Đặt vấn đề Rừng là di sản của mỗi quốc gia, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống con người. Ngoài khả năng cung cấp gỗ, củi và dược liệu,… Rừng còn có vai trò to lớn trong việc bảo vệ đât, nước, không khí và tạo nên sự cân bằng sinh thái và sự phát triển bền vững của sự sống trên trai đât. Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên và sự phong phú về các loài sinh vật. Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng ngập nước ngọt,.
Bảo vệ và phát triển rừng có vai trò rất quan trọng trong việc chống biến đổi khí hậu và hạn chế các thiên tai của tự nhiên.Bên cạnh vấn đề trồng rừng để phủ xanh đất trống đồi núi trọc. Chúng ta cũng cần chú ý đến việc bảo tồn, khai thác và phát triển các nguồn gen quý hiếm. Sa mộc dầu(Cunninghamia konishii Hayata) là nguồn gen quý hiếm được phân hạng ở cấp VUtrong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và xếp nhóm 2 trong danh lục thực vật rừng động vật rừng nguy cấp quý hiếm của Nghị định số 32/2006/ND/CP của Chính phủ. Loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao.
Gỗ Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) là loại bền, ít mối mọt, có hoa vân, màu sắc rất đẹp và rất được ưa dùng để làm các đồ thủ công mỹ nghệ, làm các vật dụng trong gia đình, làm nhà nên đang là đối tượng bị khai thác mạnh và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời. 2 Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu, đặc biệt là việc nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm, góp phần giải quyết các các vấn đề cung cấp được loại giống tốt nhất mà cây giống không bị bệnh, sâu hai, tỷ lệ sông cao hay tỷ lệ xuất vườn cao đang đặt ra cho công tác bảo tồn một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ tưới nước đến sinh trưởng của cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) giai đoạn vườn ươm tại Trường Đại họcNông Lâm Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở cho sản xuất cây con phục vụtrồng rừng nhằm phát triển loài cây Sa mộc dầu. Mục tiêu nghiên cứu Xác định được chế độ tưới nước phù hợp nhất cho sinh trưởng của cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm.Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa trong học tập + Việc nghiên cứu đề tài có ý nghĩa to lớn trong việc áp dụng lý thuyết đã học vào thực tiễn, đây là một phương pháp hệ thống củng cố những kiến thức đã học trong mấy năm qua.
+ Củng cố được kiến thức cơ sở cũng như chuyên ngành, sau này có điều kiện tốt hơn để phục vụ công tác phát triển ngành lâm nghiệp nước nhà. + Giúp cho sinh viên bước đầu làm quen,hiểu thêm về kiến thức phục cho công tác điều tra ngoài thực tế,vận dụng cả lý thuyết và thực hành nhằm đạt kết quả và chất lượng cao trong quá trình học tập tại nhà trường. 3 + Qua nghiên cứu đề tài để làm tiền đề cho mỗi sinh viên sau khi ra trường nắm được một số kiến thức vững vàng bước sang giai đoạn phục vụ Đảng,Nhà nước trên các cương vị khác nhau. * Ý nghĩa trong nghiên cứu khoa học + Tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp xúc, làm quen với thực tế công tác nghiên cứu khoa học.
+ Góp phần hoàn chỉnh dữ liệu khoa học về việc nghiên cứu chuyên sâu loài cây quý hiếm Sa mộc dầu. + Qua kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để lựa chọn tỷ lệ sống, tỷ lệ xuất vườn cây sa mộc dầu. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Áp dụng kết quả nghiên cứu để đưa ra chế độ tưới nước hợp lý nhất trong chăm sóc cho loài cây Sa mộc dầu trong giai đoạn vườn ươm, giúp cho cây sinh trưởng nhanh, đảm bảo số lượng, chất lượng cây con, góp phần tăng tỷ lệ xuất vườn, giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở khoa học nghiên cứu Vai trò của nước đối với cây Nước là thành phần quan trọng cấu trúc nên chất nguyên sinh. Nước chiếm trên 90% khối lượng của chất nguyên sinh và nó quyết định tính ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh chất. Bình thường chất nguyên sinh ở trạng thái sol biểu hiện hoạt động mạnh.Nếu mất nước thì hệ keo nguyên sinh chất có thể chuyển sang trạng thái solchuyển sang gel làm giảm mức độ hoạt động sống của tế bào và của cây. Nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đối với tất cả các cơ thể sống.
Với thực vật, khi hàm lượng nước trong tế bào giảm, một loạt chức năng sinh lý quan trọng như quang hợp, hô hấp sẽ bị kìm hãm và do đó ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây. Nước không chỉ đóng vai trò như một dung môi, một chất phản ứng mà nước còn tham gia vào cấu trúc của tế bào. Ngoài những vai trò quan trọng trên, nước còn là một yếu tố nối liền cây với môi trường bên ngoài và điều hoà nhiệt độ của cây Nước tham gia và các phản ứng hóa sinh, các biến đổi chất trong tế bào. Nước là dung môi đặc hiệu cho các phản ứng, vừa tham gia trực tiếp vào các phản ứng trong cây.
Nước cung cấp điện tử H+ cho việc khử CO2 trong quang hợp, tham gia oxy hóa nguyên liệu hô hấp, tham gia quá trình phản ứng thủy phân… Nước hòa tan các chất hữu cơ và các chất khoáng rồi vận chuyển đến tất cả các cơ quan cần thiết trong toàn cơ thể và tích lũy vào cơ quan dự trữ. Có thể nói nước là mạch máu lưu thông đảm bảo khâu điều hòa và phân phối vật chất trong cây, quyết định việc hình thành năng suất và kinh tế của cây trồng. 5 Nước đóng vai trò rất quan trọng đối với thực vật, nhất là giai đoạn vườn ươm. Việc cung cấp nước cho cây con đòi hỏi cần phải đủ về số lượng.
Sự dư thừa hay thiếu hụt nước đều không có lợi cho cây con. Hệ rễ cây con trong bầu cần cân bằng giữa lượng nước và dưỡng khí để sinh trưởng. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, Sa mộc dầu phân bố chủ yếu ở Trung Quốc, Đài Loan và Lào.Năm 1950 tại Đài Loanđã có một số nghiêm cứu gây trồng câyvê cây Sa mộc dầu. Từ đó đến nay, các kỹ thuật gây trồng đã được các nhà khoa học Đài Loan nghiên cứu một cách hệ thống.
Tính chất cơ lý và sử dụng gỗ của loài cây này cũng được nghiên cứu. Ảnh hưởng của chế độ nước đến sinh trưởng của cây đã được đề cập ở mức độ tế bào trong những nghiên cứu của Kramer (1983), Wang và cộng sự (1988), Sands và Mulligan (1990) vv… Về mặt hình thái, Boyer (1968) cho rằng sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với chế độ tưới nước, khi thiếu nước lá cây thường nhỏ. Tổng trọng lượng khô của của Bạch đàn Eucalyptus globulus bị giảm nhiều trong điều kiện thiếu nước, nguyên nhân do sự phát triển của lá mới bị hạn chế dẫn đến tổng diện tích lá giảm (Metcalfe và cộng sự, 1989). Đối với loài thông đỏ sự nảy chồi và tỷ lệ sống bị giảm rất nhiều trong điều kiện độ ẩm không khí thấp.
Rễ của loài này cũng có xu hướng ngừng phát triển khi bị thiếu nước (Wilcox, 1968) [13]. Tình hình nghiên cứuViệt Nam Ở Việt Nam Sa mộc dầu được tìm thấy ở Hà Giang (TâyCônLĩnh), Thanh Hoá (Xuân Liên) và NghệAn (Pù Hoạt, Pù Huống, Pù Mát, Kỳ Sơn). Ngoài tập “Sách đỏViệt Nam - phần thực vật” thống kê số loài có nguy cơ tuyệt chủng của cả nước [2], thì các công trình nghiên cứu về loài có nguy cơ tuyệt chủng ở từng vùng và khu vực cụ thể còn rất ít. Một số công trình đáng chú ý là: Nguyễn Thị Yến [11] khi nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính 6 đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 20 loài thực vật quý hiếm,trong đó có 15 loàiở mức sẽ nguy cấp (VU) và 5 loài ở mức nguy cấp dựa theo những thứ hạng và tiêu chuẩn của sách đỏViệt Nam (2007) và IUCN.
Hoàng Thị Thanh Thúy[9] khi nghiên cứu hiện trạng hệ thực vật ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng đã thống kê và lập danh mục số loài thực vật quý hiếm ở khu Bảo tồn thiên nhiên Thần Sa - Phượng Hoàng gồm có 44 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam và 22 loài có tên trong nghị định số 32/2006/ND-CP. Tại Nghệ An nghiên cứu đã được tiến hành để xác định toàn bộ khu vực phân bố của loài Sa mộc dầu trong tỉnh và nghiên cứu cácđặcđiểm sinh học và sinh thái của loài. Nghiên cứu tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Nghệ An cho thấy tình hình tái sinh của Sa mộc dầu rất kém. Ở Việt Nam, cây Sa mộc dầu có kích thước quần thể nhỏ, phân bố hạn chếở các tỉnh miền núi phía Bắc và việc phá rừng làm nương rẫy thời gian trước đây đã khiến cho loài này trở nên nguy cấp.
Do kích thước các quần thể nhỏ, phân bố hạn chếở một sốđịa điểm tại ba tỉnh và và các khu rừng này bị phá do phát nương làm rẫy nên loài này đáp ứng tiêu chuẩn IUCN 2001 ở mức sắp bị tuyệt chủng. Tómlại, nhữngnghiên cứu về các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta còn rất ít. Do nhiều nguyên nhân khác nhaumà số lượng các loài động thực vật có giá trị đang bị giảm sút, bị đe dọa và có nguy cơ tuyệt chủng. Ở nước ta, mối quan hệ giữa nước và thực vật cũng đã được nghiên cứu (Hoàng Xuân Tý, 1998; Nguyễn Văn Vụ, 1989).