MỞ ĐẦU Cây thuốc, dƣợc liệu dân gian nhiều ngƣời biết đến về các giá trị của chúng thiế t th ực cho cộng đồng trong việc chữa bệnh ngoài ra nó còn có giá trị bảo tồn nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dƣợc học. Việt Nam là nƣớc nhiệt đới có nguồn tài nguyên động thực vật đa dạng. Có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sự sinh trƣởng và phát triển của cây Sơn đậu căn. Cây Sơn đậu căn chủ yếu đƣợc trồng ở vùng núi cao và duy trì rải rác ở một số vùng và các trung tâm, trạm trại của Viện Dƣợc liệu.
Sơn đậu căn là loại cây quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lƣợng không đáng kể, lại thƣờng bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu căn có tên trong sách đỏ Việt Nam. Ở Việt Nam, Sơn đậu căn có ở: Hạ Lạng, Trùng Khánh tỉnh Cao Bằng; Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ tỉnh Hà Giang; các đảo thuộc Vịnh Hạ Long tỉnh Quảng Ninh; Nho Quan tỉnh Ninh Bình; Sơn Trà tỉnh Đà Nẵng. Sơn đậu căn (Sophora tonkinensis Gapnep) là cây dƣợc liệu đƣợc dùng để làm thuốc có giá trị về nhiều mặt, cây có những công dụng chữa nhiều bệnh nhƣ thanh nhiệt giải độc, tiêu sƣng giảm đau, thông tiện. Ngoài ra còn trị ung thƣ phổi, bệnh bạch huyết, chữa chứng ác tính, ung thƣ bàng quang, viêm họng, viêm amidal,… Về phƣơng diện nào đó, cũng nhƣ cây xanh, nó có ý nghĩa rất lớn,chi phối các yếu tố khí hậu, tạo môi trƣờng trong lành, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân.
Để phục vụ cho việc tạo cảnh quan môi trƣờng và việc cung cấp dƣợc liệu quý trong y học thì công tác tạo ra giống là hết sức quan trọng. Trong những năm gần đây, các trung tâm nghiên cứu giống cây trong cả nƣớc đã tiến hành nghiên cứu về chọn giống, tạo giống, khảo nghiệm giống cây trồng cho nhiều loài cây đã đạt một số kết quả bƣớc đầu nhất định. Nhân giống c 2 bằng gieo hạt là phƣơng thức nhân giống đƣợc dùng rộng rãi cho một số loài cây nhƣ cây rừng, cây ăn quả, cây dƣợc liệu. Là phƣơng pháp có hệ số nhân giống cao, phù hợp với quy mô lớn và sản phẩm cuối cùng cho một số lƣợng cây giống đồng đều.
Cây Sơn đậu căn là loài cây sinh trƣởng tốt, có khả năng chống chịu với điều kiện tự nhiên. Cây có ý nghĩa rất lớn trong môi trƣờng và trong y học vì vậy việc nghiên cứu nhân giống cho cây Sơn đậu căn bằng phƣơng pháp nào để cây ra rễ phát triển tốt là điều cần thiết. Nhân giống bằng gieo hạt có ƣu điểm nhanh tạo ra cây con, cây tạo ra đồng loạt, cùng kích cỡ, độ tuổi nhân giống nhanh, đơn giản, cây thích nghi tốt, bộ rễ khỏe. Ngoài ra còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố nhƣ giá thể, điều kiện ngoại cảnh, chất kích thích…, nhƣng sử dụng loại thuốc nào, nồng độ bao nhiêu thời gian bao nhiêu thích hợp với khả năng ra rễ của cây lại là một vấn đề cần đƣợc nghiên cứu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế phát triển cây Sơn đậu căn cùng công tác nghiên cứu em thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nảy mầm và sinh trưởng của cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vườn ươm tại Phia Đén, xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”. Mục đích và mục tiêu của đề tài 1. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu mức độ ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh đến khả năng nảy mẩm và sinh trƣởng cây của cây con Sơn đậu căn trong giai đoạn vƣờn ƣơm. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của chất kích thích sinh trƣởng và số lần dùng chất kích thích để xử lí đến thời gian nảy mầm và tỉ lệ nảy mầm của hạt giống cây Sơn đậu căn.
c 3 - Đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của chất kích thích sinh trƣởng đến khả năng sinh trƣởng của cây Sơn đậu căn trong giai đoạn vƣờn ƣơm. Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học Vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực hành, giúp sinh viên làm quen với điều kiện thực tế, rèn luyện kĩ năng thực hành, bƣớc đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các công trình nghiên cứu tiếp theo để chọn lọc và xây dựng quy trình kĩ thuật, góp phần bổ sung thêm tài liệu khoa học cho quá trình nghiên cứu về cây Sơn đậu căn ở nƣớc ta. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở thực tiễn cho công tác nhân giống loài cây Sơn đậu căn bằng gieo hạt trên địa bàn Phia Đén nói riêng và Cao Bằng nói chung cùng với một số nơi tƣơng tự.
c 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Cơ sở khoa học về cây Sơn đậu căn Cây sơn đậu căn tên khoa học là Pophora subprosrlata Chu etT. Sơn đậu căn thuộc loại cây bụi họ đậu, mọc thẳng đứng hoặc nằm sát mặt đất, rễ cây có vị đắng, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, giảm đau. Chủ trị trong các trƣờng hợp phát nóng, ho đau cổ họng, hoàng đản cấp .Sơn đậu căn nói riêng là một trong những cây có những nhu cầu nhất định về môi trƣờng và dinh dƣỡng, do có tính đa dạng về điều kiện sinh thái khí hậu của các mùa trong năm làm cho cây ngừng sinh trƣởng phát triển trong một thời gian nhất định, Việc trồng cây Sơn đậu căn phải phù hợp với điều kiện khí hậu thời tiết, đất đai giống và các kỹ thuật trồng trọt. Cơ sở nhân giống bằng gieo hạt - Nhân giống hữu tính là nhân giống bằng cách gieo hạt.
Đây là phƣơng pháp đơn giản, dễ làm và đƣợc áp dụng phổ biến vì dễ thực hiện và số lƣợng cây con nhiều để trồng không tốn công sức và thời gian. - Các phƣơng pháp gieo hạt : + Gieo hạt trên luống đất: hạt đƣợc gieo theo hàng hoặc theo hốc ,gieo trực tiếp trên luống đất. + Gieo ƣơm hạt trong bầu: Hạt giống đƣợc gieo trực tiếp vào trong túi bầu. Hạt giống thƣờng đƣợc xử lý và ủ cho nứt nanh rồi mới tiến hành gieo.Hỗn hợp trong bầu là đất + phân chuồng hoai mục với tỉ lệ 1 m3 đất + 200 đến 300 kg phân chuồng hoai mục + 5 đến 10 kg supe lân .Trƣớc khi gieo hạt vào bầu xử lý hạt bằng cách ngâm hạt trong chất kích thích sinh trƣởng để rút ngắn thời gian nảy mầm và tỉ lệ hạt nảy mầm cao.Hạt phải đƣợc chăm sóc thƣờng xuyên nhƣ tƣới nƣớc làm giàn che để tránh thời tiêt thất thƣờng.
Cơ sở khoa học về chất kích thích sinh trưởng - Những hóa chất có khả năng điều khiển đƣợc sinh trƣởng và phát dục của cây trồng đƣợc gọi là chất kích thích sinh trƣởng hay chất điều hòa sinh trƣởng. - Ảnh hƣởng của các chất kích thích sinh trƣởng đến sự ra rễ của hạt đƣợc rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Nhƣ chúng ta đã biết, trong cây trồng luôn tiềm ẩn các chất kích thích giúp cây trồng có thể sinh trƣởng và kích thích khả năng sinh trƣởng song nếu chúng ta muốn tăng hàm lƣợng các chất kích thích thì có thể nhúng ngập vết cắt hạt giống. Do vậy bằng con đƣờng tổng hợp con ngƣời đã sản xuất ra rất nhiều chất có tính chất sinh lý có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của hạt giống.
Trong các thập kỷ 30 và 40 các nhà khoa học đã lần lƣợt tổng hợp ra: Auxin, IAA, IBA, NAA. - Chất điều hòa sinh trƣởng NAA là chất điều tiết sinh trƣởng thực vật có tác dụng rộng, kích thích sinh trƣởng của cây, tăng chiều cao, tăng sinh khối và tăng năng suất cây trồng, thúc đẩy sự phân bào và hình thành rễ nhánh, rễ lá của cành giâm, cành chiết, dùng để tăng tốc độ giâm trồng 2. Cơ sở thực tiễn Xác định đƣợc chất kích thích sinh trƣởng đến tỉ lệ nảy mầm, thời gian nẩy mầm và sinh trƣởng của hạt giống cây Sơn đậu căn.3 Nguồn gốc phân bố Vào năm 973 trƣớc công nguyên (973 AD),cây Sơn đậu căn lần đầu tiên đƣợc ghi nhận trong Kaibao Bencao [12]. Theo Skottsberg (1920) [11]; Rodriguez et.
(1983) [8] Sơn đậu căn mọc tự nhiên ở vùng núi cao và một số đảo. Theo Gana (1870) [9]; Palmer (1870) [10]; Pinnart (1877) [10], Sơn Đậu mọc tự nhiên bên trong và sƣờn của núi lửa Rano Kao. Sơn đậu căn là loài quý hiếm, phân bố hẹp, trữ lƣợng không đáng kể, lại thƣờng bị chặt phá bừa bãi, nên Sơn đậu căn có tên trong sách đỏ Việt Nam, mức độ đe dọa bậc T(bị đe dọa). c 6 Cây Sơn đậu căn là cây có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm ,thƣờng mọc trong các núi đá vôi và trên sƣờn dốc các đồi, Sơn đậu căn mọc hoang dại đã đƣợc tìm thấy ở phía Tây Nam Trung Quốc và các tỉnh miền Bắc ở nƣớc ta.
Phân bố ở Việt Nam: Hà Giang (Mèo Vạc, Yên Minh, Quảng Bạ), Cao Bằng, Đà Nẵng (Sơn Trà), Ninh Bình (Nho Quan), Quảng Ninh (các đảo thuộc Vịnh Hạ Long),Lâm Đồng, Đồng Nai…[13]. Phân bố ở Trung Quốc: Quảng Đông, Quý Châu, Giang Tây (từ Tây Nam sang Tây Bắc) và một số nƣớc vùng Đông Nam Á (Ấn Độ, Thái Lan và Inđônêxia) [7]. Giá trị sử dụng cây sơn đậu căn Sơn đậu căn dùng rễ cây, nên chọn loại rễ to bằng ngón tay màu hơi nâu ở trong màu trắng. Vị thuốc Sơn đậu căn đƣợc thu hoạch vào mùa thu.
Theo Trung Y: Lấy rễ khô ngâm nƣớc 4 – 5 ngày, rửa sạch, bỏ hết tạp chất, rễ nhỏ cắt khúc, rễ to chẻ đôi, ủ độ 4 – 5 ngày cho mềm, thái lát mỏng 1 – 2 ly phơi khô. Rễ to, nhỏ trộn lẫn với nhau mà dùng. Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ủ mềm 4 – 5 ngày, thái lát mỏng 1 – 2 ly. Còn có thể ngậm vào miệng hoặc mài ra uống.
Sơn đậu căn có tác dụng: Trị viêm amidan, viêm họng, sốt cao, nuốt đau, trị viêm amidan cấp tính, trị viêm họng đau họng,. Một số đặc điểm sinh học của cây Sơn đậu căn 2. Đặc điểm thực vật học Cây bụi cao 0,5 - 0,2 m, có nhánh nhăn, có lông nằm ngắn. Lá chét 5 - 7 mọc đối, nguyên, mép hơi lƣợn sóng hay có răng, dài 6 -15 cm, rộng 3 - 8 cm, tù ở gốc, nhọn ở đầu, nhẵn ở trên, có lông ở mặt dƣới; gân bên 9 đôi; cuống lá chét 2 - 5 mm; lá kèm 3 mm.