MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây Dạ hƣơng tên thƣờng gọi: Dạ hƣơng còn gọi là Dạ lý hƣơng, tên khoa học: Cestrum nocturnum L. Họ khoa học: thuộc họ Cà - Solanaceae. Cây Dạ hƣơng thuộc nhóm cây nhỡ hơi trƣờn, cao 2-4m, vỏ xám trắng.
Lá đơn mọc so le, hình bầu dục, dài 5-8cm, đầu nhọn, gốc thuôn đầu thành cuống ngắn, không lông, gân phụ 5-7 cặp. Chuỳ hoa ở nách lá hay ở ngọn. Hoa vàng vàng hay trắng xanh; đài ống dài bằng thuỳ đài; tràng dài 2 cm, thuỳ cánh dài 4-5mm; nhị 5, đính ở gần miệng ống. Quả mọng tròn dài, màu trắng.
Bộ phận dùng: Lá - Folium Cestri Nocturni. Nơi sống và thu hái: Cây của Nam Mỹ đƣợc trồng làm cảnh vì mọc khoẻ, ra nhiều chồi; cành nhánh mọc dày; lại có hoa thơm ngào ngạt về đêm. Có thể thu hái lá quanh năm. Thành phần hoá học: Hoa chứa tinh dầu.
Vị thuốc Côn bố (Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị.) Công dụng, chỉ định và phối hợp: Theo một số tác giả thì lá có lẽ độc, đƣợc dùng trị kinh phong (giật gân) [19]. Cây hoa dạ hƣơng tức là cây hoa thơm về đêm, trong các loài hoa, có lẽ hoa Dạ hƣơng là loài hoa khiêm nhƣờng nhất. Những chùm hoa Dạ hƣơng vàng nhạt rủ trong khóm lá xanh mềm mại nhƣng thô không gây nổi một rung cảm nào với ngƣời thƣởng hoa. Chỉ có mùi thơm ngào ngạt là làm ngây ngất lòng ngƣời.
Nhƣng cũng tiếc thay, hoa chỉ nở về đêm, và mùi hƣơng chỉ dâng hiến cho đời khi mọi vật đã chìm vào đêm tĩnh lặng. Nhƣ vậy cây Dạ hƣơng vừa có tác dụng làm thuốc và trồng làm cây cảnh, nên đƣợc nhiều ngƣời quan tâm, nhân rộng. h 2 Xuất phát từ giá trị nêu trên, nên đƣợc nhiều ngƣời dân trồng, để đáp ứng đƣợc nguồn giống cây Dạ hƣơng có thể tạo ra bằng phƣơng pháp nhân giống vô tính. Giâm hom là một trong những biện pháp nhân giống, tuy nhiên trong nhân giống bằng hom có nhiều yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng ra rễ của hom giâm.
Chất IAA là một trong những chất kích thích cho hom ra rễ trong nhân giống bằng hom, nhƣng ở nồng độ bao nhiêu thì phù hợp là một vấn đề cần nghiên cứu. Xuất phát từ vấn đề trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của chất kích thích ra rễ IAA đến sự hình thành cây hom Dạ hƣơng (Cestrum nocturnum L.,) tại trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.2 Mục đích nghiên cứu Góp phần tạo giống cây con Dạ hƣơng cung cấp cho trồng cây phong cảnh, cải thiện môi trƣờng sống, dƣợc liệu. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc nồng độ thuốc kích thích ra rễ IAA thích hợp nhất cho giâm hom cây Dạ hƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Là tài liệu trong học tập, cho những nghiên cứu tiếp theo và là cơ sở trong những đề tài nghiên cứu trong các lĩnh vực có liên quan. - Giúp cho sinh viên áp dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Có đƣợc kỹ năng nhân giống cây bằng phƣơng pháp giâm hom. - Áp dụng kết quả nghiên cứu trong nhân giống cây Dạ hƣơng bằng phƣơng pháp giâm hom.
h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của phƣơng pháp nhân giống bằng hom Theo nghĩa rộng thì nhân giống sinh dƣỡng bao gồm nhân giống bằng hom, chiết cành, ghép cây, nuôi cấy mô phân sinh,…. Trong các biện pháp sinh sản vô tính, giâm hom là hình thức phổ biến nhất và là một trong những công cụ có hiệu quả cho việc lƣu giữ, bảo vệ và duy trì giống cây rừng. Bởi chúng có các đặc điểm sau: - Giâm hom có thể dùng hom thân, hom cành, hom rễ toàn những nguyên liệu sẵn có, dễ làm, dễ thao tác.
- Nhân giống bằng hom cho hệ số nhân giống lớn, tƣơng đối rẻ tiền, nên đƣợc dùng phổ biến cho trong nhân giống cây rừng, cây cảnh và cây ăn quả. - Cây hom mặc dù không giữ đƣợc các đặc trƣng hình thái giải phẫu nhƣng lại giữ đƣợc các đặc điểm di truyền mong muốn của cây mẹ [6]. Đặc biệt đối với một số cây lâm nghiệp có hình thức lai xa thì nó còn giúp giữ các tính trạng tốt ở đời F1, tránh phân ly ở đời F2 và nhƣ vậy chúng có hệ số biến động nhỏ hơn cây sinh sản hữu tính bằng hạt. Cơ sở tế bào của sự hình thành rễ bất định Rễ bất định là rễ sinh ra ở bất kỳ bộ phận nào của cây ngoài hệ rễ của nó.
Có 2 loại rễ bất định là rễ tiềm n và rễ mới sinh. Rễ tiềm n là rễ có nguồn gốc tự nhiên trong thân, cành cây nhƣng chỉ phát triển khi đoạn thân, đoạn cành tách khỏi thân cây. Rễ mới sinh là loại rễ chỉ hình thành khi đƣợc cắt hom, nó là hậu quả của phản ứng với vết cắt. h 4 Nghĩa là khi cắt hom thì các tế bào sống tại vết cắt bị tổn thƣơng và các tế bào dẫn truyền đã chết của mô gỗ đƣợc hở ra và gián đoạn các chất dinh dƣỡng đƣợc tổng hợp từ ngọn lá đi xuống tới chỗ vết cắt.
Quá trình nguyên phân x y ra theo 3 bƣớc tạo thành các mô sẹo, là cơ sở của sự hình thành 1 lớp tế bào bị thối trên bề mặt, vết thƣơng đƣợc đậy lại bằng lớp keo bảo vệ, lớp keo bảo vệ này giúp mặt cắt khỏi bị thoát hơi nƣớc. Các tế bào sống ở ngay dƣới lớp tế bào bảo vệ, lớp tế bào bảo vệ đó bắt đầu phân chia sau khi vết cắt đƣợc vài ngày và có thể hình thành một lớp mô mềm (Callus). Các tế bào lân cận của vùng tƣợng tầng mạch và libe gỗ bắt đầu hình thành rễ bất định. Chính vì vậy việc giâm hom cành để hình thành bộ rễ mới là quan trọng nhất, sau đó là số lƣợng rễ/hom và chiều dài rễ.
Cơ sở sinh lý của sự hình thành chồi và rễ bất định Có rất nhiều nhân tố ảnh hƣởng tới tỷ lệ ra rễ trong quá trình giâm hom, về cơ bản có thể chia thành 2 nhóm là: Các nhân tố nội sinh và nhóm cá nhân tố ngoại sinh [6]. * Các nhân tố nội sinh: + Đặc điểm di truyền loài: Nhiều nghiên cứu cho thấy không phải tất cả các loài cây đều có khả năng ra rễ nhƣ nhau. Do đặc điểm di truyền, biến dị, các xuất xứ và các cá thể khác nhau cũng có khả năng ra rễ khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau (D.matin,1974, Nauda,1977) đều đi đến kết luận là: Các loài khác nhau có đặc điểm ra rễ khác nhau.
Các tác giả này đã dựa vào khả năng ra rễ, (theo Qujada,1985 và Nauda,1970) để chia ra các loại cây gỗ thành 3 nhóm [6]: h 5 - Nhóm dễ ra rễ, bao gồm: Các loại không cần xử lý bằng chất kích thích ra rễ vẫn ra rễ với tỷ lệ cao, nhóm này gồm các loài nhƣ: Đa (Ficus hoxb), Sung (F.glonerala) rất dễ ra rễ. Một số loài khác nhƣ Dƣơng (Populus), Liễu (Salix), Lõi thọ thuộc nhóm dễ ra rễ. Một số loại thuộc họ Bambusaccac nhƣ tre, vầu, luồng đƣợc trồng bằng hom thân không cần xử lý chất kích thích ra rễ. - Nhóm ra rễ trung bình: bao gồm các loài chỉ cần xử lý bằng chất kích thích ra rễ với nồng độ thấp cũng có thể ra rễ với tỷ lệ cao.
Nhóm này gồm các loài nhƣ Bạch đàn (E camaldunensis, E.Teretcomis), Thông (Pinusssco carpa, P.) - Nhóm khó ra rễ bao gồm: Các loại hầu nhƣ không ra rễ hoặc là phải dùng đến hóa chất kích thích ra rễ vẫn cho tỷ lệ ra rễ thấp là các loại thuộc nhóm này gồm SWietenia, Macro phylla, Padoearpus, Rigfrighiosi, các loài thuộc chi Casttanea, fagus, Franxinus, Liriodddendron, Guercus, Tilia, Arucaria ở nƣớc ta loài bách tán cũng thuộc loại rất khó ra rễ. + Đặc điểm di truyền của từng xuất xứ, từng cá thể: Trong 1 loài, các xuất xứ khác nhau có tỉ lệ ra rễ khác nhau.Camaldulensis có xuất xứ Victroria River là 60%, còn E.Camaldulensis xuất xứ Gibb River là 85%, còn xuất xứ Nghĩa Bình là 35% [5]. + Đặc điểm cá thể: Trong một xuất xứ các cá thể khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau. Trong số 15 cây Phi lao (Casurinacquisetifolia) 1 tuổi có 9 cây ra rễ 100%, 5 cây ra rễ từ 53-87% [1].
+ Tuổi cây mẹ và tuổi cành lấy hom: Tuổi cây mẹ có ảnh hƣởng rất lớn đến tỷ lệ ra rễ của hom, nhất là đối với các loài khó ra rễ. Nhìn chung, tuổi cây mẹ càng già thì tỷ lệ ra rễ của hom càng giảm. Cây Sao đen (Hopeaoddrta) 1 tuổi 70% ra rễ, 2 tuổi 50% ra rễ. Hom từ cây già không những có tỷ lệ ra rễ thấp có thời gian ra rễ dài hơn.
Ví dụ hom Mỡ 1 tuổi thời gian ra rễ là 80 ngày, trong lúc đó hom chồi bất định ở cây 8 tuổi là 120 ngày. Để giải thích tỷ lệ ra rễ thấp của hom giâm ở cây có tuổi cao thì Liubin ski (1957) cho rằng: ở cây nhiều tỷ lệ đƣờng tổng số trên đạm tổng số ở thân cây quyết định. Nói cách khác là do hàm lƣợng đạm ở thân cây giảm xuống, song có ngƣời cho rằng, sở dĩ cây có tuổi cao ra rễ kém là do tính mềm dẻo của cây bị giảm đi. Tuổi cành (hay trạng thái sinh lý của cành) cũng ảnh hƣởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, hom ở giai đoạn nửa hóa gỗ thích hợp cho việc ra rễ.
Hom quá non khi đặt vào môi trƣờng giâm hom dễ bị thối rữa, ngƣợc lại hom quá già khó ra rễ. + Vị trí lấy hom trên cây và trên cành: - Hom lấy từ cành ở các vị trí khác nhau, trên tán cây cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau, với Vân sam lá nhọn (Picea) hom từ phần trên của tán lá ra rễ tốt nhất, nhƣng với Vân sam Châu âu (P.excelga) thì ngƣợc lại, Phong trắng (Populus) khi hom hóa gỗ yếu tốt nhất là cắt hom ở phần dƣới tán, khi hom nữa hóa gỗ cắt hom ở phần giữa. Nhƣ vậy với mỗi loài cây vị trí lấy hom khác nhau có tỷ lệ ra rễ khác nhau. -Trên một cành hom đƣợc lấy ở các vị trí khác nhau cũng có tỷ lệ ra rễ khác nhau, với Bạch đàn một cành đƣợc chia làm 4 phần: Ngọn, sát ngọn, giữa và sát gốc.
Qua 2 lần thí nghiệm cho kết quả nhƣ sau: Hom ngọn có tỷ lệ ra rễ 54,6 - 61,6%, hom sát ngọn 71,6- 90,8%.