Nghiên cứu ảnh hưởng cốt liệu đến hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa trên các tuyến đường trong đô thị tp phan thiết tỉnh bình thuận

Nghiên cứu ảnh hưởng của cốt liệu đến hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa tại Phan Thiết, Bình Thuận. Tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Kỹ Thuật

2017

100
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI, TÌNH HÌNH MẶT ĐƯỜNG TẠI TP. PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN VÀ MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA

1.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1.1. Vị trí địa lý

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT ĐÁNH GIÁ HIỆN TƯỢNG BONG TRÓC

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỐT LIỆU ĐẾN HIỆN TƯỢNG BONG TRÓC MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA TRÊN CÁC TUYẾN ĐƯỜNG TRONG ĐÔ THỊ TP. PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Bong Tróc Bê Tông Nhựa Phan Thiết

Nghiên cứu về hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa tại TP. Phan Thiết là vô cùng cấp thiết. Phan Thiết nằm trên trục giao lưu của ba vùng kinh tế lớn, với hệ thống giao thông ngày càng phát triển. Tuy nhiên, tình trạng hư hỏng mặt đường do bong tróc cốt liệu đang diễn ra phổ biến, ảnh hưởng đến khả năng khai thác và an toàn giao thông. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của cốt liệu bê tông nhựa đến hiện tượng này, nhằm tìm ra giải pháp nâng cao tuổi thọ mặt đường. Mục tiêu chính là nghiên cứu ảnh hưởng của cốt liệu đến hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa trên các tuyến đường đô thị tại TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

1.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Bê Tông Nhựa Phan Thiết

Bình Thuận đóng vai trò quan trọng trong giao thương giữa miền Đông Nam Bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên. Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc Nam đi qua tỉnh, kết nối với các trung tâm kinh tế lớn. Việc duy trì chất lượng mặt đường bê tông nhựa là yếu tố then chốt để đảm bảo lưu thông hàng hóa và hành khách. Tình trạng bong tróc mặt đường không chỉ gây mất an toàn mà còn làm tăng chi phí bảo trì, sửa chữa. Do đó, nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc cải thiện hạ tầng giao thông địa phương.

1.2. Mục Tiêu Và Phạm Vi Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Cốt Liệu

Nghiên cứu này tập trung vào lớp mặt đường bê tông nhựa và các chỉ tiêu cơ lý của cốt liệu từ các mỏ trên địa bàn tỉnh Bình Thuận. Phạm vi nghiên cứu bao gồm hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa trên các tuyến đường đô thị TP. Phan Thiết, các phương pháp đánh giá hiện tượng này, và ảnh hưởng của cốt liệu đến quá trình bong tróc. Phương pháp nghiên cứu kết hợp lý thuyết, khảo sát thực địa và thí nghiệm trong phòng thí nghiệm.

II. Phân Tích Nguyên Nhân Gây Bong Tróc Mặt Đường Bê Tông Nhựa

Hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa là một vấn đề phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố. Trong đó, chất lượng cốt liệu đóng vai trò then chốt. Cốt liệu không đạt yêu cầu về độ bền, độ dính bám với nhựa đường, hoặc thành phần hạt không phù hợp có thể dẫn đến bong tróc. Ngoài ra, điều kiện thời tiết khắc nghiệt, lưu lượng giao thông lớn, và kỹ thuật thi công không đảm bảo cũng góp phần làm gia tăng tình trạng này. Việc phân tích kỹ lưỡng các nguyên nhân là cơ sở để đề xuất giải pháp khắc phục hiệu quả.

2.1. Ảnh Hưởng Của Chất Lượng Cốt Liệu Đến Độ Bền Mặt Đường

Chất lượng cốt liệu ảnh hưởng trực tiếp đến độ bền của mặt đường bê tông nhựa. Cốt liệu có cường độ thấp, độ hút nước cao, hoặc chứa nhiều tạp chất dễ bị phá vỡ liên kết dưới tác động của tải trọng và môi trường. Điều này dẫn đến hiện tượng bong tróc, làm giảm tuổi thọ của mặt đường. Theo tài liệu nghiên cứu, độ dính bám giữa cốt liệunhựa đường là yếu tố quan trọng quyết định khả năng chống chịu của mặt đường trước tác động của nước và nhiệt độ.

2.2. Tác Động Của Điều Kiện Khí Hậu Phan Thiết Đến Bê Tông Nhựa

Phan Thiết có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa khô nóng và mùa mưa. Sự thay đổi nhiệt độ lớn giữa ngày và đêm, cùng với lượng mưa lớn trong mùa mưa, tạo điều kiện cho quá trình lão hóa và phá hủy mặt đường bê tông nhựa diễn ra nhanh chóng. Nước xâm nhập vào các khe nứt, mao quản trong cốt liệu, gây ra hiện tượng trương nở, co ngót, làm suy yếu liên kết giữa cốt liệunhựa đường, dẫn đến bong tróc.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Đánh Giá Ảnh Hưởng Cốt Liệu Bê Tông Nhựa

Để đánh giá chính xác ảnh hưởng của cốt liệu đến hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa, cần áp dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học và thực nghiệm. Các phương pháp này bao gồm thí nghiệm xác định độ dính bám giữa cốt liệunhựa đường, thí nghiệm ngâm nước tĩnh và động để đánh giá khả năng chống thấm, và thí nghiệm vệt hằn bánh xe để mô phỏng tác động của tải trọng giao thông. Kết quả thí nghiệm sẽ cung cấp dữ liệu quan trọng để phân tích và đưa ra kết luận.

3.1. Thí Nghiệm Xác Định Độ Dính Bám Cốt Liệu Theo TCVN

Thí nghiệm xác định độ dính bám theo TCVN 7504:2005 là phương pháp quan trọng để đánh giá khả năng kết dính giữa cốt liệunhựa đường. Thí nghiệm này mô phỏng điều kiện thực tế trên mặt đường, cho phép xác định mức độ bong tróc sau khi chịu tác động của nước và nhiệt độ. Kết quả thí nghiệm là cơ sở để lựa chọn loại cốt liệu phù hợp, đảm bảo độ bền của mặt đường.

3.2. Thí Nghiệm Ngâm Nước Tĩnh Và Động Đánh Giá Độ Bền

Thí nghiệm ngâm nước tĩnh và động được sử dụng để đánh giá khả năng chống thấm và độ bền của hỗn hợp bê tông nhựa khi tiếp xúc với nước. Thí nghiệm ngâm nước tĩnh kiểm tra mức độ bong tróc sau một thời gian ngâm nhất định, trong khi thí nghiệm ngâm nước động mô phỏng tác động của nước chảy trên mặt đường. Kết quả thí nghiệm giúp đánh giá khả năng chống chịu của mặt đường trước tác động của môi trường.

3.3. Thí Nghiệm Vệt Hằn Bánh Xe Mô Phỏng Tải Trọng Giao Thông

Thí nghiệm vệt hằn bánh xe (Hamburg Wheel Tracking Device - HWTD) là phương pháp hiệu quả để mô phỏng tác động của tải trọng giao thông lên mặt đường bê tông nhựa. Thí nghiệm này cho phép đánh giá khả năng chống lún vệt bánh xe và độ bền của mặt đường dưới tác động của tải trọng lặp đi lặp lại. Kết quả thí nghiệm cung cấp thông tin quan trọng về khả năng chịu tải và tuổi thọ của mặt đường.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Cốt Liệu Đến Bong Tróc Bê Tông

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy sự khác biệt đáng kể về độ dính bám và khả năng chống bong tróc giữa các loại cốt liệu khác nhau. Cốt liệu từ một số mỏ đá có độ dính bám tốt hơn và ít bị bong tróc hơn so với cốt liệu từ các mỏ khác. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc lựa chọn cốt liệu chất lượng cao để đảm bảo độ bền của mặt đường bê tông nhựa. Ngoài ra, kết quả thí nghiệm cũng chỉ ra rằng việc sử dụng phụ gia có thể cải thiện độ dính bám và khả năng chống bong tróc của cốt liệu.

4.1. So Sánh Độ Dính Bám Của Các Loại Cốt Liệu Bê Tông Nhựa

Thí nghiệm độ dính bám cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các loại cốt liệu. Một số loại cốt liệu có độ dính bám cao, thể hiện khả năng kết dính tốt với nhựa đường và ít bị bong tróc khi tiếp xúc với nước. Ngược lại, một số loại cốt liệu có độ dính bám thấp, dễ bị bong tróc và làm giảm tuổi thọ của mặt đường.

4.2. Đánh Giá Khả Năng Chống Thấm Của Hỗn Hợp Bê Tông Nhựa

Thí nghiệm ngâm nước tĩnh và động cho thấy khả năng chống thấm của hỗn hợp bê tông nhựa phụ thuộc vào loại cốt liệu và tỷ lệ nhựa đường. Hỗn hợp bê tông nhựa sử dụng cốt liệu có độ hút nước thấp và tỷ lệ nhựa đường phù hợp có khả năng chống thấm tốt hơn, ít bị bong tróc và có tuổi thọ cao hơn.

V. Giải Pháp Khắc Phục Bong Tróc Mặt Đường Bê Tông Nhựa

Để khắc phục tình trạng bong tróc mặt đường bê tông nhựa tại TP. Phan Thiết, cần áp dụng đồng bộ các giải pháp từ khâu lựa chọn vật liệu, thiết kế hỗn hợp, thi công và bảo trì. Việc sử dụng cốt liệu chất lượng cao, có độ dính bám tốt với nhựa đường, kết hợp với kỹ thuật thi công tiên tiến và chế độ bảo trì định kỳ sẽ giúp kéo dài tuổi thọ của mặt đường và giảm thiểu chi phí sửa chữa.

5.1. Lựa Chọn Cốt Liệu Chất Lượng Cao Cho Bê Tông Nhựa

Việc lựa chọn cốt liệu chất lượng cao là yếu tố then chốt để đảm bảo độ bền của mặt đường bê tông nhựa. Cốt liệu cần đáp ứng các yêu cầu về cường độ, độ dính bám, thành phần hạt và độ sạch. Nên ưu tiên sử dụng cốt liệu từ các mỏ đá có uy tín, đã được kiểm chứng về chất lượng.

5.2. Tối Ưu Hóa Thiết Kế Hỗn Hợp Bê Tông Nhựa Phan Thiết

Thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa cần được tối ưu hóa để đảm bảo độ ổn định, độ bền và khả năng chống thấm. Tỷ lệ nhựa đường cần được điều chỉnh phù hợp với loại cốt liệu và điều kiện khí hậu địa phương. Việc sử dụng phụ gia cũng có thể cải thiện tính chất của hỗn hợp bê tông nhựa.

VI. Kết Luận Và Hướng Nghiên Cứu Về Bê Tông Nhựa Tương Lai

Nghiên cứu này đã làm sáng tỏ ảnh hưởng của cốt liệu đến hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa tại TP. Phan Thiết. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc lựa chọn vật liệu và thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng và tuổi thọ của mặt đường. Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu về các loại vật liệu mới, kỹ thuật thi công tiên tiến và giải pháp bảo trì hiệu quả để xây dựng hệ thống giao thông bền vững.

6.1. Tổng Kết Các Phát Hiện Chính Về Ảnh Hưởng Cốt Liệu

Nghiên cứu đã xác định được các yếu tố chính của cốt liệu ảnh hưởng đến hiện tượng bong tróc, bao gồm độ dính bám, độ hút nước và thành phần hạt. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc lựa chọn cốt liệu chất lượng cao và thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa phù hợp là yếu tố then chốt để giảm thiểu tình trạng bong tróc.

6.2. Đề Xuất Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Bê Tông Nhựa

Trong tương lai, cần tiếp tục nghiên cứu về các loại vật liệu mới, như bê tông nhựa sử dụng nhựa đường biến tính hoặc cốt liệu tái chế. Ngoài ra, cần tập trung vào việc phát triển các kỹ thuật thi công tiên tiến và giải pháp bảo trì hiệu quả để kéo dài tuổi thọ của mặt đường và giảm thiểu tác động đến môi trường.

06/06/2025
Nghiên cứu ảnh hưởng cốt liệu đến hiện tượng bong tróc mặt đường bê tông nhựa trên các tuyến đường trong đô thị tp phan thiết tỉnh bình thuận

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI, TÌNH HÌNH MẶT ĐƯỜNG TẠI TP. PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN VÀ MẶT ĐƯỜNG BÊ TÔNG NHỰA 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội 1. Điều kiện tự nhiên: 1.

Vị trí địa lý. Bình Thuận là tỉnh ven biển thuộc miền Nam Trung Bộ, có mối liên hệ và nằm trong khu vực ảnh hưởng tác động mạnh mẽ của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN). Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Đông - Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 192km và vùng lãnh hải rộng: 52. Ngoài khơi có đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết khoảng 120 km.

Tổng diện tích tự nhiên: 781. Bình Thuận có vị trí địa lí từ: 10033'42" đến 11033'18" vĩ độ Bắc và từ 107023'41" đến 108052 '42" kinh độ Đông. Tỉnh nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang, giao thông đối ngoại có Quốc lộ 1A với chiều dài 181,434 km và 180 km đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; Quốc lộ 28 nối liền Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên; Quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ dầu khí - du lịch Vũng Tàu và trung tâm du lịch Đà Lạt, Lâm Đồng. Với vị trí địa lý như trên tạo cho Bình Thuận khả năng giao lưu kinh tế thuận lợi và chặt chẽ với các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng Duyên Hải miền trung.

Sức hút của các thành phố và các trung tâm phát triển như TP.HCM, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật. Vị trí địa lý vùng tỉnh Bình Thuận Thành phố Phan Thiết là đô thị loại III, là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, công nghiệp, khai thác chế biến hải sản của tỉnh Bình Thuận. Phan Thiết là cửa ngõ của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, là đô thị cấp vùng có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng. Thành phố có 14 phường nội thị và 4 xã ngoại thị (Thiện Nghiệp, Phong Nẫm, Tiến Lợi, Tiến Thành), tổng diện tích tự nhiên là 206,4659 km2, chiều dài bờ biển 57,4km, nằm trong khoảng tọa độ địa lý: - 108o00’10’’ đến 108021’30’’ kinh độ Đông.

Và được giới hạn bởi: - Phía Bắc giáp 2 huyện Hàm Thuận Bắc và Bắc Bình. - Phía Nam giáp biển Đông và huyện Hàm Thuận Nam. - Phía Tây giáp huyện Hàm Thuận Nam. - Phía Đông giáp biển Đông.

Thành phố có Quốc lộ 1A và đường sắt Bắc – Nam đi qua, nối với TP. Hồ Chí Minh và TP. Nha Trang, Quốc lộ 28 nối với TP. Đà Lạt và vùng Tây Nguyên, có hệ thống đường biển nối với các vùng kinh tế biển.

Bản đồ hành chính thành phố Phan Thiết 1. Phan Thiết có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu đại dương và có nền nhiệt độ cao quanh năm. Một năm được chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 với đặc điểm khô nóng và ít mưa. Mùa mưa từ tháng 6 đến tháng 11, đặc biệt tháng 9, 10 thường có mưa lớn gây ngập úng và lũ lụt.

* Nhiệt độ: - Nhiệt độ trung bình tháng 22,1oC. - Nhiệt độ lớn nhất trung bình 23,8oC, thấp nhất trung bình 18,6oC. * Nắng: Số giờ nắng trung bình cả năm 2783 giờ. Số ngày nắng 348-360 ngày/năm.

* Mưa: Tổng lượng mưa trung bình năm 1151 mm. - Lượng mưa ngày lớn nhất ứng với tần suất P = 1%: 211mm, P = 10%: 135,7mm. - Thời gian mưa kéo dài lâu nhất không vượt quá 24 giờ. * Lượng bốc hơi, độ ẩm.

- Độ ẩm không khí trung bình 79,9%. 6 - Độ ẩm không khí cao nhất 85%, độ ẩm không khí thấp nhất 71%. * Gió: - Chủ đạo theo 2 hướng chính: + Gió Đông thịnh hành từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. + Gió Tây thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9.

- Tốc độ gió trung bình năm 3,2m/s. - Tốc độ gió mạnh nhất 23m/s (gió Tây). * Bão: Theo tài liệu khí hậu vùng biển Việt Nam, vùng Thành phố Phan Thiết nằm trong tọa độ ít bị ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới. Địa hình Địa hình thành phố được kiến tạo bởi bồi tích sông biển, có dạng đồng bằng xen lẫn trung du và cồn cát.

Nhìn chung có thể chia làm các dạng chính: Khu vực thành phố hiện hữu: địa hình thấp và bằng phẳng, cao độ trung bình 3-4m, cao độ tôn nền ≤ 2,5m bị ngập lũ nước sông Cà Ty, ngập từ 0,3 – 2m. Khu vực xã Tiến Lợi, Tiến Thành có độ cao trung bình 45m, thấp nhất 84m, độ dốc < 10%, là khu vực thuận lợi xây dựng. Khu vực từ trung tâm thành phố đến Hòn Rơm: trừ phần đồi cát cao độ 50- 113m không thuận lợi xây dựng, còn lại đất xây dựng thuận lợi và tương đối thuận lợi. Địa chất, địa chất thủy văn và địa chấn: * Địa chất: Đất yếu: ở vùng đầm lầy ven biển với độ dày 0,5-1,5m.

Đất mềm: phân bố ở vùng trung tâm của thành phố với độ dày từ 3- 7m. Đất dính: phân bố trong toàn bộ thành phố với độ dày lớn hơn 4m đến 10m, gồm có 3 tầng: Đất cát có màu vàng nâu phân bố ở trên mặt ; đất á sét có màu vàng nâu và đất sét phân bố ở tầng thấp hơn 7m, màu xám. * Địa chất thủy văn: Mực nước ngầm xuất hiện ở độ sâu 10m. Nước ngầm mạch nông xuất hiện ở độ sâu 1,5 – 3m.

Các khu vực xây dựng ven sông biển cần khảo sát kỹ đề phòng nước ngầm mạch nông có nhiễm mặn ảnh hưởng đến chất lượng móng công trình. 7 * Địa chấn: Vùng thành phố nằm trong vùng có chấn động cấp 6. * Thủy văn: Sông Cà Ty: bắt nguồn từ núi Ông chảy qua thành phố đổ ra biển tại cửa Thương Chánh. Sông có diện tích lưu vực: 820km2, chiều dài 65km, độ dốc trung bình của lòng sông 0,058 lưu lượng trung bình năm 10,9m3/s lưu lượng đỉnh lũ ứng với tần suất 5% là 1030 m3/s.

Theo tài liệu tính toán trong nhiều năm của trạm thủy văn, Phan Thiết tại chân cầu Sắt, mực nước lũ ứng với các tần suất bảo đảm: P(%) 1 2 5 10 20 Hmax(m) 4,0 2,89 2,29 1,86 1,45 Sông Cái Phan Thiết (sông Phú Hải): bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh chảy qua phía Bắc thành phố đổ ra vịnh Phú Hải. Sông có diện tích lưu vực 1050km2, dài 87km, độ dốc trung bình lòng sông 0,022. Sông bị ảnh hưởng mạnh của thủy triều Trong khu vực còn có sông Cát chảy qua phía Nam (3,3km) nhập vào sông Cà Ty và sông Cầu Ké chảy qua phía Bắc (5,4km) nhập vào sông Cái Phan Thiết. Nhìn chung do đặc điểm lũ về gặp lúc triều cường, một số khu vực cửa sông bị bồi lắng, lấn chiếm, hình thái sông uốn khúc đột ngột khi vào khu vực trung tâm nên các sông đều có khả năng gây lũ lớn với sự lên xuống rất nhanh của mực nước.

Vào mùa khô hầu hết hạ lưu, nhất là sông Cà Ty và sông Cái đều nhiễm mặn. * Hải văn: Phan Thiết nằm trong vùng chuyển tiếp giữa chế độ nhật triều không đều ở miền Bắc và bán nhật triều không đều ở miền Nam. Chế độ nhật triều xảy ra trong khoảng thời gian 13-15 ngày/tháng (giai đoạn thủy triều lên) và chế độ bán nhật triều trong khoảng 15-17 ngày/tháng (thủy triều xuống). Theo tài liệu dự án khả thi tuyến kè đường Bà Triệu và đường Trưng Trắc thì cao độ mực nước triều: Hmax: 1,12m (tháng 12) ; Htrung bình: - 0,11m ; Hmin: -1,42m.

Biên độ triều cường là 1,22m, có thể lợi dụng để tàu thuyền ra vào neo đậu tại các cửa sông, cửa biển. Một số năm gần đây do chế độ dòng chảy ven biển có sự đột biến gây xói lở nghiêm trọng bờ biển ở một số khu vực (phường Hưng Long, 8 Mũi Né,. Cần phải có biện pháp xây dựng kè đập chắn sóng, … để hạn chế tình trạng này. Tài nguyên và cảnh quan tự nhiên.

a) Tài nguyên đất đai: Bao gồm 6 nhóm đất chính, chủ yếu là đất cồn cát và đất cát ven biển, đất phù sa. Phù hợp với việc trồng rừng, cây công nghiệp dài ngày, ngắn ngày, cây ăn quả, lương thực, hoa màu. Do điều kiện khô hạn, nhóm đất cát chiếm tỷ lệ cao nhất (82,21%) nên phần lớn đất nghèo dinh dưỡng, kết cấu không bền vững, một số nơi bị xói mòn, rửa trôi, cát bay, cát chảy, cát sụt nghiêm trọng. Tiềm năng đất đai của TP.646,59ha đất tự nhiên trong đó đất đang sử dụng 19.175,41ha (Đất nông nghiệp 15.921,06ha, đất phi nông nghiệp 3.254,35ha); đất chưa sử dụng 1.471,18ha phần lớn là đất đồi cát chiếm 64,54% đất chưa sử dụng, còn lại chủ yếu là đất bằng chưa sử dụng ven biển có diện tích tập trung (phường Mũi Né, Hàm Tiến, Xuân An, Phú Hài …) sẽ chuyển sang đáp ứng cho các mục đích phi nông nghiệp.

b) Tài nguyên nước: - Nước mặt: Chủ yếu từ hệ thống sông suối, trữ lượng không lớn nhưng có ý nghĩa quan trọng trong nguồn tài nguyên nước của thành phố. Các sông chính là sông Cà Ty, sông Cái Phan Thiết. Nguồn nước phân bố cân đối theo không gian và thời gian. - Nước ngầm: Theo kết quả khảo sát thì nguồn nước ngầm ít, bị nhiễm mặn, phèn, ít có khả năng phục vụ nhu cầu sản xuất, chỉ đáp ứng một phần nhỏ cho sinh hoạt và sản xuất.

Tại vùng động cát phía Đông và Đông Nam (Mũi Né, Hàm Tiến, Phú Hài) và phía Tây Nam (Tiến Thành, Tiến Lợi) có nước ngầm mạch ngang, chảy dọc theo cồn cát, lưu lượng trung bình 0,5 – 2l/s, chất lượng khá tốt, chủ yếu cung cấp nước sinh hoạt tại chỗ cho nhân dân. Về lâu dài, nguồn nước ngầm này có thể là nguồn nước quan trọng để xây dựng hệ thống cung cấp nước tập trung trên địa bàn các xã, phường Hàm Tiến, Thiện Nghiệp, Mũi Né, Tiến Lợi, Tiến Thành. c) Tài nguyên rừng: Thành phố Phan Thiết không có rừng tự nhiên, chủ yếu là rừng trồng phân bố tập trung ở Thiện Nghiệp, Tiến Thành, Mũi Né, Phú Hải, Hàm Tiến với chức năng phòng hộ chắn gió, chắn cát và cân bằng sinh thái là chính, ít có giá trị về mặt kinh tế. Các loại cây rừng phần lớn là keo lá tràm, bạch đàn, xà cừ, 9 phi lao và các loại cây chịu hạn, tập trung ở trạng thái rừng nghèo kiệt và rừng non, chất lượng không cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ