MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây chè (Camellia sinensis O. Kuntze) là cây công nghiệp dài ngày, có nhiệm kỳ kinh tế dài, mau cho sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho người dân. Sự phát triển của cây chè phụ thuộc nhiều yếu tố: Khí hậu, đất đai, điều kiện chăm sóc đặc biệt là lượng nước và phân bón.
Khác với cây công nghiệp khác, sản phẩm thu hoạch của cây chè là bộ phận sinh trưởng (búp và lá non) và thời gian thu hoạch kéo dài suốt 9 – 10 tháng trong năm. Mặt khác, việc cung cấp chất dinh dưỡng thông qua bón phân chỉ bón tập trung từ 2 – 3 lần/năm và đất trồng chè là đất chua, dốc nên khả năng xói mòn rửa trôi mạnh. Vì thế, để đạt được năng suất tối đa thì việc cung cấp chất dinh dưỡng kịp thời là rất thiết. Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp các loại phân bón qua lá có nguồn gốc từ tự nhiên và hóa học được sử dụng rộng rãi nhằm thúc đẩy sinh trưởng và nâng cao năng suất cây trồng trong điều kiện bất thuận của môi trường như thiếu dinh dưỡng và hạn hán.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây vấn đề xây dựng một nền nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường đang được quan tâm vì thế các loại phân bón qua lá có nguồn gốc tự nhiên được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp hiện đại để sản xuất những sản phẩm an toàn và chất lượng. Trong đó, việc nghiên cứu ứng dụng chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (Effective Microorganisms - EM) làm tăng năng suất và sức đề kháng của cây trồng ngày càng được quan tâm, chú trọng [24] [29] [30]. Kim Tuyên là giống chè lai có nguồn gốc từ Trung Quốc có chất lượng tốt, là nguyên liệu chế biến chè xanh chất lượng cao, tuy nhiên năng suất không cao. Mặt khác, theo dự báo của ủy ban chè quốc tế ITC: Trong những năm tới nhu cầu sử dụng chè xanh sẽ tăng mạnh do tác dụng tốt đối với sức khỏe và sự nhận thức toàn cầu về văn hóa trà.
Vì thế, việc nghiên cứu sử dụng các chế phẩm phân bón qua lá 2 nhằm bổ sung dinh dưỡng làm tăng năng suất và đảm bảo chất lượng chè là việc rất cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (EM) đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên tại Phú Thọ”. Mục đích và yêu cầu 2. Mục đích Xác định được nồng độ và thời điểm phun chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu tối ưu, mang lại hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo cho cây chè sinh trưởng tốt, nâng cao năng suất và chất lượng chè.
Yêu cầu Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ và thời điểm phun chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (EM) đến: - Khả năng sinh trưởng, phát triển của cây chè. - Năng suất và chất lượng búp chè - Khả năng chống chịu sâu bệnh hại chè. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa khoa học - Xác định cơ sở khoa học về ảnh hưởng của nồng độ và thời điểm phun chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (EM) cho giống chè Kim Tuyên.
- Góp phần bổ sung quy trình kỹ thuật chăm sóc chè. - Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chuyển giao cho sản xuất. Ý nghĩa thực tiễn - Xác định được cách sử dụng chế phẩm EM (nồng độ và thời kỳ phun) cho sản xuất chè. - Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao năng suất và chất lượng chè búp từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho người trồng chè.
3 PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài * Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè - Cây chè có khả năng liên tục hút dinh dưỡng trong chu kỳ phát dục hàng năm cũng như trong chu kỳ phát dục cả đời sống của nó. Trong điều kiện khí hậu ở miền Bắc nước ta, về mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng nhưng vẫn yêu cầu lượng dinh dưỡng tối thiểu, do đó việc cung cấp dinh dưỡng cho cây cần đầy đủ và thường xuyên trong năm. - Quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây chè không có giới hạn rõ ràng và là hai quá trình mâu thuẫn nhưng thống nhất.
Vì vậy, cần phải bón phân hợp lý để khống chế quá trình sinh thực cho chè hái búp và khống chế quá trình sinh trưởng dinh dưỡng cho chè thu hoạch giống. - Khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng của cây chè rất rộng rãi. Nó có thể sống ở nơi đất rừng màu mỡ mới khai phá song cũng có thể sống ở những nơi đất nghèo dinh dưỡng và vẫn cho năng suất nhất định. Do đặc điểm đó, muốn nâng cao năng suất chè cần phải bón phân đầy đủ.
- Chè là cây công nghiệp lâu năm, sản phẩm thu hoạch là búp và lá non, đồng thời đó cũng là cơ quan đồng hóa tích lũy dinh dưỡng cho cây. Hàng năm, cây chè cho thu hái búp từ 5 – 6 đợt trong điều kiện bình thường. Nếu thâm canh cao thì có thể thu hái 7-8 đợt. Thời gian hoàn thành đợt sinh trưởng búp phụ thuộc vào giống, chế độ dinh dưỡng và điều kiện khí hậu.
4 Sơ đồ đợt sinh trưởng búp Mầm chè Lá vảy ốc Lá thật Cành ngừng Mầm chè được phát động mở xuất hiện st (hái búp) được phát động Giai đoạn ẩn Giai đoạn hiện Thời kỳ hoạt động Thời kỳ tiềm sinh Đợt sinh trưởng Ở giai đoạn ẩn búp chè sinh trưởng chậm hơn ở giai đoạn hiện, ở giai đoạn tiềm sinh cành ngừng sinh trưởng tích lũy dinh dưỡng cho mầm phát động. Do đó, nếu có biện pháp cung cấp dinh dưỡng kịp thời thì sẽ rút ngắn được thời gian ở giai đoạn tiềm sinh đồng thời cung cấp chất dinh dưỡng cho giai đoạn sau. Mặt khác, việc cung cấp chất dinh dưỡng thông qua bón phân cho cây chè chỉ tiến hành từ 2 – 3 lần/năm. Đặc biệt, đất trồng chè thường là đất chua, độ dốc 80 – 100 và lượng mưa hàng năm ở nước ta thường tập trung vào tháng 6-8.
Do đó lượng dinh dưỡng bị xói mòn rửa trôi lớn. Ngoài ra, cần chú ý rằng: hàng năm trọng lượng cành lá đốn cũng xấp xỉ bằng trọng lượng búp và lá non đã thu hoạch và theo Daraxêli thì lượng đạm bị rửa trôi thường bằng 1/3 tổng lượng đạm bón vào đất. Chính vì thế cần, để đạt được năng suất tối đa thì việc cung cấp chất dinh dưỡng kịp thời là rất thiết. * Vai trò của vi sinh vật với sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của cây trồng Trong tự nhiên vi sinh vật tồn tại ở cả 3 môi trường: Đất, nước và không khí.
Cây trồng sinh trưởng và phát triển trong điều kiện tự nhiên chịu ảnh hưởng của các vi sinh vật. Nói cách khác, vi sinh vật có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng, phát triển và khả năng chống chịu của cây trồng được thể hiện như sau: - Về sinh trưởng, phát triển 5 + Vi sinh vật có khả năng tiết ra các chất kích thích sinh trưởng, làm tăng sức sống của cây trồng, tăng khả năng chịu hạn, chịu úng và chịu nhiệt. + Vi sinh vật làm tăng khả năng quang hợp của cây trồng. + Vi sinh vật làm tăng khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng cho cây.
- Về khả năng chống chịu sâu bệnh hại + Một số vi sinh vật có khả năng tiết ra kháng sinh chống lại sâu bệnh hại như: nấm, xạ khuẩn,. + Một số vi sinh vật có ích có thể sống ký sinh trên cơ thể của sâu bệnh hại hoặc môi giới truyền bệnh. Tuy nhiên, vi sinh vật có hai loại: vi sinh vật có ích và vi sinh vật có hại. Vi sinh vật có hại là những sinh vật dị dưỡng sống ký sinh trên cây trồng, kìm hãm sự sinh trưởng và phát triển, gây bệnh cho cây trồng.
Như vậy, nếu trong môi trường vi sinh vật có hại chiếm ưu thế thì nó sẽ kìm hãm sinh trưởng phát triển và gây bệnh cho cây trồng và ngược lại. Chính vì thế, việc cung cấp thêm một số vi sinh vật có ích cho cây trồng sẽ có tác động rất tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Chế phẩm vi sinh vật hữu hiệu (EM) 1. Khái niệm Vi sinh vật hữu hiệu Efective Microoganisms (EM) là tập hợp các loài vi sinh vật có ích như: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, nấm men, xạ khuẩn sống cộng sinh trong cùng một môi trường.
Chế phẩm EM do Giáo sư – Tiến sĩ Teuro Higa – Trường đại học Tổng hợp Ryukyus, Okinawa sáng chế ra và được áp dụng vào thực tiễn từ năm 1980 [17]. Chế phẩm được chính thức đưa vào Việt Nam từ tháng 4 năm 1997. Thành phần và hoạt động của vi sinh vật trong chế phẩm EM Chế phẩm EM bao gồm các vi khuẩn quang hợp tổng hợp chất hữu cơ từ CO2 và H2O, xạ khuẩn sản sinh các kháng sinh ức chế vi sinh vật gây bệnh và quá trình phân giải các chất hữu cơ, vi khuẩn lactic, nấm men sản sinh các vitamin và 6 axitamin. Các vi sinh vật trong chế phẩm EM sống cùng nhau trong một môi trường và hỗ trợ lẫn nhau cùng sinh trưởng và phát triển.
Vi khuẩn quang hợp Vi khuẩn quang hợp là nhóm vi khuẩn tự dưỡng quang năng có khả năng sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời chuyển hóa thành các năng lượng hóa học. Năng lượng này dùng để đồng hóa CO2 và H2O trong không khí tạo nên các chất hữu cơ. Vi khuẩn quang hợp chiếm tỷ lệ lớn nhất trong EM và nó cũng giữ vai trò chủ đạo trong quá trình hoạt động. Vi khuẩn quang hợp tổng hợp nên các chất có lợi như axit amin, hormon sinh trưởng, đường và các hoạt động sinh học khác.
Tất cả các quá trình đó thúc đẩy sự sinh trưởng, phát triển của thực vật. Vi khuẩn lactic Vi khuẩn lactic thuộc loại vi khuẩn Gram (+), không tạo bào tử, hầu hết không di động, có hình thái khác nhau. Vi khuẩn lactic lên men kỵ khí bắt buộc. Tuy nhiên chúng cũng có khả năng tăng trưởng cả khi có mặt oxy.
Vi khuẩn lactic thu nhận năng lượng nhờ quá trình phân giải kỵ khí đường, hydrat cacbon với sự tích lũy acid lactic trong môi trường.