Giới thiệu dự án

Cây Tông dù (Toona sinensis (A. Juss) Roem), thuộc họ Xoan (Meliaceae), là loài cây gỗ lớn bản địa quý hiếm có giá trị kinh tế và sinh thái vượt trội. Gỗ Tông dù có giác lõi phân biệt rõ rệt, tỷ trọng trung bình 0,55 – 0,62, thớ vân đẹp, chống mối mọt và co rút, rất được ưa chuộng trong sản xuất đồ nội thất cao cấp, ván sàn và vật liệu xây dựng. Bên cạnh giá trị lấy gỗ, các hợp chất sinh học từ lá non, vỏ và quả Tông dù còn được ứng dụng để chiết xuất tinh dầu, làm dược liệu và sản xuất thuốc trừ sâu sinh học.

Tuy nhiên, nguồn giống Tông dù phục vụ trồng rừng thâm canh và phòng hộ hiện nay đang đối mặt với sự suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ khâu gieo ươm cây con:

  • Thiếu quy chuẩn tưới nước định lượng: Đa số vườn ươm áp dụng tưới tràn hoặc tưới vòi ô roa truyền thống theo cảm quan, dẫn đến tình trạng ngập úng cục bộ hoặc khô hạn xen kẽ.
  • Tỷ lệ phân hóa cây con cao: Nước dư thừa làm bết dính đất Feralit ruột bầu, gây nghẹt rễ, nấm lở cổ rễ (Rhizoctonia solani); ngược lại, thiếu nước làm giảm sức trương tế bào ($P$), kìm hãm quang hợp và trao đổi chất.
  • Tỷ lệ xuất vườn thấp: Tỷ lệ cây đạt chuẩn xuất vườn thông thường chỉ dao động từ 50% – 70%, gây lãng phí chi phí nhân công và nguyên vật liệu đóng bầu.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

  1. Định lượng tác động sinh trưởng: Xác định ảnh hưởng của 5 chế độ tưới nước (liều lượng từ 60 – 90 ml/chậu, chu kỳ từ 2 lần/ngày đến 3 ngày/lần so với đối chứng 120 ml/chậu) đến chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) và đường kính cổ rễ ($D_{00}$) của cây Tông dù 4 tháng tuổi.
  2. Đo lường sinh khối khô: Đánh giá mức độ tích lũy vật chất khô toàn thân cây ở nhiệt độ sấy chuẩn hóa 105°C.
  3. Chuẩn hóa tỷ lệ xuất vườn: Tìm ra công thức tưới tối ưu giúp nâng tỷ lệ cây con đạt phẩm chất Tốt + Trung bình lên trên 85%.
  4. Cung cấp cơ sở khoa học: Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật tưới tiêu phục vụ sản xuất giống quy mô công nghiệp tại vùng trung du và miền núi phía Bắc.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu

  • Địa điểm thực nghiệm: Vườn ươm Khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, TP. Thái Nguyên).
  • Điều kiện nền: Đất Feralit phát triển trên đá sa thạch, tầng A chua ($pH_{KCl} = 3,5 - 3,9$), hàm lượng mùn 1,766%, nghèo lân và đạm dễ tiêu.
  • Quy mô: 450 cây con phân bố trên 15 ô tiêu chuẩn (5 công thức $\times$ 3 lần lặp, mỗi ô 30 bầu).

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Trong canh tác vườn ươm lâm nghiệp, các phương pháp cấp nước hiện hành tồn tại nhiều hạn chế kỹ thuật:

Phương pháp tưới Ưu điểm Nhược điểm Chi phí vận hành Hiệu quả cấp ẩm
Tưới tràn (Surface Flood) Chi phí thiết bị thấp, thao tác nhanh Thất thoát nước lớn (>50%), rửa trôi dinh dưỡng, dễ lây lan nấm rễ Trung bình Kém, ẩm độ không đều
Tưới ô roa truyền thống Dễ triển khai, vốn đầu tư ban đầu thấp Lực hạt nước lớn làm xói lở mặt bầu, tưới không định lượng chính xác Cao (nhân công) Trung bình, bốc hơi nhanh
Tưới nhỏ giọt tự động Tiết kiệm nước 30-50%, tự động hóa cao Chi phí đầu tư cao, dễ tắc nghẽn đầu nhỏ giọt do chất lượng nước Thấp Rất cao
Vi tưới chia liều (Nghiên cứu) Tối ưu hóa độ ẩm bão hòa, rễ hấp thu liên tục, chi phí hợp lý Cần tuân thủ nghiêm ngặt lịch trình tưới 2 lần/ngày Trung bình Tối ưu sinh lý rễ

Ma trận ưu tiên yêu cầu kỹ thuật (MoSCoW)

  • Must-have (Bắt buộc): Giữ ẩm độ bầu đất ở trạng thái cân bằng thẩm thấu; hạn chế tối đa sốc nhiệt rễ; đạt chiều cao cây $H_{vn} \ge 20\text{ cm}$ và đường kính $D_{00} \ge 0,40\text{ cm}$ sau 4 tháng.
  • Should-have (Nên có): Mái che nilon trong suốt cách ly nước mưa tự nhiên để đảm bảo tính chuẩn xác của lượng nước thí nghiệm; giàn che sáng 50%.
  • Could-have (Có thể): Sử dụng hệ thống vòi phun hạt mịn định lượng tự động.
  • Won't-have (Không áp dụng): Tưới đẫm một lần với chu kỳ ngắt quãng kéo dài trên 3 ngày gây hiện tượng co rút chất nguyên sinh.

Thiết kế hệ thống thực nghiệm

Hệ thống vườn ươm được chuẩn hóa theo sơ đồ chu trình điều khiển ẩm độ thực vật:

graph TD
    A["Hạt giống Tông dù tuyển chọn"] --> B["Khử trùng KMnO4 0.1% (30 phút) & Ủ ấm 40°C"]
    B --> C["Gieo vào bầu PE 17x22cm (90% Đất Feralit + 10% Phân chuồng hoai)"]
    C --> D["Giai đoạn ổn định mầm (20 ngày đầu tưới đều 1 lần/chiều muộn)"]
    D --> E["Phân bổ 5 Công thức Thí nghiệm (CTTN)"]
    
    E --> F1["CT1: 60ml/chậu x 2 lần/ngày"]
    E --> F2["CT2: 70ml/chậu x 1 lần/ngày"]
    E --> F3["CT3: 80ml/chậu x 1 lần/2 ngày"]
    E --> F4["CT4: 90ml/chậu x 1 lần/3 ngày"]
    E --> F5["CT5: Đối chứng ô roa 120ml/chậu/ngày"]
    
    F1 & F2 & F3 & F4 & F5 --> G["Thu thập chỉ tiêu: Hvn, D00, Sinh khối khô 105°C"]
    G --> H["Kiểm định ANOVA 1 nhân tố & Sai dị nhỏ nhất LSD"]

Phương pháp luận (Methodology)

Nghiên cứu áp dụng phương pháp giải tích thực nghiệm một nhân tố lặp lại (Single Factor ANOVA with Replications).

  1. Công thức tính lượng nước tưới bão hòa ($A$): $$A = a \cdot n + x \cdot (a \cdot n)$$ Trong đó:

    • $a = m_1 - m_2$: Lượng nước tiêu hao của một chậu sau thời gian $t$ (gam).
    • $m_1$: Khối lượng bầu đất lúc bão hòa ẩm (1544 g lúc 7:00).
    • $m_2$: Khối lượng bầu đất trước khi tưới (1500 g lúc 17:00) $\rightarrow a = 44\text{ g}$.
    • $n$: Số lượng chậu trên $1\text{ m}^2$ mặt luống ($n = 30$ chậu).
    • $x$: Tỷ lệ diện tích khe hở giữa các chậu ($x = 0,31$).
    • $\rightarrow A_{CT1} = 44 \times 30 + 0,31 \times (44 \times 30) = 1.807,8\text{ g} \approx 1,8\text{ lít/m}^2 \Leftrightarrow 60\text{ ml/chậu}$.
  2. Kỹ thuật thu thập và xử lý mẫu:

    • Đo chiều cao ($H_{vn}$): Sử dụng thước chuyên dụng vạch chia milimet, độ chính xác $\pm 0,1\text{ cm}$, đo từ mặt đất cổ rễ đến đỉnh sinh trưởng.
    • Đo đường kính cổ rễ ($D_{00}$): Dùng thước dây đo chu vi và quy đổi đường kính ($D = C/\pi$).
    • Sinh khối khô (Dry Biomass): Rửa sạch hệ rễ trong nước, sấy mẫu tại tủ sấy Memmert ở nhiệt độ $105^\circ\text{C}$ trong 6 giờ đến khi đạt khối lượng không đổi, cân trên cân phân tích 4 số lẻ.

Implementation và kết quả

Quy trình triển khai thực địa

  • Bước 1 - Xử lý hạt giống: Thu hái quả Tông dù tháng 11–12 từ cây mẹ trên 8–10 năm tuổi. Tách hạt đạt độ sạch $>95%$, ngâm khử nấm bằng dung dịch $KMnO_4\text{ 0,1%}$ trong 30 phút, xử lý nước ấm $40^\circ\text{C}$ trong 4 giờ, ủ vải bông ở nhiệt độ $20-30^\circ\text{C}$ đến khi nứt nanh.
  • Bước 2 - Đóng bầu và lên luống: Bầu PE kích thước $17 \times 22\text{ cm}$, hỗn hợp ruột bầu gồm $90%$ đất tầng A đồi Feralit $+ 10%$ phân chuồng hoai mục. Luống tiêu chuẩn rộng $1\text{ m}$, dài $2\text{ m}$, xếp 30 bầu/ô tiêu chuẩn, cách ly giữa các ô $10\text{ cm}$.
  • Bước 3 - Kiểm soát tiểu khí hậu: Thiết lập giàn che cao $100\text{ cm}$, phủ màng nilon trong suốt bên dưới ngăn nước mưa tuyệt đối và lưới đen tán xạ ánh sáng $50%$ bên trên.
  • Bước 4 - Chăm sóc phá váng: Định kỳ 10 – 15 ngày làm cỏ kết hợp xới nhẹ bề mặt bầu phá lớp váng, bảo vệ bộ rễ khí sinh.
# Script kiểm định thống kê ANOVA 1 nhân tố và Fisher LSD cho đồ án
import numpy as np
import scipy.stats as stats

# Dữ liệu chiều cao Hvn (cm) từ 3 lần lặp lại
data_Hvn = {
    'CT1': [24.72, 23.24, 22.84], # 60ml x 2 lần/ngày
    'CT2': [22.50, 18.79, 19.54], # 70ml x 1 lần/ngày
    'CT3': [21.73, 18.73, 17.47], # 80ml x 1 lần/2 ngày
    'CT4': [19.02, 18.45, 18.28], # 90ml x 1 lần/3 ngày
    'CT5': [20.96, 21.76, 20.45]  # Đối chứng 120ml
}

# Chạy phân tích phương sai 1 nhân tố
f_val, p_val = stats.f_oneway(*data_Hvn.values())
print(f"ANOVA Hvn: F-Statistic = {f_val:.4f}, p-value = {p_val:.6f}")

# Tính toán sai dị bảo đảm nhỏ nhất LSD (alpha = 0.05)
k = len(data_Hvn) # số nhóm = 5
N = sum(len(v) for v in data_Hvn.values()) # N = 15
df_within = N - k # df = 10
ms_within = 2.04086 # Phương sai ngẫu nhiên VN / df
t_crit = stats.t.ppf(1 - 0.05/2, df_within)
lsd_Hvn = t_crit * np.sqrt(2 * ms_within / 3)
print(f"Fisher LSD (0.05) for Hvn = {lsd_Hvn:.4f} cm")

Kết quả đo lường và kiểm định thống kê

1. Sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$)

Chế độ tưới nước tác động rõ rệt đến chiều cao cây con. Công thức 1 đạt đỉnh sinh trưởng với chiều cao trung bình $23,60\text{ cm}$, vượt trội hoàn toàn so với các công thức còn lại.

CTTN Chế độ cấp ẩm chi tiết Lần lặp 1 (cm) Lần lặp 2 (cm) Lần lặp 3 (cm) $H_{vn}$ TB (cm)
CT1 60 ml/lần $\times$ 2 lần/ngày 24,72 23,24 22,84 23,60
CT2 70 ml/lần $\times$ 1 lần/ngày 22,50 18,79 19,54 20,27
CT3 80 ml/lần $\times$ 1 lần/2 ngày 21,73 18,73 17,47 19,31
CT4 90 ml/lần $\times$ 1 lần/3 ngày 19,02 18,45 18,28 18,58
CT5 Đối chứng: 120 ml/lần $\times$ 1 lần/ngày 20,96 21,76 20,45 21,06

Bảng phân tích phương sai ANOVA cho $H_{vn}$:

  • Tổng biến động giữa các nhóm ($SS_A$): $45,1144$ ($df = 4$, $MS = 11,2786$).
  • Biến động nội bộ ngẫu nhiên ($SS_N$): $20,4086$ ($df = 10$, $MS = 2,0409$).
  • Giá trị kiểm định: $F_{thực nghiệm} = 5,526 > F_{0,05} = 3,478$ ($P\text{-value} = 0,013024$).
  • Giá trị $LSD_{0,05} = 2,62\text{ cm}$. Hiệu số sai dị từng cặp cho thấy CT1 vượt trội có ý nghĩa thống kê so với CT2 ($3,33\text{ cm} > LSD$), CT3 ($4,29\text{ cm} > LSD$) và CT4 ($5,02\text{ cm} > LSD$).

2. Sinh trưởng đường kính cổ rễ ($D_{00}$)

Đường kính cổ rễ là chỉ tiêu quan trọng quyết định độ cứng vững khi đem trồng rừng.

CTTN Lần lặp 1 (cm) Lần lặp 2 (cm) Lần lặp 3 (cm) $D_{00}$ TB (cm) So với ĐC (CT5)
CT1 0,47 0,43 0,43 0,45 +18,42%
CT2 0,38 0,35 0,37 0,37 -2,63%
CT3 0,36 0,35 0,33 0,35 -7,89%
CT4 0,35 0,35 0,35 0,35 -7,89%
CT5 0,38 0,40 0,37 0,38 Gốc đối chứng

Bảng phân tích ANOVA cho $D_{00}$:

  • $F_{thực nghiệm} = 18,824 > F_{0,05} = 3,478$ ($P\text{-value} = 0,00012$).
  • Giá trị $LSD_{0,05} = 0,026\text{ cm}$. CT1 vượt trội có ý nghĩa thống kê so với tất cả các công thức còn lại ($p < 0,001$).

3. Tích lũy sinh khối khô và Tỷ lệ xuất vườn

CTTN Sinh khối khô TB (g/cây) Tỷ lệ cây Tốt (%) Tỷ lệ cây TB (%) Tỷ lệ cây Xấu (%) Tỷ lệ Xuất vườn (%)
CT1 5,42 52,22 35,56 12,22 87,78
CT2 3,79 26,67 45,56 27,78 72,22
CT3 3,04 17,78 40,00 42,22 57,78
CT4 2,90 11,11 43,33 45,56 54,44
CT5 4,51 40,00 38,89 21,11 78,89
TỶ LỆ XUẤT VƯỜN (TỐT + TRUNG BÌNH) Ở CÁC CÔNG THỨC THÍ NGHIỆM
CT1 (60ml x 2/ngày)  [████████████████████████████████████████] 87.78% (Tối ưu)
CT5 (Đối chứng 120ml)[████████████████████████████████        ] 78.89%
CT2 (70ml x 1/ngày)  [███████████████████████████             ] 72.22%
CT3 (80ml x 1/2ngày) [████████████████████                    ] 57.78%
CT4 (90ml x 1/3ngày) [██████████████████                      ] 54.44% (Kém nhất)

Đổi mới và đóng góp

  1. Phương pháp tiếp cận "Vi tưới chia liều" (Micro-split Irrigation): Thay vì tưới một lượng lớn $120\text{ ml}$ một lần vào chiều muộn (gây rửa trôi dinh dưỡng và ứ đọng nước qua đêm), việc chia nhỏ thành $60\text{ ml}$ vào sáng sớm kết hợp $60\text{ ml}$ vào chiều mát giúp duy trì thế năng nước trong đất luôn tiệm cận điểm dung tích ẩm đồng ruộng (Field Capacity), kích thích hoạt động phân chia tế bào mô phân sinh ngọn.
  2. Hiệu suất tăng trưởng vượt trội:
    • Chiều cao ($H_{vn}$): Tăng $12,06%$ so với đối chứng (CT5) và tăng $27,02%$ so với tưới gián đoạn (CT4).
    • Đường kính cổ rễ ($D_{00}$): Tăng $18,42%$ so với đối chứng và tăng $28,57%$ so với CT4.
    • Sinh khối khô tích lũy: Đạt $5,42\text{ g/cây}$, cao hơn đối chứng $20,18%$ và vượt CT4 tới $86,90%$.
    • Tỷ lệ xuất vườn: Đạt $87,78%$, giảm tỷ lệ cây xấu/hỏng xuống chỉ còn $12,22%$ (so với $45,56%$ ở CT4).
  3. Đóng góp vào cơ sở dữ liệu lâm học: Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm chính xác về phản ứng sinh lý của loài Toona sinensis giai đoạn cây mạ, lấp đầy khoảng trống kỹ thuật gieo ươm cây gỗ quý bản địa nhóm 1 tại vùng miền núi phía Bắc Việt Nam.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Kịch bản triển khai quy mô vườn ươm 100.000 cây

  • Cấu trúc hạ tầng:
    • Thiết kế luống tiêu chuẩn $1,0 \times 10\text{ m}$, chứa $1.500$ bầu/luống.
    • Sử dụng khung vòm tre/thép cao $1,2\text{ m}$ bọc màng Polyethylene $150\text{ µm}$ chống mưa dầm và lưới dệt kim đen che sáng $50%$.
  • Lịch trình cấp nước chuẩn hóa:
    • Giai đoạn 1 (0 – 20 ngày sau cấy): Duy trì tưới giữ ẩm nền $1\text{ lần/ngày}$ vào buổi chiều ($60 - 70\text{ ml/bầu}$).
    • Giai đoạn 2 (20 – 120 ngày tuổi): Áp dụng nghiêm ngặt chế độ CT1 – Tưới $60\text{ ml/bầu}$ vào 7:00 sáng và $60\text{ ml/bầu}$ vào 16:30 chiều.
    • Giai đoạn 3 (15 ngày trước xuất vườn): Hãm nước, giảm dần còn $30\text{ ml/bầu/ngày}$ để cây hóa gỗ cổ rễ và tăng khả năng chịu hạn khi ra thực địa.

Phân tích hiệu quả kinh tế (Cost-Benefit Analysis)

                       BẢNG HẠCH TOÁN CHI PHÍ TRÊN 100.000 CÂY CON

Hạn chế và hướng phát triển

Hạn chế kỹ thuật

  1. Quy mô thực nghiệm thủ công: Lượng nước tưới được đong bằng ống đong chia độ thủ công, tốn nhân lực nếu nhân rộng quy mô triệu cây mà chưa có hệ thống vi tưới tự động hóa.
  2. Yếu tố nền đất cục bộ: Thí nghiệm thực hiện trên đất Feralit chua đặc thù tại Thái Nguyên ($pH \approx 3,5 - 3,9$), cần hiệu chỉnh khi áp dụng trên các nền đất cát pha hoặc đất phù sa ven sông.
  3. Giới hạn thời gian: Nghiên cứu dừng lại ở giai đoạn vườn ươm 4 tháng tuổi, chưa theo dõi tiếp sinh trưởng sau khi trồng rừng đại trà ở năm 1 – năm 3.

Hướng phát triển đề xuất

  • Tích hợp IoT và cảm biến độ ẩm đất: Ứng dụng cảm biến điện dung (Capacitive Soil Moisture Sensor) kết hợp vi điều khiển ESP32 và van điện từ Solenoid để tự động hóa chu kỳ tưới khi ẩm độ đất giảm xuống dưới $65%$.
  • Nghiên cứu phối hợp phân bón lá (Fertigation): Kết hợp phân bón NPK vi lượng hòa tan trong dòng nước tưới $60\text{ ml}$ định lượng nhằm rút ngắn thời gian vườn ươm từ 4 tháng xuống 3 tháng.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Kỹ sư Lâm nghiệp: Tiếp cận phương pháp nghiên cứu thực nghiệm chuẩn tắc, nắm vững quy trình phân tích phương sai ANOVA và kiểm định LSD trên dữ liệu sinh học thực tế.
  • Chủ trang trại & Cơ sở ươm giống: Sở hữu quy trình tưới định lượng chính xác, tăng thêm $8,89%$ sản lượng xuất vườn thương phẩm, giảm thiểu rủi ro nấm bệnh chết cây mạ.
  • Nhà nghiên cứu & Ban quản lý rừng: Dữ liệu chuẩn để xây dựng cẩm nang kỹ thuật lâm sinh cho các dự án phục hồi rừng bản địa và phát triển rừng gỗ lớn bền vững.

Câu hỏi thường gặp

1. Yêu cầu kỹ thuật và cơ sở vật chất tối thiểu để triển khai chế độ tưới CT1 là gì?

Cần chuẩn bị mặt luống bằng phẳng rộng $1\text{ m}$, đất ruột bầu phối trộn $90%$ đất tầng A đồi sa thạch $+ 10%$ phân chuồng ủ hoai, túi bầu PE $17 \times 22\text{ cm}$, giàn che sáng $50%$ có mái nilon chống mưa và hệ thống vòi tưới áp lực thấp hạt mịn có đồng hồ đo lưu lượng.

2. Tại sao tưới 1 lần 90 ml cách quãng 3 ngày (CT4) lại cho kết quả kém nhất?

Khi đất khô kiệt trong 3 ngày, sức trương tế bào ($P$) suy giảm nghiêm trọng, khí khổng đóng lại làm ngưng trệ quá trình cố định $CO_2$ trong quang hợp. Khi tưới dồn $90\text{ ml}$, nước không giữ lại được trong hạt keo đất mà chảy tràn ra ngoài khe hở, làm rễ bị sốc ẩm và nghẹt khí oxy tạm thời.

3. Có thể thay thế phân chuồng hoai mục bằng giá thể xơ dừa hoặc tro trấu không?

Có thể thay thế một phần (khoảng $20 - 30%$), tuy nhiên cần lưu ý xơ dừa giữ nước rất lâu. Khi đó lượng nước tưới ở CT1 cần hiệu chỉnh giảm từ $60\text{ ml}$ xuống khoảng $45 - 50\text{ ml/lần}$ để tránh úng bầu.

4. Quy trình phòng trừ bệnh lở cổ rễ trong giai đoạn tưới nước 2 lần/ngày như thế nào?

Cần xử lý triệt để hạt bằng dung dịch $KMnO_4\text{ 0,1%}$ trước khi ủ. Định kỳ 15 ngày một lần phun phòng bằng thuốc gốc đồng (Booc-đô 1% hoặc Validacin 5SL) kết hợp xới váng mặt bầu để đảm bảo độ thông thoáng khí tầng mặt.

5. Chi phí đầu tư hệ thống tưới bán tự động cho vườn ươm Tông dù có cao không và bao lâu thu hồi vốn?

Hệ thống ống dẫn PE, béc phun sương xoay và bộ hẹn giờ tự động (Timer) cho diện tích $500\text{ m}^2$ (khoảng $30.000$ cây) có chi phí khoảng $8.000.000 - 12.000.000\text{ VNĐ}$. Nhờ tăng tỷ lệ cây xuất vườn và tiết kiệm $50%$ công tưới, mô hình có thể hoàn vốn ngay trong vụ ươm đầu tiên (4 tháng).


Kết luận

Nghiên cứu thực nghiệm tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã chứng minh một cách định lượng và khoa học rằng Chế độ tưới 60 ml/lần $\times$ 2 lần/ngày (sáng sớm và chiều mát) là công thức kỹ thuật tối ưu nhất cho cây Tông dù (Toona sinensis) giai đoạn vườn ươm. Chế độ này mang lại các chỉ số sinh học vượt bậc: chiều cao vút ngọn đạt $23,60\text{ cm}$, đường kính cổ rễ đạt $0,45\text{ cm}$, sinh khối khô đạt $5,42\text{ g/cây}$ và tỷ lệ xuất vườn thương phẩm đạt mức kỷ lục $87,78%$. Việc chuyển đổi từ phương pháp tưới tràn định tính sang vi tưới định lượng không chỉ tối ưu hóa sinh lý sinh trưởng của cây gỗ bản địa quý hiếm mà còn mang lại giá trị kinh tế trực tiếp và bền vững cho ngành sản xuất giống lâm nghiệp.