Đặt vấn đề Giống là một khâu đặc biệt quan trọng trong các chương trình trồng rừng kể cả cho rừng kinh tế, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng cây phân tán. Công tác giống đóng một vai trò không thể thiếu được trong trồng rừng, nhằm tái tạo, giúp cho sản xuất nghề rừng được lâu dài, sớm phát huy tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường. Giống là một khâu quan trọng của rừng thâm canh. Không có giống được cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đưa năng suất rừng lên cao.
Cây Tông dù có tên khoa học là: Toona sinensis A.Roem Pygeum arboreum Endl. Et Kurz, họ; xoan(Meliaceae). Lớp(nhóm); cây gỗ lớn. Tên Việt Nam; Xoan Đào.
Tên địa phương: Mạy sao, Xoan hôi. Cây gỗ thân thẳng, cao 20-30m, đường kính ngang ngực 60-100 cm, cho gỗ lớn, cành nhánh ít chủ yếu mọc tập trung ở ngọn, tán hình ô. Vỏ màu nâu gạch đến xám, bong mảng, thịt vỏ màu hồng, nhiều xơ, dày 1 cm có mùi hăng như tỏi. Cành non có màu nâu đỏ hoặc lục xám, nhiều bì khổng.
Cây Tông dù là loài cây mà từ lâu nó đã gắn liền với cuộc sống của mỗi người dân việt nam. Ngày nay nhờ áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật mà đã chế tạo ra nhiều vật dụng từ gỗ Tông dù rất tinh sảo và bền đẹp. Cây Tông dù là một loài cây quý nhưng đang mất dần trên thị trường do không cạnh tranh nổi với các loại cây giống lâm nghiệp và cây gỗ quý khác, tuy nhiên giá trị của cây Tông dù cũng còn rất lớn, cây Tông dù rất dễ trồng , lớn nhanh. Tông dù cũng dễ tính nên đất nào cũng mọc được, nhiều nghiên cứu cho thấy 2 trồng cây Tông dù đem lại hiệu quả kinh tế cao vì cây sinh trưởng và thu hoạch nhanh hơn so với các loại lâm nghiệp khác.
Gỗ Tông dù là loại gỗ lớn và quý, được dùng đóng nhiều đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như cửa gỗ, bàn ghế, tủ bếp,… đặc biệt, hiện nay gỗ Tông dù được dùng làm ván lót sàn, kệ bếp, đồ nội thất cao cấp, loại gỗ này đang rất được ưa chuộng trên thị trường. Hơn nữa, cây Tông dù là loại cây mà lá non và vỏ cây có thể dùng để chiết xuất tinh dầu, bên cạnh đó, hiện nay lá và quả Tông dù còn được dùng làm nguyên liệu sản xuất thuốc trừ sâu sinh học, có nơi còn dùng lá Tông dù để chữa ghẻ cho trẻ con, các họa sĩ thường dùng than Tông dù để vẽ tranh. Than của chúng còn được dùng làm thuốc súng. Quả thực không có loại cây nào mang lại nhiều lợi ích như cây Tông dù.Nó không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn là nguồn dược liệu quý trong đời sống nhân dân.Từ những giá trị trên, nhiều nơi người dân đã có nhu cầu trồng rừng loài cây này.
Để sản xuất được cây con cho trồng rừng đảm bảo cả về số lượng và chất lượng, cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong gieo ươm. Tuy nhiên trong quá trình gieo ươm có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây con, trong đó có chế độ tưới nước, xuất phát từ những vấn đề trên tôi thực hiện đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng của cây Tông Dù (Toona sinensis (A. Juss) Roem) giai đoạn vườn ươm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Kết quả đề tài góp phần nhân giống cây con Tông dù cung cấp cho trồng rừng với mục đích lấy gỗ lớn.
Mục tiêu nghiên cứu Xác định được số lần và liều lượng tưới nước phù hợp cho sinh trưởng của cây Tông dù trong giai đoạn vườn ươm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp sinh viên củng cố thêm về những kiến thức đã được học. - Học được cách sắp xếp bố trí công việc trong học tập nghiên cứu một cách khoa học.
- Giúp ta làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và tạo tác phong làm việc độc lập khi ra thực tế. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đề tài là cơ sở để đề xuất một số biện pháp kỹ thuật chủ yếu trong sản xuất giống cây Tông dù trong giai đoạn vườn ươm. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Vai trò của nước đối với cây Nước là thành phần quan trọng cấu trúc nên chất nguyên sinh. Nước chiếm trên 90% khối lượng của chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh chất. Bình thường chất nguyên sinh ở trạng thái sol biểu hiện hoạt động mạnh. Nếu mất nước thì hệ keo nguyên sinh chất có thể chuyển sang trạng thái coaxeva hay gel làm giảm mức độ hoạt động sống của tế bào và của cây.
Nước tham gia và các phản ứng hóa sinh, các biến đổi chất trong tế bào. Nước là dung môi đặc hiệu cho các phản ứng, vừa tham gia trực tiếp vào các phản ứng trong cây. Nước cung cấp điện tử H+ cho việc khử C02 trong quang hợp, tham gia oxy hóa nguyên liệu hô hấp, tham gia quá trình phản ứng thủy phân… Nước hòa tan các chất hữu cơ và các chất khoáng rồi vận chuyển đến tất cả các cơ quan cần thiết trong toàn cơ thể và tích lũy vào cơ quan dự trữ. Có thể nói nước là mạch máu lưu thông đảm bảo khâu điều hòa và phân phối vật chất trong cây, quyết định việc hình thành năng suất và kinh tế của cây trồng.
Nước là chất điều chỉnh nhiệt trong cây. Khi gặp nhiệu độ cao, quá trình bay hơi nước sẽ làm giảm nhiệt độ đặc biệt là của bộ lá, đảm bảo các hoạt động quang hợp và các chức năng sinh lý khác tiến hành thuận lợi. Đồng thời, quá trình thoát hơi nước ở lá là động lực quan trọng nhất để hút nước và chất khoáng từ đất cung cấp cho các bộ phận trên mặt đất. 5 Nước còn có chức năng dự trữ trong cây.
Các loại thực vật chịu hạn như các thực vật mọng nước (CAM) có hàm lượng nước dự trữ lớn, khí khổng đóng ban ngày nên có thể sống trong điều kiện khô hạn ở sa mạc, các đồi cát, đồi trọc thiếu nước… Hàm lượng nước liên kết với thực vật này rất cao quyết đinh khả năng chống chịu của chúng đối với điều kiện bất thuận nhất là chịu nóng và chịu hạn. Tế bào thực vật duy trì một sức trương P nhất định nhờ hấp thu bằng con đường thẩm thấu vào không bào. Nhờ có sức trương P lớn mà đảm bảo cho tế bào luôn ở trạng thái no nước và cây ở trạng thái căng, tươi thuận lợi cho các hoạt động sinh lý và sinh trưởng phát triển của cây. Ngược lại, nếu thiếu nước thì sức trương của tế bào giảm xuống, tế bào co lại gây hiện tượng héo của cây.
Như vậy, nước vừa tham gia cấu trúc nên cơ thể thực vật, vừa tham gia các biến đổi hóa sinh và các hoạt động sinh lý của cây, cũng như quyết định đến năng suất cây trồng. Khi thiếu nước, tất cả các quá trình trao đổi vật chất và hoạt động sinh lý diễn ra trong cơ thể đều bị đảo lộn, quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bị kìm hãm, quá trình thụ phấn, thụ tinh không xảy ra làm giảm năng suất thực vật [3]. Nước có vai trò quan trọng trong sự nảy mầm của hạt giống, nước kích thích hệ thống enzim trong hạt, tạo ra sự cân bằng nước, tăng cường trao đổi chất và thúc đẩy cây sinh trưởng. Nhu cầu nước của thực vật là lượng nước cần thiết để đảm bảo mọi quá trình hoạt động của thực vật diễn ra bình thường.
Yêu cầu nước đó là quan hệ của thực vật với điều kiện ẩm độ của hoàn cảnh và khả năng thích nghi với lượng nước cần thiết trong điều kiện nhất định. Căn cứ vào mức độ quan hệ của thực vật người ta chia ra các nhóm thực vật như sau: 6 Thực vật chịu hạn: Là những thực vật mọc được ở nơi khô, có khả năng chịu hạn rất cao nhờ biện pháp thích ứng của nó. Thực vật chịu khô: Trung gian giữa nhóm chịu hạn và ưa ẩm trung bình. Thực vật trung tính: Yêu cầu độ ẩm trung bình và chúng có khả năng chống chịu hạn ở mức độ nhất định.
Thực vật ưa ẩm: Yêu cầu độ ẩm trung bình và không chịu được khô hạn, ở nơi khô rễ của chúng kém phát triển, ăn nông, ít phân nhánh. Đối với nhóm chịu hạn chúng có ý nghĩa thiết thực đối với công tác trồng cây, chúng có khả năng chống lại điều kiện khô hạn bằng cách dựa vào tổ chức bảo vệ là lá có vẩy, lá cứng, có lông và tầng cutin để giữ nước ở tế bào và giảm sự thoát hơi nước, có hệ rễ phát triển để hút nước. Mặt khác chúng có khả năng rút vào trạng thái ngủ nhanh khi gặp hạn và khi có nước lại tiếp tục sinh trưởng rất nhanh. Các biện pháp tưới nước Có rất nhiều cách tưới để lựa chọn cho phù hợp với cây Tông dù.
Vì thiết bị tưới nước rất đa dạng, địa hình ở các vùng trồng cũng khác nhau, độ dốc của đất, lượng nước có sẵn cũng khác nhau. Các cách tưới phổ biến cũng giống như tưới cho cây ăn quả, có 2 cách tưới chính. - Hệ thống tưới phía trên cây có thể di động, bán di động hoặc cố định - Hệ thống tưới dưới gốc cây gồm bình phun loại nhỏ, máy tưới bé, tưới kiểu nhỏ giọt hoặc tưới vào bồn. Tất cả các cách tưới trên đều được sử dụng để tưới Tông dù.
Mỗi kiểu đều có mặt ưu, mặt nhược tương quan về các mặt giá đầu tư, yêu cầu về lao động, chi phí cho vận hành, hiệu suất sử dụng nước, dễ vận hành và bảo quản, hoặc tính linh động trong khi sử dụng. Cách lựa chọn các phương pháp tưới khác nhau phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện thực tế (như vốn đầu tư, nhân 7 công, địa hình, lượng nước có sẵn trong thiên nhiên, chất lượng, độ cơ giới và những đặc điểm về kỹ thuật của trang thiết bị) trong từng giai đoạn riêng biệt. * Tưới nhỏ giọt Trong những năm gần đây kỹ thuật tưới nhỏ giọt được đánh giá cao về mặt tiết kiệm nước. Hệ thống tưới gồm có máy bơm, bể chứa phân bón, máy lọc, đường ống dẫn, vòi nhỏ giọt (dripper) và các van phân phối nước.
Trong kỹ thuật tưới nhỏ giọt, nước được cung cấp cho từng khoảnh đất trên cánh đồng và tập trung ở phần hoạt động chủ yếu của bộ rễ cây trồng.