Đặt vấn đề Từ xa xưa, con người đã biết tìm cho mình thức ăn và vị thuốc từ cây cỏ và tập phân biệt các loài cây độc. Nguyên liệu làm thuốc từ thực vật rất phong phú và đa dạng. Chúng đã được con người nghiên cứu và sử dụng từ xưa tới nay. Trong thời kỳ tân dược chưa phát triển thì đây là nguồn thuốc chữa bệnh chính.
Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria Lour) là cây dược liệu có giá trị kinh tế cao, phân bố khá rộng ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á như Việt Nam, Lào, Campuchia. Ở nước ta, Hoàng đằng thường phân bố trong các trạng thái rừng thứ sinh ở các tỉnh miền núi từ Bắc vào Nam với độ cao dưới 1.000m so với mực nước biển. Do có nguy cơ bị tuyệt chủng nên loài cây này đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam từ năm 1996 (thuộc nhóm IIA) cần phải bảo vệ (theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP)[7]. Rễ và thân Hoàng đằng là một trong những vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền để chữa các chứng viêm tấy, lỵ trực trùng, lở ngứa, mụn nhọt, sốt da vàng, đau mắt đỏ, các bệnh về đường tiêu hoá.
Ngoài ra, Hoàng đằng còn là nguyên liệu chiết xuất Palmatin làm thuốc nhỏ mắt hoặc tổng hợp thuốc an thần. Trong tự nhiên, loài cây này trước đây rất phong phú, nhưng do khai thác quá mức và liên tục trong nhiều năm, cùng với việc phát nương làm rẫy nên đã bị suy giảm cả về số lượng và chất lượng. Để phục vụ cho công tác bảo tồn, thương mại hoá sản phẩm và phát triển kinh tế vùng nông thôn miền núi nói chung và tại Điện Biên nói riêng, việc nghiên cứu nhân giống để gây trồng cây Hoàng đằng là cần thiết và có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn. h 2 Xuất phát từ lí do trên tôi tiến hành thực hiện Khóa luận tốt nghiệp: “Nghiên cứu ảnh hưởng của công thức bón phân đến sinh trưởng của cây Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria) tại Sam Mứn, huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đạt các mục tiêu sau: - Xây dựng được mô hình trồng cây Hoàng đằng tại xã Sam Mứn, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên. - Xác định được tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng về đường kính gốc, chiều cao thân cây. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp tôi hiểu biết về mô hình trồng của cây Hoàng đằng.
- Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. - Biết được tầm quan trọng của loài thực vật có giá trị dược liệu như cây Hoàng đằng. - Biết được tầm quan trọng của công tác khai thác, phát triển nguồn gen phục vụ nhu cầu làm thuốc từ nguồn gốc thiên nhiên. - Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc bảo tồn và nhân rộng loài cây Hoàng đằng 1.
Ý nghĩa trong thực tiễn Việc nghiên cứu xây dựng mô hình trồng cây Hoàng đằng để đề xuất một số giải pháp kỹ thuật gây trồng, phục vụ lợi ích của con người. Việc nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học loài cây Hoàng đằng tại khu vực nghiên cứu sẽ tạo tiền đề cho việc gây trồng loài cây này tại khu vực. h 3 Thông qua kết quả nghiên cứu thấy được sự đa dạng của các loài và sự suy giảm của các loài thực vật trong những năm qua, từ đó đánh giá được tác động của con người đến tài nguyên rừng. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học Về cơ sở sinh học Công việc nghiên cứu đối với bất kỳ loài cây rừng nào chúng ta cũng cần phải nắm rõ đặc điểm sinh học của từng loài. Việc hiểu rõ hơn về đặc tính sinh học của loài giúp chúng ta có những biện pháp tác động phù hợp, sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý và bảo vệ hệ động thực vật quý hiếm, từ đó giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn về thiên nhiên sinh vật. Về cơ sở bảo tồn Biến đổi khí hậu, chặt phá rừng làm cho nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng chính vì vậy công tác bảo tồn loài, bảo tồn đa dạng sinh học ngày càng được quan tâm và chú trọng. Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên.
Sách đỏ IUCN công bố văn bản năm 2004 (Sách đỏ 2004) vào ngày 17 tháng 11, 2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật, và 2 loài nấm. Nghị định 32/NĐ-CP ngày 30/3/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm [7]. Nghị định 160/2013/NĐ-CP Về Tiêu Chí Xác Định Loài Và Chế Độ Quản Lý Loài Thuộc Danh Mục Loài Nguy Cấp, Qúy, Hiếm Được Ưu Tiên Bảo Vệ [8].
Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH có rất nhiều loài động thực vật được xếp vào cấp bảo tồn CR, EN và VU cần được bảo tồn, nhằm gìn giữ h 5 nguồn gen quý giá cho thành phần đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến hành đề tài này. Tổng quan chung về tình hình nghiên cứu cây dược liệu trên thế giới và trong nước 2. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm trên thế giới Lo ngại trước tình hình vốn tài nguyên cây thuốc, cùng những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các cộng đồng đang bị mai một, nên ngay từ hội nghị lần thức 40 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tháng 5 năm 1987 đã tái xác định những quan điểm chính được đưa ra ở Hội nghị Alma – Ata từ năm 1979, là: “cần phải khởi xướng những chương trình nhằm nhận biết về giá trị, bào chế và trồng trọt, cùng với việc bảo tồn cây thuốc”. Tháng 3 năm 1988, tại Chiang Mai – Thái Lan, một số Tổ chức quốc tế (WHO, IUCN, WWF) đã phối hợp với Bộ Y tế - Chính phủ Hoàng gia Thái Lan tổ chức một Hội thảo Quốc tế đầu tiên chuyên về bảo tồn cây thuốc.
Từ diễn đàn của Hội thảo này, một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định về tầm quan trọng và vai trò to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, kêu gọi Liên Hợp Quốc và các quốc gia thành viên cùng với các Tổ chức quốc tế khác cần có những hành động thiết thực để bảo tồn cây thuốc. Bảo tồn cây thuốc chính là bảo tồn giá trị đa dạng sinh học (ĐDSH), trong các nền văn hóa của mỗi quốc gia. Tiếp theo Hội nghị Quốc tế Bảo tồn cây thuốc, tổ chức ở Thái Lan năm 1988, năm 1993 WHO, IUCN và WWF đã đưa ra một tài liệu “Hướng dẫn bảo tồn cây thuốc” (Giudeline on Conservation of Medicinal Plants).
Đây không phải là loại tài liệu về phương pháp nghiên cứu, nhưng những người biên soạn đã có chủ ý đề cập từ khâu điều tra nghiên cứu cho đến tiến hành khai thác sử dụng, phát triển trồng thêm và quản lý cây thuốc, đều là những hoạt động có liên quan và phục vụ cho mục đích bảo tồn. Tuy nhiên, để cho h 6 công tác bảo tồn cây thuốc có hiệu quả, cần phải căn cứ vào tình hình của mỗi quốc gia, từ đó đưa ra các giải pháp và chương trình hành động phù hợp[1]. Theo Gao-Xiong Rao et al (2009)[17], với các loài cây thân gỗ và cây bụi sống nhiều năm trong các hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới,nhu cầu về ánh sáng thường thay đổi qua các giai đoạn phát triển khác nhau.Đây là yếu tố sinh thái hết sức quan trọng góp phần quyết định đến sựp hân bố, khả năng sinh trưởng,phát triển và tạo ra năng suất sinhvật học của cây.Cùng với ánh sáng thì các đặc điểm về tính chất đất đai,đặc biệt là hàm lượng các yếu tố dinh dưỡng trong đất cũng đóng vai trò chi phối quan trọng đến khả năng cho năng suất của cây. Chính vì vậy nghiên cứu về ảnh hưởng của yếu tố ánh sáng, đất đai và phân bón tới sinh trưởng, phát triển của cây là những nội dung không thể thiếu trong nghiên cứu gây trồng và bảo tồn các loài cây thuốc bản địa[6],[17].
Trong tập Quần thể thực vật Đàng Trong (FloraCochinchinensis). Hoàng đằng là cây dây leo bằng thân quấn, dài tới10m. Vỏ ngoài của thân già nứt nẻ và gỗ có màu vàng. Thân non nhẵn, màu lục, ít phân nhánh.
Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc thuôn, dài 9 - 18cm, rộng3-7 cm, gốc bằng hoặ chơi tròn, đầu có mũi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt, 3 gân chính rõ; cuống lá dài 5 - 14cm, phình ở hai đầu. Hoa đơn tính khác gốc, cụm hoa chum mọc ra ở phần thân già đã rụnglá.Hoa nhỏ màu vàng chanh, có 6 lá đài,cánh hoa 3r ộng và mỏng hơn lá đài.Hoa đực có 6 nhị,chỉ nhị dài hơn bao phấn,hoa cái nhị lép hoặc không rõ, bầu hình trứng. Quả hạch hình xoan hay trứng thuôn,khi chín màu vàng, mùi hơi khó chịu. Hạt 1 hình thuôn hơi dẹt[18].
Hoàng đằng ra hoa vào tháng4 - 5,quả chin vào tháng11 – 12. Cây có khả năng tái sinh bằng hạt và chồi sau khi khai thác[16]. h 7 Năm 1993 trên toàn thế giới có 8.619 khu bảo tồn, đến năm 1997 đã có 12.754 khu bảo tồn được Liên hợp quốc công nhận. Ngoài ra, còn khoảng hơn 17.500 điểm khác không được đưa vào danh sách của Liên hợp quốc vì diện tích nhỏ hơn 1.000 ha, không đáp ứng được tiêu chuẩn tối thiểu của quốc tế.
Tổng diện tích khoảng 8 triệu km2. Dù ở dạng nào, các khu bảo tồn này đã được quản lý nhằm mục đích bảo vệ nghiêm ngặt các dạng tài nguyên cho đến việc khai thác tài nguyên được kiểm soát hoặc được sử dụng theo mục đích khác, tất cả các khu bảo tồn đều góp phần, bằng cách này hay cách khác vào mục tiêu bảo tồn đa dạng sinh học[1]. Mặc dù con số về các khu bảo tồn trên đây là khá ấn tượng, song chúng cũng chỉ đại diện cho khoảng 6% tổng diện tích bề mặt trái đất và chỉ có 3,5% tổng diện tích đất đai của thế giới thuộc loại được bảo bệ nghiêm ngặt cho mục đích nghiên cứu khoa học.