kháng clopidogrel qua các mốc nghiên cứu quốc tế:
- Hiệu quả lâm sàng của clopidogrel: Thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm CAPRIE (1996) trên 19.185 bệnh nhân chứng minh clopidogrel (75 mg/ngày) làm giảm 8,7% nguy cơ tương đối các biến cố mạch máu kết hợp so với aspirin (325 mg/ngày). Nghiên cứu CHANCE (2013) tại Trung Quốc xác lập phác đồ phối hợp sớm clopidogrel (liều nạp 300 mg, sau đó 75 mg/ngày) và aspirin (75 mg/ngày) trong 21 ngày đầu ở bệnh nhân nhồi máu não nhẹ (NIHSS $\le 3$) và TIA nguy cơ cao giúp giảm tái phát đột quỵ có ý nghĩa thống kê so với đơn trị liệu aspirin.
- Khái niệm và tỷ lệ kháng clopidogrel: Khái niệm kém đáp ứng và kháng clopidogrel được Muller I. và cộng sự (2003) và Gurbel P. và cộng sự (2003) đưa ra khi đánh giá độ ngưng tập tiểu cầu sau can thiệp mạch vành. Nghiên cứu của Sacco R. và cộng sự (2008), Yi X. và cộng sự (2016) trên bệnh nhân nhồi máu não cho thấy tỷ lệ tái phát biến cố tắc mạch vẫn tồn tại đáng kể ở nhóm kháng thuốc.
- Vai trò của đa hình gen CYP2C19: Hulot J.S. và cộng sự (2006) chứng minh biến thể gen CYP2C19 làm giảm đáp ứng ức chế tiểu cầu của clopidogrel. Các thử nghiệm lâm sàng lớn như TRITON-TIMI 38 (Mega J. và cộng sự, 2009) và ELEVATE-TIMI 56 (Mega J. và cộng sự, 2011) khẳng định người mang alen giảm/mất chức năng (CYP2C19*2, CYP2C19*3) có nồng độ chất chuyển hóa hoạt tính thấp hơn, độ ngưng tập tiểu cầu tồn dư cao hơn và tăng tỷ lệ biến cố huyết khối tắc mạch. Năm 2010, Cơ quan Quản lý Thuốc và Thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã đưa ra cảnh báo "boxed warning" về việc giảm hiệu lực của clopidogrel ở nhóm bệnh nhân mang kiểu gen chuyển hóa kém.
- Các yếu tố ngoài gen: Nghiên cứu của Musallam K. và cộng sự (2011), Sakr H. và cộng sự (2006), Price M. và cộng sự (2009) chỉ ra tuổi cao, nữ giới, chỉ số khối cơ thể (BMI) cao, đái tháo đường, chỉ số viêm (CRP), albumin máu thấp và các tương tác thuốc (đặc biệt là thuốc ức chế bơm proton omeprazol, thuốc statin chuyển hóa qua CYP3A4 như atorvastatin) làm suy giảm tính đáp ứng của clopidogrel.
Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các công bố trước thời điểm hoàn thành luận án tập trung vào hai nhóm chủ đề:
- Tần số alen CYP2C19 ở người Việt Nam khỏe mạnh: Lee S. và cộng sự (2007) ghi nhận tỷ lệ mang alen CYP2C19*2 là 24% và CYP2C19*3 là 5%; Veiga M. và cộng sự (2009) ghi nhận tỷ lệ tương ứng là 31% và 6%; Lim Y. và cộng sự (2014) trên 127 người khỏe mạnh ghi nhận alen CYP2C19*1 chiếm 68,8%, CYP2C19*2 chiếm 26,4% và CYP2C19*3 chiếm 4,9%.
- Đa hình CYP2C19 và đáp ứng clopidogrel trên bệnh nhân tim mạch: Đỗ Quang Huân và cộng sự (2013) nghiên cứu 174 bệnh nhân bệnh động mạch vành đo ngưng tập tiểu cầu bằng máy PFA-100 thấy tỷ lệ kháng là 26,4%; Vũ Ngọc Trung và cộng sự (2016) xác định tần số kiểu gen CYP2C19 ở bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp; Nguyễn Thị Thúy Mậu và cộng sự (2017) và Vũ Thị Thơm và cộng sự (2018) khảo sát độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp đo độ truyền quang (LTA) trên bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp và đau thắt ngực không ổn định dùng phác đồ kết hợp clopidogrel và aspirin.
Khoảng trống nghiên cứu của luận án
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam đánh giá tính đáp ứng của clopidogrel khi dùng đơn trị liệu liều chuẩn 75 mg/ngày trên đối tượng đặc thù là bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não, đồng thời phân tích đồng bộ cả hai nhóm yếu tố: đa hình di truyền (CYP2C19*2, CYP2C19*3) và các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng, nhân trắc học và thuốc điều trị đồng diễn. Luận án của Đỗ Đức Thuần được thiết kế để lấp đầy khoảng trống này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và dược lý học
Clopidogrel là một tiền chất (prodrug) thuộc nhóm thienopyridine. Sau khi hấp thu qua đường tiêu hóa:
- Khoảng 85% lượng thuốc bị thủy phân bởi các enzym carboxylase esterase tại máu và mô thành dẫn xuất acid carboxylic không có hoạt tính sinh học.
- Khoảng 15% lượng thuốc còn lại được chuyển hóa qua gan qua hai bước liên tiếp nhờ hệ thống enzym Cytochrome P450 (bao gồm CYP2C19, CYP3A4/5, CYP2C9, CYP2B6, CYP1A2), trong đó isozym CYP2C19 đóng vai trò chuyển hóa chính ở cả hai giai đoạn:
- Bước 1: Oxy hóa vòng thiophene tạo thành 2-oxo-clopidogrel.
- Bước 2: Thủy phân tạo chất chuyển hóa có hoạt tính chứa nhóm thiol tự do.
Chất chuyển hóa có hoạt tính gắn không thuận nghịch (covalent) với thụ thể adenosine diphosphate (ADP) phân nhóm P2Y12 trên bề mặt tiểu cầu, ức chế quá trình ức chế adenylate cyclase, làm tăng nồng độ adenosine monophosphate vòng (cAMP) nội bào, qua đó ngăn chặn sự hoạt hóa phức hợp thụ thể glycoprotein IIb/IIIa và ức chế sự kết dính, ngưng tập tiểu cầu. Do tiểu cầu không có nhân và đời sống kéo dài khoảng 7 đến 10 ngày, tác dụng ức chế này kéo dài suốt chu kỳ sống của tiểu cầu.
Gen CYP2C19 nằm trên cánh dài nhiễm sắc thể số 10 (10q24.1-q24.3), gồm 9 exon và 8 intron. Alen bình thường mang chức năng là CYP2C19*1. Hai biến thể mất chức năng phổ biến nhất ở người Châu Á (chiếm tới 99% các alen đột biến) là:
- CYP2C19*2: Đột biến thay thế nucleotide Guanine bằng Adenine tại vị trí 681 trên exon 5 (c.681G>A, rs4244285), làm thay đổi vị trí cắt nối mARN và tạo codon kết thúc sớm ở acid amin 227.
- CYP2C19*3: Đột biến thay thế Guanine bằng Adenine tại vị trí 636 trên exon 3 (c.636G>A, rs4986893), tạo codon kết thúc sớm (Trp212Ter).
Dựa trên các kiểu gen tổ hợp, phân loại kiểu hình chuyển hóa thuốc theo Khuyến cáo của Hiệp hội Di truyền Dược Lâm sàng (CPIC - Scott S. và cộng sự, 2011, 2013) được tóm tắt trong bảng sau:
| Kiểu hình chuyển hóa |
Kiểu gen CYP2C19 |
Chức năng hoạt tính enzym |
Khuyến cáo sử dụng Clopidogrel (CPIC) |
| Chuyển hóa siêu nhanh (UM) |
*1/*17, *17/*17 |
Tăng hoạt tính |
Dùng liều clopidogrel tiêu chuẩn |
| Chuyển hóa mạnh/bình thường (EM) |
*1/*1 |
Hoạt tính bình thường |
Dùng liều clopidogrel tiêu chuẩn (75 mg/ngày) |
| Chuyển hóa trung bình (IM) |
*1/*2, *1/*3, *1/*4... |
Giảm một phần hoạt tính |
Cân nhắc thuốc thay thế (Prasugrel, Ticagrelor) |
| Chuyển hóa kém (PM) |
*2/*2, *2/*3, *3/*3... |
Mất hoàn toàn hoạt tính |
Khuyến cáo đổi thuốc thay thế (Prasugrel, Ticagrelor) |
Phương pháp xét nghiệm độ ngưng tập tiểu cầu
Luận án sử dụng phương pháp đo độ truyền quang (Light Transmission Aggregometry - LTA) với chất đồng vận ADP nồng độ 5 µmol/l trên máy Chrono-Log 530 VS. Đây là tiêu chuẩn vàng kinh điển để đánh giá chức năng ngưng tập tiểu cầu.
So sánh nguyên lý các phương pháp đo ngưng tập tiểu cầu được luận án tổng hợp:
| Phương pháp xét nghiệm |
Nguyên lý đo lường |
Ưu điểm |
Nhược điểm |
| LTA (Đo độ truyền quang) |
Đo độ truyền quang qua huyết tương giàu tiểu cầu kích thích bằng ADP |
Tiêu chuẩn vàng, phản ánh trực tiếp chức năng, độ nhạy cao |
Quy trình phức tạp, cần chuẩn bị mẫu kỹ trong vòng 2 giờ |
| VASP (Flow cytometry) |
Đếm tế bào dòng chảy xác định tỷ lệ phosphoryl hóa protein VASP |
Đặc hiệu cao cho thụ thể P2Y12, kết quả ổn định |
Chi phí cao, đòi hỏi trang thiết bị chuyên sâu |
| PFA-100 |
Đo thời gian tắc màng lọc do biến dạng tiểu cầu dưới áp lực dòng chảy |
Kỹ thuật nhanh, thực hiện đơn giản |
Phụ thuộc nồng độ von Willebrand và số lượng tiểu cầu |
| WBA (Máu toàn phần) |
Đo điện trở kháng giữa hai điện cực khi tiểu cầu bám dính |
Mẫu máu toàn phần, ít thao tác xử lý mẫu |
Kém đặc hiệu hơn LTA, độ tương quan biến thiên |
| VerifyNow |
Đo độ đục quang học của phản ứng ngưng tập tiểu cầu với vi hạt |
Nhanh chóng, tiện lợi tại giường bệnh |
Khó hiệu chỉnh lại thông số đo lường thủ công |
Tiêu chuẩn chẩn đoán kháng clopidogrel: Bệnh nhân được định nghĩa là kháng clopidogrel khi có độ ngưng tập tiểu cầu tối đa sau điều trị (LTA-ADP 5 µmol/l) $> 50%$ sau khi đã dùng clopidogrel liên tục ít nhất 7 ngày.
Phương pháp nghiên cứu thực tế và quy trình kỹ thuật
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang kết hợp phân tích.
- Cỡ mẫu: 248 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não nhập viện thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ.
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân:
- Được chẩn đoán nhồi máu não theo định nghĩa của WHO (1980).
- Hình ảnh cắt lớp vi tính (CT) sọ não xác định có tổn thương nhồi máu não.
- Được chỉ định và dùng clopidogrel (Plavix 75 mg/viên của Sanofi) liều 75 mg/ngày liên tục từ 7 ngày trở lên.
- Phác đồ điều trị nền ổn định và đồng nhất về nhóm thuốc bảo vệ thần kinh (Cerebrolysin 20 ml tiêm tĩnh mạch chậm, Piracetam 8 g tiêm tĩnh mạch chậm, Choline alfoscerate 2 g tiêm bắp).
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân dị ứng hoặc dùng sai liều clopidogrel; dùng thuốc chống đông (kháng vitamin K, NOAC), aspirin hoặc thuốc chống ngưng tập tiểu cầu khác trong vòng 2 tuần trước và trong nghiên cứu; dùng thuốc ức chế bơm proton omeprazol; điều trị tiêu sợi huyết cấp; can thiệp nội mạch hoặc phẫu thuật bóc tách nội mạc động mạch cảnh; rối loạn nước - điện giải nặng; rối loạn ý thức hoặc diện nhồi máu $> 1/3$ vùng chi phối động mạch não giữa; chuyển dạng chảy máu não; Hemoglobin $< 80$ g/l hoặc $> 160$ g/l; tiểu cầu $< 100 \times 10^9$/l hoặc $> 450 \times 10^9$/l; bệnh rối loạn đông máu; bệnh tim nặng (rung nhĩ, suy tim NYHA III-IV, viêm nội tâm mạc, van tim nhân tạo); suy gan, xơ gan, viêm gan; suy thận nặng (mức lọc cầu thận $< 30$ ml/phút/$1,73\text{ m}^2$ hoặc chạy thận nhân tạo); nhiễm khuẩn tiến triển phải dùng kháng sinh; bệnh nhân hoặc người đại diện không đồng ý tham gia.
- Quy trình xét nghiệm di truyền: Tách chiết ADN bộ gen từ máu ngoại vi chống đông bằng EDTA. Khuếch đại đoạn gen đặc hiệu bằng kỹ thuật PCR trên hệ thống máy GeneAmp PCR System 9700 (Applied Biosystems). Giải trình tự gen trực tiếp để xác định chính xác các kiểu alen CYP2C19*1, *2, *3.
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê y học chuyên dụng. Phân tích thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn), so sánh các biến định tính bằng test Chi-bình phương ($\chi^2$), so sánh các biến định lượng bằng Student's t-test hoặc Mann-Whitney U test. Phân tích tương quan, xây dựng đường cong ROC xác định giá trị dự đoán, tính tỷ suất chênh (Odds Ratio - OR) và phân tích hồi quy logistic đa biến để xác định các yếu tố độc lập ảnh hưởng tới tình trạng kháng clopidogrel.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ nền tảng lý thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu:
- Định nghĩa và bệnh học đột quỵ nhồi máu não: Phân tích chi tiết khái niệm theo chuẩn WHO (1980), sinh lý bệnh của dòng máu não và vùng nửa tối (penumbra) - khu vực nhu mô não có nguy cơ hoại tử nhưng còn khả năng hồi phục nếu được tái tưới máu và điều trị thích hợp. Vai trò của tiểu cầu được làm rõ qua 4 giai đoạn: bám dính vào lớp collagen dưới nội mạc, giải phóng các hạt đặc (chứa ADP, serotonin, canxi), kết dính thông qua thụ thể GP IIb/IIIa tạo mạng lưới fibrin và thúc đẩy mảng xơ vữa phát triển.
- Phân loại và lâm sàng nhồi máu não: Giới thiệu phân loại TOAST (xơ vữa động mạch lớn 37,3%, huyết khối từ tim 20,6%, tắc mạch nhỏ/lỗ khuyết 22,9%, nguyên nhân khác 3,0%, không rõ nguyên nhân) và các hội chứng lâm sàng theo định khu mạch máu (hệ động mạch cảnh trong, động mạch não giữa, não trước, hệ sống nền).
- Dược lý học và đáp ứng điều trị của Clopidogrel: Trình bày chi tiết đường chuyển hóa của thuốc tại gan, cơ chế phong bế chọn lọc không hồi phục thụ thể P2Y12 của ADP, động học ức chế tiểu cầu theo liều lượng và thời gian (liều 75 mg/ngày đạt ức chế ổn định 50-60% sau 4-7 ngày).
- Khái niệm kháng clopidogrel và phương pháp đo lường: Phân tích sự tương đồng giữa các thuật ngữ "kháng clopidogrel", "kém đáp ứng" và "hoạt hóa tiểu cầu tồn dư cao sau điều trị". Khẳng định phương pháp LTA với chất kích tập ADP 5 µmol/l là công cụ chuẩn mực để phân loại nhóm đáp ứng và kháng thuốc.
- Các yếu tố ảnh hưởng và đa hình CYP2C19: Tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về vai trò của tuổi, giới, BMI, đái tháo đường, tăng huyết áp, CRP, albumin máu, tương tác thuốc; đặc điểm cấu trúc di truyền gen CYP2C19, tần số phân bố alen mất chức năng ở người Châu Á và các giải pháp lâm sàng (tăng liều clopidogrel lên 150 mg, phối hợp aspirin, hoặc chuyển đổi sang thuốc ức chế P2Y12 thế hệ mới như ticagrelor, prasugrel).
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận, các bước tiến hành thực nghiệm và kiểm soát sai số:
- Thiết kế nghiên cứu: Tiến cứu, mô tả cắt ngang có phân tích trên 248 bệnh nhân nhồi máu não thỏa mãn các tiêu chuẩn chọn bệnh chặt chẽ và điều trị tại Bệnh viện Quân y 103.
- Quy trình thu thập lâm sàng và cận lâm sàng: Bệnh nhân được khám lâm sàng thần kinh toàn diện, đánh giá mức độ liệt cơ theo thang điểm Hội đồng Nghiên cứu Y học Anh (MRC), mức độ khuyết tật theo thang điểm Rankin cải tiến (mRS), thang điểm NIHSS; khai thác tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, nghiện rượu, tiền sử đột quỵ/TIA và tiền sử dùng clopidogrel.
- Quy trình chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng: Ghi nhận tổn thương nhồi máu trên phim CT sọ não (vị trí, kích thước, bán cầu tổn thương); thực hiện siêu âm Doppler mạch cảnh xác định độ dày lớp nội trung mạc (IMT) và mức độ vữa xơ, hẹp động mạch cảnh trong.
- Quy trình đo độ ngưng tập tiểu cầu (LTA): Máu tĩnh mạch lấy vào buổi sáng lúc đói sau ít nhất 7 ngày dùng clopidogrel 75 mg/ngày, sử dụng chất chống đông natri citrat 3,2%, ly tâm tách huyết tương giàu tiểu cầu (PRP) và huyết tương nghèo tiểu cầu (PPP). Ủ ấm mẫu ở 37°C trong 5 phút, kích thích bằng ADP 5 µmol/l trên máy Chrono-Log 530 VS, ghi nhận đường cong ngưng tập tự động và tỷ lệ ngưng tập tối đa.
- Kỹ thuật sinh học phân tử xác định alen CYP2C19: Quy trình tách chiết ADN, thành phần phản ứng PCR và chu trình nhiệt trên máy Applied Biosystems 9700. Xác định các alen CYP2C19*1, *2, *3 và phân nhóm kiểu gen, kiểu hình theo đúng chuẩn phân loại quốc tế.
- Đạo đức nghiên cứu và thống kê: Đề tài được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học thông qua, bảo đảm quyền lợi và bảo mật thông tin người bệnh. Quy trình làm sạch dữ liệu và xử lý thống kê được thiết lập rõ ràng.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được từ 248 bệnh nhân:
- Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu: Tỷ lệ phân bố theo nhóm tuổi, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI), các bệnh đồng diễn (tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu), thói quen hút thuốc lá, sử dụng rượu và đặc điểm hình ảnh tổn thương trên CT sọ não, siêu âm động mạch cảnh.
- Tỷ lệ kháng clopidogrel: Xác định tỷ lệ bệnh nhân có độ ngưng tập tiểu cầu $> 50%$ sau $\ge 7$ ngày điều trị clopidogrel 75 mg/ngày.
- Mối liên quan giữa các yếu tố ngoài gen CYP2C19 và tính đáp ứng của clopidogrel:
- Nhân trắc và thói quen: Phân tích sự khác biệt về độ ngưng tập tiểu cầu và tỷ lệ kháng clopidogrel theo giới tính, các nhóm tuổi ($< 60$ tuổi so với $\ge 60$ tuổi), chỉ số BMI (nhóm bình thường so với thừa cân, béo phì theo chuẩn người Châu Á), tình trạng hút thuốc lá và nghiện rượu.
- Lâm sàng và cận lâm sàng: Khảo sát mối tương quan giữa mức độ ngưng tập tiểu cầu với huyết áp khi vào viện, tiền sử đột quỵ/TIA, các thể rối loạn lipid máu (cholesterol toàn phần, triglycerid, LDL-C, HDL-C), các chỉ số sinh hóa máu (glucose, HbA1c, CRP, albumin, mức lọc cầu thận), chỉ số huyết học (số lượng tiểu cầu, thể tích trung bình tiểu cầu MPV, số lượng hồng cầu, hemoglobin, hematocrit).
- Hình ảnh học và thuốc kết hợp: Liên quan giữa dạng tổn thương trên CT sọ não, xơ vữa và độ dày IMT động mạch cảnh trong với tính đáp ứng thuốc; đánh giá tương tác của các nhóm thuốc điều trị bệnh đồng diễn (thuốc hạ áp nhóm ức chế men chuyển, statin, thuốc hạ đường huyết).
- Ảnh hưởng của đa hình gen CYP2C19 tới tính đáp ứng của clopidogrel:
- Xác định tần số phân bố các alen CYP2C19*1, CYP2C19*2, CYP2C19*3 và các tổ hợp kiểu gen trong quần thể bệnh nhân nghiên cứu.
- Phân loại kiểu hình chuyển hóa (chuyển hóa mạnh EM, chuyển hóa trung bình IM, chuyển hóa kém PM) và so sánh độ ngưng tập tiểu cầu, tỷ lệ kháng clopidogrel giữa các nhóm kiểu gen mang 0, 1 hoặc 2 alen mất chức năng.
- Mô hình hồi quy đa biến: Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến nhằm xác định các yếu tố nguy cơ độc lập dự báo tình trạng kháng clopidogrel ở bệnh nhân nhồi máu não.
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
Chương 4 tiến hành biện giải, so sánh các phát hiện của luận án với y văn trong nước và quốc tế:
- Về tỷ lệ kháng clopidogrel và đặc điểm mẫu: Biện luận về tỷ lệ kháng thuốc ghi nhận trên nhóm bệnh nhân nhồi máu não người Việt Nam, phân tích sự tương đồng và khác biệt so với các công bố quốc tế của Gurbel P. (2003), Musallam K. (2011), Yi X. (2016) và các nghiên cứu trên bệnh nhân mạch vành tại Việt Nam của Đỗ Quang Huân (2013), Vũ Thị Thơm (2018).
- Về ảnh hưởng của các yếu tố lâm sàng và phi di truyền:
- Giải thích cơ chế tuổi cao làm suy giảm hoạt tính enzym gan CYP450 và tăng thể tích trung bình tiểu cầu (MPV).
- Phân tích ảnh hưởng của chỉ số BMI cao, leptin huyết tương và tình trạng kháng insulin đến quá trình hoạt hóa tiểu cầu.
- Biện giải mối liên quan giữa tình trạng viêm mạn tính (thể hiện qua tăng nồng độ CRP huyết thanh), nồng độ albumin máu thấp và bệnh đái tháo đường với sự gia tăng độ ngưng tập tiểu cầu tồn dư.
- Đánh giá vai trò của xơ vữa động mạch cảnh và các tổn thương mạch máu lớn trên hình ảnh học đối với đáp ứng thuốc.
- Về vai trò của alen CYP2C19*2 và CYP2C19*3:
- Khẳng định tần suất xuất hiện cao của hai alen mất chức năng *2 và *3 trong quần thể nghiên cứu, phù hợp với đặc điểm nhân chủng học người Châu Á.
- Phân tích cơ chế sinh học phân tử: các đột biến c.681G>A và c.636G>A tạo mã kết thúc sớm khiến protein enzym CYP2C19 bị mất hoạt tính xúc tác, làm giảm nồng độ chất chuyển hóa hoạt tính gắn thụ thể P2Y12, dẫn đến ức chế ngưng tập tiểu cầu không hoàn toàn.
- So sánh nguy cơ kháng thuốc giữa các nhóm mang 1 alen mất chức năng (nhóm IM) và mang 2 alen mất chức năng (nhóm PM) so với nhóm đồng hợp tử kiểu dại (nhóm EM).
- Ý nghĩa thực tiễn lâm sàng: Khuyến nghị cá thể hóa điều trị kháng kết tập tiểu cầu dựa trên xét nghiệm kiểu gen và đo độ ngưng tập tiểu cầu ở bệnh nhân nhồi máu não nguy cơ cao.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá một cách toàn diện và hệ thống mối liên quan giữa đa hình gen CYP2C19 (cụ thể là hai alen mất chức năng CYP2C19*2 và CYP2C19*3) với tính đáp ứng của thuốc chống ngưng tập tiểu cầu clopidogrel trên nhóm bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não.
- Cung cấp dữ liệu dịch tễ học di truyền có giá trị về tần số alen và kiểu gen CYP2C19 ở bệnh nhân đột quỵ não người Việt Nam, bổ sung bằng chứng khoa học khẳng định vai trò của các biến thể mất chức năng CYP2C19*2 và *3 trong việc làm giảm hiệu lực ức chế tiểu cầu của clopidogrel.
- Làm rõ sự tương tác phức hợp giữa các yếu tố phi di truyền (tuổi, BMI, đái tháo đường, các chỉ số sinh hóa, huyết học, tình trạng xơ vữa mạch máu) và đáp ứng dược lý của clopidogrel.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng lâm sàng
- Xác lập quy trình phối hợp giữa thăm khám lâm sàng, đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp LTA-ADP và xét nghiệm xác định kiểu gen CYP2C19 bằng kỹ thuật sinh học phân tử (PCR - giải trình tự) nhằm phát hiện sớm các trường hợp kháng hoặc kém đáp ứng với clopidogrel.
- Cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc giúp các bác sĩ chuyên ngành thần kinh và đột quỵ nhận diện các đối tượng có nguy cơ cao kháng clopidogrel, từ đó đưa ra quyết định điều chỉnh phác đồ điều trị kịp thời (tăng liều clopidogrel, phối hợp thuốc hoặc chuyển sang các nhóm thuốc chống ngưng tập tiểu cầu khác như ticagrelor, prasugrel theo khuyến cáo của CPIC) nhằm giảm thiểu nguy cơ tắc mạch tái phát và nâng cao hiệu quả dự phòng nhồi máu não.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Phạm vi và cỡ mẫu: Nghiên cứu được tiến hành tại một trung tâm đơn lẻ (Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103) với cỡ mẫu 248 bệnh nhân, chưa bao quát được toàn bộ các vùng địa lý khác nhau tại Việt Nam.
- Phạm vi khảo sát alen gen: Nghiên cứu tập trung vào hai alen mất chức năng phổ biến nhất ở người Châu Á là CYP2C19*2 và CYP2C19*3, chưa khảo sát mở rộng các alen tăng chức năng (như CYP2C19*17) hoặc các alen hiếm khác, cũng như các gen mã hóa enzym/thụ thể liên quan khác (như ABCB1, PON1, P2RY12).
- Tiêu chuẩn chọn mẫu đặc thù: Do yêu cầu loại trừ nghiêm ngặt các yếu tố gây nhiễu (loại trừ bệnh nhân suy thận nặng có mức lọc cầu thận $< 30$ ml/phút, bệnh nhân có diện nhồi máu não rộng $> 1/3$ diện chi phối của động mạch não giữa, bệnh nhân dùng omeprazol hoặc các thuốc chống đông/chống ngưng tập tiểu cầu khác), kết quả nghiên cứu không phản ánh trực tiếp nhóm bệnh nhân có các bệnh lý phối hợp phức tạp này.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng các nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn để theo dõi dọc dài hạn các biến cố tắc mạch tái phát và biến chứng chảy máu ở nhóm bệnh nhân có kháng clopidogrel.
- Khảo sát thêm các biến thể di truyền khác trong hệ thống chuyển hóa thuốc và đa hình thụ thể tiểu cầu.
- Thiết kế các thử nghiệm can thiệp lâm sàng có đối chứng nhằm đánh giá hiệu quả và độ an toàn của việc thay đổi phác đồ kháng kết tập tiểu cầu (dùng liều cao clopidogrel hoặc đổi sang ticagrelor/prasugrel) có hướng dẫn bởi xét nghiệm kiểu gen CYP2C19 và đo độ ngưng tập tiểu cầu tại các cơ sở điều trị đột quỵ ở Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao cho:
- Bác sĩ chuyên khoa Thần kinh và Đột quỵ: Tham khảo cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm để đánh giá nguy cơ kháng thuốc, cá thể hóa liều lượng và lựa chọn thuốc chống ngưng tập tiểu cầu phù hợp cho bệnh nhân nhồi máu não.
- Bác sĩ Tim mạch và Can thiệp mạch: Vận dụng các kiến thức về dược lý học di truyền của hệ enzym CYP450 và phương pháp đánh giá chức năng tiểu cầu (LTA-ADP) trong theo dõi điều trị chống huyết khối.
- Giảng viên, Học viên Sau đại học và Nghiên cứu sinh: Sử dụng làm tài liệu học tập, giảng dạy chuyên ngành Khoa học thần kinh, Dược lý học lâm sàng và Di truyền y học; tham khảo phương pháp luận thiết kế nghiên cứu kết hợp giữa lâm sàng và sinh học phân tử.
- Các nhà hoạch định chính sách y tế và quản lý bệnh viện: Cung cấp luận cứ khoa học để xem xét đưa các xét nghiệm di truyền dược học (CYP2C19) và đo độ ngưng tập tiểu cầu vào danh mục kỹ thuật thường quy phục vụ điều trị đột quỵ não.
Câu hỏi thường gặp
1. Clopidogrel được chuyển hóa tại gan như thế nào và enzym CYP2C19 giữ vai trò gì?
Clopidogrel là một tiền chất chưa có hoạt tính. Sau khi hấp thu, khoảng 85% bị enzym esterase thủy phân thành dạng acid carboxylic bất hoạt; 15% còn lại được chuyển hóa qua 2 bước liên tiếp bởi hệ enzym Cytochrome P450 tại gan để tạo thành chất chuyển hóa có hoạt tính chứa nhóm thiol tự do. Isozym CYP2C19 là enzym then chốt tham gia xúc tác ở cả hai bước chuyển hóa này, giúp tạo ra hoạt chất gắn đặc hiệu và không hồi phục vào thụ thể P2Y12 trên bề mặt tiểu cầu.
2. Tiêu chuẩn xác định tình trạng kháng clopidogrel trong luận án là gì?
Luận án áp dụng tiêu chuẩn: bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não được điều trị bằng clopidogrel liều chuẩn 75 mg/ngày liên tục từ 7 ngày trở lên, nếu kết quả đo độ ngưng tập tiểu cầu bằng phương pháp đo độ truyền quang (LTA) với chất kích tập ADP 5 µmol/l có độ ngưng tập tối đa $> 50%$ thì được xác định là kháng clopidogrel.
3. Đột biến của hai alen CYP2C19*2 và CYP2C19*3 gây ra biến đổi gì về mặt sinh học phân tử?
- Alen CYP2C19*2 mang đột biến thay thế Guanine bằng Adenine tại vị trí nucleotide 681 trên exon 5 (c.681G>A), làm thay đổi vị trí cắt nối mARN và tạo bộ ba kết thúc sớm ở acid amin số 227.
- Alen CYP2C19*3 mang đột biến thay thế Guanine bằng Adenine tại vị trí nucleotide 636 trên exon 3 (c.636G>A), tạo bộ ba kết thúc sớm ở acid amin số 212.
Cả hai đột biến này đều dẫn đến việc tổng hợp chuỗi polypeptide bị rút ngắn và làm mất hoàn toàn chức năng xúc tác của enzym CYP2C19.
4. Khuyến cáo của CPIC về lựa chọn thuốc chống ngưng tập tiểu cầu dựa trên kiểu gen CYP2C19 như thế nào?
Theo CPIC (2011, 2013), các bệnh nhân có kiểu gen chuyển hóa mạnh (EM: *1/*1) hoặc chuyển hóa siêu nhanh (UM: *1/*17, *17/*17) được khuyến cáo dùng liều clopidogrel tiêu chuẩn. Ngược lại, những bệnh nhân thuộc nhóm chuyển hóa trung bình (IM: mang 1 alen mất chức năng như *1/*2, *1/*3) hoặc chuyển hóa kém (PM: mang 2 alen mất chức năng như *2/*2, *2/*3, *3/*3) bị giảm hoặc mất khả năng hoạt hóa clopidogrel, làm tăng nguy cơ biến chứng tắc mạch, do đó được khuyến cáo cân nhắc đổi sang các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu thay thế không phụ thuộc chuyển hóa qua CYP2C19 như prasugrel hoặc ticagrelor.
5. Những yếu tố ngoài gen nào được khảo sát có liên quan tới tính đáp ứng của clopidogrel?
Các yếu tố ngoài gen được tổng quan và phân tích bao gồm: tuổi cao, giới tính (nữ giới), chỉ số khối cơ thể (BMI cao, thừa cân/béo phì), tiền sử và tình trạng đái tháo đường, tăng huyết áp, mức độ phản ứng viêm (nồng độ protein phản ứng C - CRP cao), nồng độ albumin huyết tương thấp, các chỉ số huyết học (thể tích trung bình tiểu cầu MPV, số lượng hồng cầu, hemoglobin), mức độ xơ vữa động mạch cảnh và tương tác từ các thuốc dùng kết hợp (như thuốc ức chế bơm proton omeprazol, thuốc hạ mỡ máu statin).
Kết luận
Luận án tiến sĩ y học của tác giả Đỗ Đức Thuần đã thực hiện nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về tính đáp ứng của clopidogrel trên 248 bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não tại Bệnh viện Quân y 103. Công trình làm rõ vai trò quyết định của các biến thể di truyền mất chức năng CYP2C19*2 và CYP2C19*3 cùng các yếu tố nhân trắc, bệnh đồng diễn và chỉ số sinh học đối với hiện tượng giảm đáp ứng hoặc kháng clopidogrel. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc ứng dụng xét nghiệm di truyền dược học và đo độ ngưng tập tiểu cầu trong thực hành lâm sàng, hướng tới mục tiêu cá thể hóa điều trị dự phòng và nâng cao hiệu quả kiểm soát tái phát ở bệnh nhân nhồi máu não tại Việt Nam.