Đặt vấn đề Cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L.) Harms) thuộc họ Nhân sâm (Araliaceae) là một cây thuốc quý được sử dụng lâu đời trong y học cổ truyền Việt Nam. Nhiều nghiên cứu cho thấy tác dụng chữa bệnh và giá trị kinh tế của cây Đinh lăng (Polyscias fruticosa (L. Đặc biệt là rễ củ, đây là bộ phận chính có hàm lượng saponin triterpenoid và polyacetylen cao, có tác dụng tăng lực gần giống như nhân sâm, chống ung thư, chống trầm cảm và chống oxy hóa. Do vậy, gần đây ở Việt Nam xu hướng trồng Đinh lăng quy mô lớn đang tăng cao ở nhiều vùng nên nhu cầu về giống Đinh lăng ngày càng tăng.
Thông thường Đinh lăng được nhân giống chủ yếu bằng phương pháp giâm cành. Phương pháp này có hạn chế là hệ số nhân giống thấp, cành giâm thường 2 - 3 năm đầu chỉ cho rễ chùm, sau đó rễ cọc mới bắt đầu xuất hiện từ phần gốc của chồi tái sinh khiến thời tình từ lúc trồng đến khi thu hoạch được rễ củ phải mất khoảng 7 - 10 năm. Điều này dẫn đến tăng chi phí chăm sóc, giảm giá trị kinh tế và làm tăng giá thành sản phẩm của Đinh lăng. Do vậy, đối với các cây lấy củ nói chung và đặc biệt là Đinh lăng nói riêng, cách tốt nhất để rút ngắn thời gian thu hoạch cũng như là giảm giá thành dược liệu là sử dụng cây con từ nuôi cấy mô để có bộ rễ có khả năng phát triển thành rễ củ ngay từ đầu.
Bên cạnh đó, cây bắt nguồn từ nuôi cây mô luôn đảm bảo về độ đồng nhất về mặt di truyền đáp ứng được yêu cầu về độ đồng đều và tính ổn định cho sản xuất nguyên liệu dược trên quy mô thương mại. Quá trình nuôi cấy in vitro có rất nhiều yếu tố tác động đến sự phát sinh hình thái của cây và để xây dựng quy trình nhân giống in vitro cây Đinh lăng từ khâu vào mẫu đến khâu đưa trồng ra ruộng, trong đó nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến tất cả các giai đoạn của quy trình nuôi cấy là yếu tố chính quyết định sự thành bại của toàn bộ quy trình nuôi cấy. n 2 Xuất phát từ thực tiễn trên, để góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống in vitro cây Đinh lăng lá nhỏ, chúng tôi đề xuất đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến quá trình nhân nhanh in vitro cây Đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fructicosa (L. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài Nghiên cứu được ảnh hưởng của một số chất điều hòa sinh trưởng thực vật đến quá trình nhân nhanh in vitro cây Đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fructicosa (L. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu được ảnh hưởng của nồng độ BAP đến khả năng tái sinh in vitro Đinh lăng lá nhỏ. - Nghiên cứu được ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến khả năng nhân nhanh in vitro Đinh lăng lá nhỏ. - Nghiên cứu được ảnh hưởng của các chất kích thích sinh trưởng đến khả năng tạo cây Đinh lăng lá nhỏ hoàn chỉnh.
- Đánh giá được hiệu quả các công thức tạo rễ in vitro đến tỷ lệ sống của cây khi đưa ra điều kiện ex vitro. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xây dựng quy trình nhân giống cây Đinh lăng lá nhỏ bằng phương pháp nuôi cấy in vitro, là cơ sở nhân nhanh loài dược liệu có giá trị. Đề tài đã đưa ra được các minh chứng về tác động của các chất điều tiết sinh trưởng đến khả năng tái sinh chồi, hệ số nhân nhanh chồi, phát sinh rễ tạo cây hoàn chỉnh, tác động của giá thể đến khả năng sống và sinh trưởng của cây in vitro.
Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình nhân giống Đinh lăng lá nhỏ bằng phương pháp nuôi cây mô. Một phương pháp nhân nhanh cây giống n 3 sạch bệnh, góp phần đáp ứng được nhu cầu lớn về giống cây Đinh lăng trên thị trường hiện nay. Thực hiện đề tài giúp sinh viên hoàn thiện về cả kiến thức lý thuyết lẫn thực tiễn, mang lại những kinh nghiệm và tác phong làm việc khoa học cho công tác sau này. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu về chi Đinh lăng 2. Nguồn gốc và sự phân bố Chi Polyscias Forst & Forst là một chi trong thực vật có hoa thuộc Họ Cuồng cuồng (Araliaceae), chứa khoảng 114-150 loài (tùy theo quan điểm phân loại) trên thế giới, phân bố rải rác ở các vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới, nhất là một số đảo ở Thái Bình Dương [2]. Chúng có các lá dạng lông chim. Theo APG thì chi này là một nhóm cận ngành và có thể sẽ được chia tách (hoặc hợp nhất) với một số chi khác [52].
Tại Việt Nam có khoảng 4 loài: Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.), Đinh lăng ráng (Polyscias filicifolia (Merr) Baill.), Đinh lăng viền bạc (Polycias guilfoylei Baill), Đinh lăng lá nhỏ (Polyscias fructicosa (L. Vị trí phân loại Theo J. Các loài thuộc chi Polyscias có ở Việt Nam Nhiều loài cũng mang tên Đinh lăng nhưng không được sử dụng làm thuốc [2]. n 5 - Đinh lăng lá tròn (Polyscias balfouriana Bail.): Lá kép thường chỉ có 3 lá chét trên một cuống dài, lá chét hình tròn, đầu tù.
- Đinh lăng trổ hoặc viền bạc (Polycias guilfoylei Baill): Lá kép có 7 lá chét; lá chét thường có viền trắng. - Đinh lăng lá to hay lá ráng (Polyscias filicifolia (Merr) Baill.): Lá kép có 11 -13 lá chét; lá chét hình mác có răng cưa to và sâu. Đinh lăng lá tròn Đinh lăng viền bạc (Polyscias balfouriana Bail.1: Hình ảnh các loài Đinh lăng có ở Việt Nam n 6 2. Giới thiệu về cây Đinh lăng lá nhỏ 2.
Mô tả Cây nhỏ, xanh tốt quanh năm, có thể cao đến 2m. Thân nhẵn, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to, màu xám. Lá to, mọc so le, kép lông chim 2 - 3 lần, dài 20 -40 cm; lá chét có răng cưa nhọn, có mùi thơm khi vò nát; cuống lá dài, phát triển thành bẹ to ở cuối [2]. Cụm hoa tán tụ thành chùm ở ngọn cành.
Hoa nhỏ, đều, lưỡng tính. Cuống hoa hình trụ, màu xanh, dài 0,3-0,4 cm. Lá bắc tập hợp ở gốc cuống hoa (tổng bao lá bắc), hình tam giác nhọn. Bao hoa: Đài hoa thu hẹp chỉ còn 5 răng, đều, rời, dạng vảy màu xanh; 5 cánh hoa rời, đều, màu xanh, hình bầu dục thuôn nhọn ở đỉnh, dài 0,25-0,3 cm, rộng 0,1-0,15 cm, có gân giữa, tiền khai hoa van.
Bộ nhị: 5 nhị rời, đều, đính xen kẽ với cánh hoa; chỉ nhị dạng sợi mảnh, màu trắng, dài 0,1-0,15 cm; bao phấn 2 ô thuôn dài màu vàng, nứt dọc, hướng trong, đính gốc. Hạt phấn rời, hình cầu có 3 lỗ, màu vàng nhạt, đường kính 30-35 µm. Bộ nhụy: 2-3 lá noãn, bầu dưới 2 ô hay 3 ô, mỗi ô 1 noãn, đính noãn trung trụ; 2-3 vòi rời úp sát vào nhau, thẳng đứng, màu xanh đậm, dài 1 cm; đầu nhụy hình điểm. Quả hạch hình bầu dục mang trên đỉnh quả vòi nhụy tồn tại mọc choãi ra và đài tồn tại, vỏ quả màu xanh đậm có những nốt tròn màu xanh nhạt hơn, dài 4-6 mm, rộng 3-4 mm [54].
n 7 Cây bụi Chùm hoa Lá Lá chét Hình 2.2: Một số hình ảnh nhận dạng cây Đinh lăng lá nhỏ 2. Phân bố, sinh thái Đinh lăng có nguồn gốc ở vùng đảo Polynesie ở Thái Bình Dương. Cây được trồng ở Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào. Ở Việt Nam, Đinh lăng cũng có từ lâu trong nhân dân và được trồng khá phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện.
để làm cảnh, làm thuốc và rau gia vị [2]. Đinh lăng là loại cây ưa ẩm và có thể hơi chịu bóng, trồng được trên nhiều loại đất, thậm chí với một lượng đất rất ít trong chậu nhỏ, cây vẫn có thể sống được, theo kiểu cây cảnh bonsai. Trồng bằng cành sau 2-3 năm cây có hoa quả. Chưa quan n 8 sát được cây con mọc từ hạt.
Đinh lăng có khả năng tái sinh vô tính khỏe. Với một đoạn thân hoặc cành cắm xuống đất đều trở thành cây mới [54]. Bộ phận sử dụng Rễ củ Đinh lăng của những cây trên 3 năm tuổi thu hái vào mùa thu, lúc này rễ mềm, nhiều hoạt chất, rửa sạch. Rễ nhỏ để nguyên, rễ to chỉ dùng vỏ rễ.
Thái rễ mỏng, phơi khô ở chỗ mát, thoáng gió để đảm bảo mùi thơm và phẩm chất [2]. Thành phần hóa học Vỏ rễ và lá Đinh lăng chứa saponin, alcaloid, các vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 acid amin, glycosid, alcaloid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21,10% đường. Trong lá còn có saponin triterpen (1,65%), một genin đã xác định được là acid oleanolic [2]. Từ lá Đinh lăng, Trung tâm Sâm và dược liệu thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện Dược liệu đã phân lập được 5 hợp chất polyacetylen là panaxynol, panoxydol, heptadeca - 1,8 (E) - dien - 4,6 diyn - 3, 10 diol, heptadeca - 1,8 (E) - dien - 4,6 diyn - 3 ol - 10 on và heptadeca - 1,8 (Z) - dien dien - 4,6 diyn - 3 ol - 10 on.
Hai hợp chất sau chỉ có trong lá Đinh lăng mà chưa thấy có trong các cây thuộc chi Panax và họ Araliaceae. Trong rễ Đinh lăng cũng tìm thấy 5 hợp chất polyacetylen, nhưng chỉ có panoxydol, panaxynol và heptadeca - 1,8 (E) - dien - 4,6 diyn - 3,10 diol là trùng hợp với các chất trong lá. Ba chất này có tác dụng kháng khuẩn mạnh và chống một số dạng ung thư [2]. Tác dụng dược lý [2] Đinh lăng có các tác dụng tăng lực trên động vật thí nghiệm và trên người.
Thân và lá có tác dụng này, nhưng yếu hơn; làm tăng hiệu lực điều trị của cloroquin trong bệnh sốt rét thực nghiệm trên động vật; tăng co bóp tử cung và tăng tiết niệu; tác dụng an thần và ít độc. Đinh lăng đã được nghiên cứu và chứng minh có tác dụng nội tiết kiểu oestrogen. Nước sắc Đinh lăng có tác dụng kháng đối với trùng roi Euglena viridis, trùng tiêm mao Paramoecium caudatum và một số động vật nguyên sinh khác trong n 9 nước ngâm rơm và nước ao. Nước sắc Đinh lăng còn có tác dụng chống choáng phản vệ ở mức độ vừa, bảo vệ được 60% chuột lang qua cơn choáng.
Dựa theo kinh nghiệm dân gian, Đinh lăng được áp dụng điều trị bệnh nhân lỵ amip cấp.