Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong chiến lược phát triển lâm nghiệp và các chương trình trồng rừng kinh tế, phòng hộ cũng như bảo vệ môi trường, công tác giống cây rừng giữ vai trò then chốt nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng thâm canh. Cây Tông dù (Toona sinensis (A. Juss) Roem, đồng danh Pygeum arboreum Endl. Et Kurz), thuộc họ Xoan (Meliaceae), tên gọi khác là Xoan Đào, Mạy sao hay Xoan hôi, là loài cây gỗ lớn bản địa quý, thân thẳng, cao từ 20 đến 30 m, đường kính ngang ngực từ 60 đến 100 cm. Gỗ Tông dù có giác lõi phân biệt, vân đẹp, ít co nứt, chống mối mọt, được ưa chuộng trong sản xuất đồ nội thất cao cấp, ván sàn và vật liệu xây dựng. Ngoài ra, vỏ và lá non của cây chứa tinh dầu, lá và quả được sử dụng sản xuất thuốc trừ sâu sinh học hoặc làm dược liệu dân gian. Dù có giá trị kinh tế và sinh thái cao, diện tích và nguồn giống Tông dù ngoài tự nhiên đang suy giảm do áp lực khai thác và cạnh tranh từ các loài cây lâm nghiệp khác. Để chủ động cung cấp nguồn cây con đạt tiêu chuẩn cho trồng rừng gỗ lớn, việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật gieo ươm là yêu cầu thực tiễn cấp bách, trong đó xác định chế độ tưới nước phù hợp giữ vai trò quyết định đến tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cây con.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho công tác nhân giống cây con Tông dù phục vụ trồng rừng gỗ lớn. Để đạt mục đích trên, nghiên cứu đặt ra mục tiêu cụ thể là xác định số lần và liều lượng tưới nước thích hợp cho sinh trưởng của cây Tông dù trong giai đoạn vườn ươm. Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa thành 4 nội dung:
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) của cây Tông dù giai đoạn vườn ươm.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng đường kính cổ rễ ($D_{00}$) của cây Tông dù.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến tích lũy sinh khối khô của cây Tông dù ở giai đoạn vườn ươm.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến tỷ lệ xuất vườn và phân cấp chất lượng cây con Tông dù.
Đối tượng nghiên cứu là cây con Tông dù (Toona sinensis (A. Juss) Roem) được nhân giống từ hạt. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở việc đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng cây con dưới tác động của các chế độ tưới nước khác nhau tại vườn ươm Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên). Thời gian thực hiện thí nghiệm diễn ra từ tháng 2/2015 đến tháng 5/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu dựa trên cơ sở sinh lý thực vật học về vai trò của nước đối với sự phát triển của hệ keo nguyên sinh chất tế bào thực vật (chiếm trên 90% khối lượng chất nguyên sinh), sự duy trì sức trương biểu kiến $P$, quá trình quang hợp khử $\text{CO}_2$ và vận chuyển chất khoáng dinh dưỡng. Khung lý thuyết của đề tài kế thừa các luận điểm của Larcher (1983), Kramer (1993), Sands và Mulligan (1990), Nguyễn Văn Sở (2004) về sự cân bằng giữa độ ẩm đất và dưỡng khí trong bầu ươm; các dẫn liệu của Đoàn Đình Tam (về chế độ tưới cho cây Vối thuốc), Vũ Thị Lan và Nguyễn Văn Thêm (2006) về các nhân tố sinh thái tác động đến cây con thân gỗ bản địa.
Nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm lâm sinh học so sánh đơn nhân tố, bố trí khối ngẫu nhiên có lặp lại tại vườn ươm. Quy mô thí nghiệm gồm 5 công thức thí nghiệm (CTTN) với 3 lần lặp lại; mỗi lần lặp gồm 30 bầu, tương ứng 90 bầu cho mỗi công thức và tổng dung lượng mẫu là 450 bầu. Các ô thí nghiệm được bố trí cách nhau 10 cm trên luống ươm tiêu chuẩn (rộng 1 m, dài 2 m, rãnh luống đảm bảo thoát nước). Vỏ bầu làm bằng nhựa polyetylen kích thước $17 \times 22\text{ cm}$; thành phần ruột bầu gồm 90% đất tầng A sàng sạch tạp vật kết hợp 10% phân chuồng hoai mục. Hạt giống được xử lý khử trùng bằng dung dịch $\text{KMnO}_4$ nồng độ 0,1% trong 30 phút, ngâm nước ấm 40°C để nguội dần trong 4 giờ, sau đó ủ trong túi vải bông ở 20–30°C và rửa chua hàng ngày cho đến khi nứt nanh thì đem gieo sâu 0,5 cm. Sau khi hạt nảy mầm và cấy tỉa ổn định, cây con được chăm sóc đồng đều trong 1 tháng đầu như công thức đối chứng trước khi bắt đầu áp dụng chế độ tưới theo công thức. Giàn che thực nghiệm cao 100 cm, phía dưới lợp nilon trắng chắn nước mưa tự nhiên để kiểm soát lượng nước tưới, phía trên che lưới đen cản sáng 50%.
Lượng nước tưới cho một chậu đạt tới độ ẩm bão hòa ($A$) được xác định theo công thức cân đo hao hụt khối lượng:
$$A = a \cdot n + x \cdot (a \cdot n)$$
Trong đó: $a = m_1 - m_2$ (với $m_1$ là khối lượng chậu lúc bão hòa lúc 7 giờ sáng, $m_2$ là khối lượng chậu chưa tưới lúc 17 giờ chiều); $n$ là số chậu trên $1\text{ m}^2$ ($n = 30$ chậu); $x$ là tỷ lệ diện tích khe hở ($x = 0,31$). Trên cơ sở đó, 5 công thức thí nghiệm được xác lập:
| Ký hiệu |
Liều lượng tưới |
Tần suất và thời điểm tưới |
Ghi chú quy đổi |
| CT1 |
60 ml/chậu/lần |
2 lần/ngày (sáng sớm và chiều mát) |
Tương đương 1,8 lít/$m^2$/lần |
| CT2 |
70 ml/chậu/lần |
1 lần/ngày |
Tương đương 2,1 lít/$m^2$/lần |
| CT3 |
80 ml/chậu/lần |
2 ngày tưới 1 lần |
Tương đương 2,4 lít/$m^2$/lần |
| CT4 |
90 ml/chậu/lần |
3 ngày tưới 1 lần |
Tương đương 2,7 lít/$m^2$/lần |
| CT5 (Đối chứng) |
120 ml/chậu/lần |
1 lần/ngày vào lúc chiều muộn |
Tưới bằng ô roa, mức 7 lít/2$m^2$ |
Số liệu được thu thập vào cuối đợt thí nghiệm: đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo chính xác $\pm 0,1\text{ cm}$; đo đường kính cổ rễ ($D_{00}$) bằng thước dây đo chu vi quy đổi. Chỉ tiêu sinh khối khô được xác định theo phương pháp của "Sổ tay phân tích cây trồng": chọn ngẫu nhiên 3 cây tiêu chuẩn có chiều cao trung bình ở mỗi ô, rửa sạch đất bám rễ, phơi khô sơ bộ, bọc giấy báo sấy ở 105°C trong 6 giờ ngày đầu tiên và sấy lặp lại cho đến khi khối lượng không đổi, cân trên cân phân tích chính xác. Dữ liệu được xử lý thống kê trên phần mềm Excel bằng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA Single Factor) để kiểm định sự sai khác giữa các giá trị trung bình qua tiêu chuẩn Fisher ($F$), sau đó so sánh các cặp công thức bằng chỉ số sai dị bảo đảm nhỏ nhất (Least Significant Difference - LSD) ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$. Tỷ lệ xuất vườn được tính gộp từ tỷ lệ phần trăm cây đạt phẩm chất loại Tốt và loại Trung bình.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Chương này làm rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu khôi phục và phát triển diện tích rừng trồng cây Tông dù – một loài cây bản địa cho gỗ lớn có giá trị kinh tế cao, đồng thời là nguồn dược liệu và nguyên liệu chế phẩm sinh học. Tác giả phân tích hạn chế trong công tác tạo giống vườn ươm hiện nay, chỉ ra sự thiếu hụt các chỉ dẫn kỹ thuật định lượng về nhu cầu nước tưới cho cây con Tông dù. Mục tiêu nghiên cứu được xác định trọng tâm vào việc đánh giá phản ứng sinh trưởng của loài cây này trước các chế độ ẩm khác nhau để đưa ra quy trình tưới tối ưu. Ý nghĩa học thuật thể hiện ở việc áp dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh có kiểm soát, trong khi ý nghĩa thực tiễn cung cấp thông số kỹ thuật trực tiếp cho các vườn ươm lâm nghiệp tại khu vực trung du miền núi phía Bắc.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Nội dung chương tổng hợp cơ sở lý luận sinh lý thực vật về nhu cầu nước, phân loại cây trồng theo khả năng chịu hạn, và phân tích ưu nhược điểm của các biện pháp tưới nước (tưới nhỏ giọt, tưới tràn, tưới phun). Tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu trên thế giới (Karpov, Rusin, Sands, Mulligan) và tại Việt Nam về kỹ thuật gieo ươm các loài cây rừng như Hồi (tưới 3–4 lít/$m^2$/ngày), Sa mộc (tưới 3–4 lít/$m^2$ trong 12–15 ngày đầu rồi giảm còn 1–2 lít/$m^2$), Thông nhựa (4–5 lít/$m^2$/ngày), Vối thuốc (70 ml/ngày ở giai đoạn 2–4 tháng tuổi).
Về điều kiện khu vực nghiên cứu, địa điểm thực nghiệm nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa tại xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên, có nhiệt độ trung bình năm 22–23°C, lượng mưa trung bình 1.500–2.000 mm/năm (tập trung 85% vào mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10), độ ẩm không khí trung bình 82%. Kết quả phân tích lý hóa mẫu đất mặt tầng A tại vườn ươm được ghi nhận cụ thể:
| Độ sâu tầng đất (cm) |
Mùn (%) |
N tổng số (%) |
$\text{P}_2\text{O}_5$ (%) |
$\text{K}_2\text{O}$ (%) |
N dễ tiêu (mg/100g) |
$\text{P}_2\text{O}_5$ dễ tiêu (mg/100g) |
$\text{K}_2\text{O}$ dễ tiêu (mg/100g) |
pH |
| 1 – 10 |
1,766 |
0,024 |
0,241 |
0,035 |
3,64 |
4,56 |
0,90 |
3,5 |
| 10 – 30 |
0,670 |
0,058 |
0,211 |
0,060 |
3,06 |
0,12 |
0,12 |
3,9 |
| 30 – 60 |
0,711 |
0,034 |
0,131 |
0,107 |
0,107 |
3,04 |
3,04 |
3,7 |
Đất thực nghiệm là đất Feralit phát triển trên đá sa thạch, có độ chua cao ($\text{pH} = 3,5 - 3,9$), hàm lượng mùn và dinh dưỡng khoáng tổng số cũng như dễ tiêu đều ở mức nghèo. Về đặc tính loài, cây Tông dù phân bố tự nhiên ở độ cao 800–2.000 m (tập trung ở 900–1.200 m) tại các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Lạng Sơn; ưa đất màu mỡ thoát nước, pH thích hợp từ 5,5 đến 7,5–8,0; ưa sáng hoàn toàn ngay từ nhỏ nhưng giai đoạn vườn ươm 2–3 tháng đầu cần độ che bóng 40–60%.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 mô tả chi tiết phương pháp bố trí thí nghiệm vườn ươm gồm 5 công thức với 450 cây con, quy trình xử lý hạt giống bằng $\text{KMnO}4$, kỹ thuật tạo giá trị che chắn bằng mái nilon cách ly hoàn toàn nước mưa tự nhiên. Quy trình kỹ thuật 4 bước gồm chuẩn bị giá thể, xử lý gieo ươm, chăm sóc làm cỏ phá váng (định kỳ 10–15 ngày/lần), và theo dõi thu thập số liệu vào cuối đợt thí nghiệm. Tác giả trình bày chi tiết toán học của phương pháp phân tích phương sai một nhân tố ANOVA với các đại lượng: số hiệu chỉnh $C$, biến động tổng số $V_T$, biến động do nhân tố tác động $V_A$, biến động ngẫu nhiên $V_N$, phương sai $S_A^2$, $S_N^2$, tiêu chuẩn $F$ quan sát so với $F{05}$ tra bảng, và thuật toán kiểm định sai khác từng cặp trung bình qua giá trị $LSD$ ở mức xác suất 95%.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả
Chương này trình bày toàn bộ số liệu đo đếm, xử lý thống kê và biện luận về các chỉ tiêu sinh học của cây Tông dù:
- Sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$): CT1 đạt cao nhất (23,60 cm), tiếp theo là CT5 (21,06 cm), CT2 (20,27 cm), CT3 (19,31 cm) và thấp nhất là CT4 (18,58 cm). Phân tích phương sai cho thấy giá trị thực nghiệm $F_A = 5,526$ lớn hơn giá trị lý luận $F_{05} = 3,478$ (với bậc tự do $df_1 = 4, df_2 = 10, p = 0,013024$). Giá trị $LSD = 2,6\text{ cm}$. Sai lệch giữa CT1 với CT3 (4,29 cm) và CT1 với CT4 (5,02 cm) đều vượt $LSD$, khẳng định CT1 có tác động vượt trội rõ rệt về chiều cao so với các công thức tưới thưa kỳ.
- Sinh trưởng đường kính cổ rễ ($D_{00}$): CT1 đạt giá trị lớn nhất (0,45 cm), CT5 đạt 0,38 cm, CT2 đạt 0,37 cm, trong khi CT3 và CT4 cùng đạt 0,35 cm. Kết quả ANOVA ghi nhận $F_A = 18,824$ vượt xa giá trị giới hạn $F_{05} = 3,478$ ($p = 0,00012$). Giá trị $LSD = 0,026\text{ cm}$. Hiệu số đường kính của CT1 so với CT2 (0,08 cm), CT3 (0,10 cm), CT4 (0,09 cm) và CT5 (0,06 cm) đều lớn hơn $LSD$, chứng minh CT1 là công thức trội nhất về phát triển đường kính thân gốc.
- Sinh khối khô trung bình: Trọng lượng khô tích lũy của cây con giảm dần theo tần suất tưới: CT1 (5,42 g) > CT5 (4,51 g) > CT2 (3,79 g) > CT3 (3,04 g) > CT4 (2,90 g). CT1 vượt CT4 tới 2,52 g và vượt đối chứng CT5 là 0,91 g.
- Phân cấp chất lượng và tỷ lệ xuất vườn: Tỷ lệ xuất vườn (cây Tốt + cây Trung bình) đạt cao nhất ở CT1 (87,78%, trong đó loại Tốt chiếm 52,22%), đứng thứ hai là đối chứng CT5 (78,89%, loại Tốt 40,00%), kế đến là CT2 (72,22%, loại Tốt 26,67%), CT3 (57,78%, loại Tốt 17,78%) và thấp nhất là CT4 (54,44%, loại Tốt chỉ đạt 11,11%, tỷ lệ cây xấu lên tới 45,56%).
Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị
Tác giả tổng kết các kết luận kỹ thuật chính, khẳng định chế độ tưới nước 60 ml/chậu với tần suất 2 lần/ngày mang lại hiệu quả sinh trưởng toàn diện nhất. Khóa luận nêu rõ các mặt hạn chế trong quá trình thực tập về mặt thời gian và kiến thức bản thân, đồng thời đưa ra kiến nghị ứng dụng chế độ tưới này vào thực tiễn sản xuất giống Tông dù tại vườn ươm.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về các chỉ tiêu sinh trưởng lâm sinh của cây con Tông dù giai đoạn vườn ươm dưới 5 chế độ tưới nước khác nhau:
| Công thức |
Liều lượng và chế độ tưới |
$H_{vn}$ trung bình (cm) |
$D_{00}$ trung bình (cm) |
Sinh khối khô trung bình (g) |
Tỷ lệ cây tốt (%) |
Tỷ lệ cây xấu (%) |
Tỷ lệ xuất vườn (%) |
| CT1 |
60 ml/chậu, ngày tưới 2 lần |
23,60 |
0,45 |
5,42 |
52,22 |
12,22 |
87,78 |
| CT2 |
70 ml/chậu, ngày tưới 1 lần |
20,27 |
0,37 |
3,79 |
26,67 |
27,78 |
72,22 |
| CT3 |
80 ml/chậu, 2 ngày tưới 1 lần |
19,31 |
0,35 |
3,04 |
17,78 |
42,22 |
57,78 |
| CT4 |
90 ml/chậu, 3 ngày tưới 1 lần |
18,58 |
0,35 |
2,90 |
11,11 |
45,56 |
54,44 |
| CT5 (ĐC) |
120 ml/chậu, ngày tưới 1 lần (chiều) |
21,06 |
0,38 |
4,51 |
40,00 |
21,11 |
78,89 |
Thống kê thực nghiệm chứng minh rằng:
- Việc chia nhỏ lượng nước tưới thành 2 lần mỗi ngày (sáng sớm và chiều mát) với liều lượng 60 ml/chậu/lần (CT1) giúp duy trì độ ẩm ổn định trong bầu ươm, kích thích quá trình trao đổi chất và phân chia mô phân sinh, giúp chiều cao cây tăng thêm 2,54 cm và đường kính cổ rễ tăng 0,07 cm so với tập quán tưới tràn một lần vào chiều muộn của đối chứng (CT5).
- Kéo dài chu kỳ tưới (2 ngày/lần ở CT3 hoặc 3 ngày/lần ở CT4 dù tăng lượng nước mỗi lần lên 80–90 ml) làm suy giảm nghiêm trọng các chỉ tiêu sinh trưởng; cây bị thiếu ẩm xen kẽ khiến sinh khối khô giảm gần 46% (từ 5,42 g ở CT1 xuống 2,90 g ở CT4) và tỷ lệ cây con không đạt tiêu chuẩn xuất vườn tăng cao (tỷ lệ cây xấu của CT4 lên tới 45,56%).
- Đóng góp thực tiễn của đề tài là xây dựng được định mức tưới nước cụ thể (60 ml/chậu/lần, 2 lần/ngày) thay thế cho phương pháp tưới ước lượng cảm tính bằng thùng ô roa thông thường, nâng tỷ lệ cây con xuất vườn đạt chuẩn lên 87,78%.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận được thực hiện trong phạm vi thời gian thực tập tốt nghiệp có giới hạn (từ tháng 2/2015 đến tháng 5/2015, tương đương giai đoạn vườn ươm 4 tháng tuổi) tại một địa điểm duy nhất là Vườn ươm trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Thí nghiệm chỉ khảo sát trên một loại thành phần ruột bầu cố định (90% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục) và sử dụng mái che nilon cách ly mưa để kiểm soát ẩm. Tác giả tự nhận định do thời gian và kiến thức còn hạn chế nên chưa theo dõi được quá trình sinh trưởng của cây con sau khi trồng rừng ra ngoài thực địa, cũng như chưa đánh giá tương tác giữa chế độ tưới nước với các loại phân bón thúc hoặc các mức độ che sáng khác nhau. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng theo dõi sinh trưởng của cây Tông dù ở giai đoạn rừng non sau xuất vườn và khảo nghiệm chế độ tưới kết hợp bón phân vi sinh trên các quy mô vườn ươm công nghiệp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Nông lâm kết hợp, Quản lý tài nguyên rừng và Trồng trọt. Tài liệu cung cấp dữ liệu thực nghiệm có giá trị cao ở các phần:
- Phương pháp luận và công thức toán học tính toán nhu cầu nước bão hòa cho cây con đóng bầu nhựa tiêu chuẩn ($17 \times 22\text{ cm}$).
- Quy trình toán kê ứng dụng ANOVA 1 nhân tố và phép thử LSD chi tiết từng bước trên phần mềm Excel phục vụ xử lý số liệu thí nghiệm nông lâm nghiệp.
- Dữ liệu hóa lý đất đai khu vực đồi Thái Nguyên và các thông tin sinh học, phân loại học, kỹ thuật lâm sinh về thu hái, bảo quản hạt giống loài cây Tông dù (Toona sinensis).
Câu hỏi thường gặp
Hạt giống cây Tông dù trong nghiên cứu được xử lý nảy mầm theo quy trình kỹ thuật nào?
Hạt giống được xử lý diệt khuẩn bằng cách ngâm trong dung dịch thuốc tím $\text{KMnO}_4$ nồng độ 0,1% (pha 1 gam thuốc tím vào 1 lít nước) trong 30 phút. Sau đó vớt ra ngâm trong nước ấm 40°C để nguội dần trong 4 giờ. Tiếp theo, hạt được ủ trong túi vải bông ở nhiệt độ duy trì 20–30°C, hàng ngày rửa chua bằng nước lã sạch cho đến khi hạt nứt nanh thì tiến hành gieo vào bầu.
Thành phần giá thể ruột bầu và quy cách chậu ươm được bố trí như thế nào?
Ruột bầu gồm hỗn hợp 90% đất mặt tầng A lấy tại vườn ươm sàng sạch tạp vật kết hợp với 10% phân chuồng hoai mục. Kích thước túi bầu/chậu thực nghiệm là rộng 17 cm, cao 22 cm. Mỗi ô thí nghiệm xếp 30 bầu, xung quanh luống được vun đất cao bằng 2/3 thân bầu để giữ bầu không bị nghiêng đổ và giữ ẩm.
Kết quả phân tích phương sai (ANOVA) đối với sinh trưởng đường kính cổ rễ ($D_{00}$) cho thấy điều gì?
Kiểm định ANOVA một nhân tố đối với chỉ tiêu $D_{00}$ cho kết quả phương sai giữa các nhóm $MS_A = 0,00464$, phương sai ngẫu nhiên trong nội bộ nhóm $MS_N = 0,000247$, từ đó xác định giá trị kiểm định thực nghiệm $F_A = 18,824$. So sánh với giá trị tới hạn lý thuyết $F_{05} = 3,478$ (với bậc tự do 4 và 10), nhận thấy $F_A > F_{05}$ ở mức ý nghĩa $p = 0,00012$, cho phép bác bỏ giả thuyết $H_0$ và khẳng định các chế độ tưới nước tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê rất rõ rệt đối với đường kính cổ rễ cây Tông dù.
Vì sao công thức 4 (tưới 90 ml/chậu, 3 ngày tưới 1 lần) lại cho kết quả sinh trưởng kém nhất?
Mặc dù lượng nước mỗi lần tưới của CT4 lớn nhất (90 ml/chậu), nhưng khoảng cách giữa 2 lần tưới quá dài (3 ngày). Trong điều kiện nhiệt độ mùa hè tại vườn ươm, đất bầu nhanh chóng bị bốc hơi và khô kiệt trong 2 ngày không tưới, làm giảm sức trương tế bào và gián đoạn hoạt động quang hợp, rễ cây bị tổn thương do mất nước cục bộ. Hệ quả là cây con ở CT4 chỉ đạt chiều cao 18,58 cm, đường kính 0,35 cm, sinh khối khô 2,90 g và tỷ lệ cây phẩm chất xấu lên tới 45,56%.
Kết luận
Khóa luận của Đặng Thị Thu Tuyết đã hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu thông qua thí nghiệm lâm sinh có kiểm soát, chứng minh chế độ tưới nước có ảnh hưởng trực tiếp và rõ rệt đến sinh trưởng chiều cao, đường kính, sinh khối khô và phẩm chất cây con Tông dù giai đoạn vườn ươm. Chế độ tưới 60 ml/chậu với tần suất 2 lần/ngày (CT1) là công thức tối ưu nhất, mang lại chiều cao vút ngọn đạt 23,60 cm, đường kính cổ rễ đạt 0,45 cm, sinh khối khô đạt 5,42 g và tỷ lệ xuất vườn đạt 87,78%. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học và kỹ thuật tin cậy để các cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp áp dụng vào thực tiễn gieo ươm cây Tông dù phục vụ các chương trình trồng rừng gỗ lớn.